Xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan

Xác định trước mã số, xác nhận trước xuất xứ và xác định trước trị giá hải quan đối với hàng hóa XNK là việc cơ quan Hải quan tiến hành trước khi làm thủ tục hải quan. Đây là quy định mới trong Dự thảo Luật Hải quan sửa đổi, nhằm giúp DN chủ động tính toán trước hiệu quả kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ; giúp cơ quan Hải quan tăng hiệu quả quản lý khi thực hiện thủ tục thông quan cho hàng XNK...
Theo Ban soạn thảo Luật Hải quan sửa đổi, trong tất cả các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đang tham gia đều có điều khoản cho phép cơ quan Hải quan ra nước ngoài điều tra, xác minh xuất xứ hàng hóa. Tuy nhiên, Luật Hải quan hiện hành chưa có quy định về việc cơ quan Hải quan tiến hành điều tra, xác minh xuất xứ tại nước XK, sản xuất.
Xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan
(Hoạt động nghiệp vụ tại Chi cục Hải quan Bắc Phong Sinh (Quảng Ninh). Ảnh: Q.H )
Trong khi đó, Luật Quản lý thuế đã bổ sung nội dung về quy định xác định trước. Việc xác định trước về mã số, xuất xứ không chỉ để xác định trước về thuế mà còn để có cơ sở áp dụng chính sách quản lý mặt hàng, áp dụng các yêu cầu quản lý của cơ quan Hải quan. Nội dung này không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Quản lý thuế.
Công ước Kyoto (Việt Nam đã tham gia) cũng như các cam kết quốc tế trong khuôn khổ WTO, ASEAN đều khuyến nghị cơ quan Hải quan cho  phép DN được áp dụng cơ chế phân loại trước về mã số, xác định trị giá tính thuế, xuất xứ hàng hoá trước khi làm thủ tục cho hàng hoá XNK. Đây là chuẩn mực quốc tế về tạo thuận lợi thương mại, giúp DN chủ động tính toán trước hiệu quả kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ; giúp cơ quan Hải quan tăng hiệu quả quản lý khi thực hiện thủ tục thông quan cho hàng XNK; hạn chế các trường hợp tranh chấp giữa DN và cơ quan Hải quan về việc áp mã, xác định giá tính thuế, xuất xứ hàng hoá khi làm thủ tục thông quan.
Vì các lý do nêu trên, dự thảo Luật Hải quan sửa đổi đã bổ sung quy định về xác định trước mã số, xác nhận trước xuất xứ, xác định trước trị giá hải quan.

Tại Chuẩn mực 9.9 Phụ lục tổng quát của Công ước Kyoto đã quy định rất cụ thể vấn đề này: Cơ quan Hải quan phải ban hành các phán quyết trước mang tính pháp lý theo yêu cầu của bên có liên quan, với điều kiện cơ quan Hải quan có tất cả những thông tin mà họ cho là cần thiết. 

Công ước Kyoto khuyến nghị cơ quan Hải quan cho phép DN được áp dụng cơ chế phân loại trước về mã số, xác định trị giá tính thuế, xuất xứ hàng hoá trước khi làm thủ tục XNK.

Công ước Kyoto khuyến nghị cơ quan Hải quan thực hiện chuẩn mực này nhằm cung cấp thông tin trước giúp DN chủ động và tạo thuận lợi cho quá trình tuân thủ của DN. Phán quyết trước do cơ quan Hải quan cung cấp theo đề nghị và dựa trên thông tin mà DN cung cấp. Hải quan một số nước đưa nội dung này thành quy định bắt buộc trong luật, một số khác coi đây là một cam kết. Phán quyết trước về thuế là đề nghị phổ biến nhất. Tuy nhiên, phán quyết trước về xuất xứ và trị giá cũng khá phổ biến. Thủ tục đối với các hình thức phán quyết trước  đều giống nhau.

Bên cạnh đó, cần có quy định cụ thể hoặc hướng dẫn về các thông tin DN phải cung cấp. Các thông tin tối thiểu phải nộp như sau: Tên và địa chỉ của người nộp đề nghị; toàn bộ chi tiết về hàng hóa ví dụ như mô tả thương mại, đặc tính tự nhiên, cấu tạo, chất lượng, giá, xuất xứ, mục đích sử dụng cuối cùng, đóng gói và quá trình sản xuất (nếu cần thiết); thông tin về các lần NK trước đó của người nộp đề nghị đối với hàng hóa cùng loại cùng với thuế suất đã được áp dụng; đơn vị Hải quan nơi hàng hóa sẽ được thông quan.

Cơ quan Hải quan có thể đề nghị DN gửi mẫu hàng hóa, nếu là mặt hàng phù hợp để lấy mẫu, hoặc gửi ảnh, kế hoạch, bản vẽ hoặc bản mô tả đầy đủ và chính xác.

Luật Hải quan New Zealand quy định (Điều 119): Cao ủy Hải quan phải ban hành phán quyết hải quan liên quan đến hàng hóa được quy định trong đơn yêu cầu và liên quan đến vấn đề hoặc các vấn đề thuộc phạm vi ban hành phán quyết trong trường hợp đơn yêu cầu được làm theo Điều 119 Khoản (1); hoặc ban hành phán quyết hải quan về vấn đề cụ thể nêu trong trường hợp đơn được làm theo Điều 119 Khoản (3).

Cao ủy Hải quan phải ban hành phán quyết hải quan theo quy định của Khoản (1) trong thời gian được quy định sau khi tiếp nhận.

Luật Hải quan Hàn Quốc:  Khoản 1 Điều 86 (Xem xét trước phân loại thuế suất có thể áp dụng đối với hàng hóa đặc biệt): Bất kỳ người nào muốn NK và XK hàng hóa, và đại lý khai thuê hải quan, công ty môi giới hải quan hoặc công ty xử lý thông quan (sau đây gọi là “đại lý khai thuê hải quan”) theo Luật Môi giới Hải quan được cấp phép, có thể áp dụng quyết định của Tổng cục trưởng  Hải quan Hàn Quốc đối với việc xem xét trước phân loại thuế quan trong Danh mục Biểu thuế có thể áp dụng đối với các hàng hóa với các chứng từ được quy định bởi Nghị định Tổng thống, trước khi quyết định NK và XK theo quy định tại Điều  241…

 

 

T.Trang/Báo Điện tử Hải quan