Phương án kéo dài hạn đăng ký giữ quốc tịch khó khả thi
- 17/05/2014
Thời gian còn lại của buổi làm việc sáng ngày 16/5, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến dự án Luật sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 13 Luật quốc tịch Việt Nam. Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường cho biết, Chính phủ đề xuất sửa đổi khoản 2 Điều 13 của Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 vì tỷ lệ rất thấp người đăng ký giữ quốc tịch 5 năm qua đã khiến quy định mang tính nhân đạo của Luật không phát huy được hiệu quả.
Thời gian còn lại của buổi làm việc sáng ngày 16/5, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến dự án Luật sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 13 Luật quốc tịch Việt Nam.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường cho biết, Chính phủ đề xuất sửa đổi khoản 2 Điều 13 của Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 vì tỷ lệ rất thấp người đăng ký giữ quốc tịch 5 năm qua đã khiến quy định mang tính nhân đạo của Luật không phát huy được hiệu quả.
Khi thời hạn đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam sẽ kết thúc vào ngày 1/7 tới, những người không đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam sẽ đương nhiên mất quốc tịch Việt Nam (khoản 3 Điều 26 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008). Sau này, nếu có nguyện vọng, họ phải làm thủ tục xin trở lại quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật.
Đồng tình với việc phải sửa đổi khoản 2 Điều 13, các Ủy viên Thường vụ Quốc hội băn khoăn và đề nghị Chính phủ làm rõ những nguyên nhân khiến việc thực hiện quy định đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam trong thời gian qua lại chỉ thu được kết quả hạn chế. Trên cơ sở đó đề ra được giải pháp xử lý trong thời gian tới.
Trên cơ sở nhận định việc đăng ký khó khăn, công tác tuyên truyền hạn chế, cơ quan đại diện kiêm nhiệm nhiều nước, nhiều ý kiến cho rằng phương án kéo dài thêm 5 năm thời gian đăng ký giữ quốc tịch như đề xuất của Chính phủ là khó khả thi.
Đề xuất việc sửa đổi khoản 2 Điều 13 Luật quốc tịch 2008, Chính phủ thừa nhận, tỷ lệ người đăng ký giữ quốc tịch còn thấp do nhiều người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã có quốc tịch nước sở tại, nên nhu cầu đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam của họ không thật sự cấp thiết, thậm chí ở các nước theo nguyên tắc một quốc tịch cứng, việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam có thể ảnh hưởng đến quy chế quốc tịch của họ ở nước sở tại, đến quyền lợi, công ăn việc làm, cư trú của họ; cộng đồng người Việt Nam định cư ở rất nhiều nước (khoảng trên 100 nước), một bộ phận trong số họ, nhất là ở các nước chưa có cơ quan đại diện của, có thể chưa biết đến quy định mới của Luật Quốc tịch năm 2008.
Bên cạnh đó, công tác ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật, nhất là Thông tư, Thông tư liên tịch, chưa kịp thời, làm cho việc triển khai đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam trên thực tế không bảo đảm được đúng thời gian Luật định.
Công tác phối hợp tổ chức triển khai thực hiện việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam giữa các bộ liên quan còn hạn chế; cơ chế liên thông, gắn kết giữa việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam với việc cấp hộ chiếu Việt Nam chưa được hướng dẫn rõ ràng.
Ủy ban Thường vụ nhấn mạnh đến giải pháp có tính quyết định cho quy định đăng ký giữ quốc tịch được thực hiện thuận lợi, nhanh chóng và có hiệu quả là phải tiến hành sửa đổi, bổ sung văn bản hướng dẫn theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tăng cường chỉ đạo công tác tuyên truyền, thông tin đến được với đông đảo người dân về quy định này./.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường cho biết, Chính phủ đề xuất sửa đổi khoản 2 Điều 13 của Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 vì tỷ lệ rất thấp người đăng ký giữ quốc tịch 5 năm qua đã khiến quy định mang tính nhân đạo của Luật không phát huy được hiệu quả.
Khi thời hạn đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam sẽ kết thúc vào ngày 1/7 tới, những người không đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam sẽ đương nhiên mất quốc tịch Việt Nam (khoản 3 Điều 26 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008). Sau này, nếu có nguyện vọng, họ phải làm thủ tục xin trở lại quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật.
Đồng tình với việc phải sửa đổi khoản 2 Điều 13, các Ủy viên Thường vụ Quốc hội băn khoăn và đề nghị Chính phủ làm rõ những nguyên nhân khiến việc thực hiện quy định đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam trong thời gian qua lại chỉ thu được kết quả hạn chế. Trên cơ sở đó đề ra được giải pháp xử lý trong thời gian tới.
Trên cơ sở nhận định việc đăng ký khó khăn, công tác tuyên truyền hạn chế, cơ quan đại diện kiêm nhiệm nhiều nước, nhiều ý kiến cho rằng phương án kéo dài thêm 5 năm thời gian đăng ký giữ quốc tịch như đề xuất của Chính phủ là khó khả thi.
Đề xuất việc sửa đổi khoản 2 Điều 13 Luật quốc tịch 2008, Chính phủ thừa nhận, tỷ lệ người đăng ký giữ quốc tịch còn thấp do nhiều người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã có quốc tịch nước sở tại, nên nhu cầu đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam của họ không thật sự cấp thiết, thậm chí ở các nước theo nguyên tắc một quốc tịch cứng, việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam có thể ảnh hưởng đến quy chế quốc tịch của họ ở nước sở tại, đến quyền lợi, công ăn việc làm, cư trú của họ; cộng đồng người Việt Nam định cư ở rất nhiều nước (khoảng trên 100 nước), một bộ phận trong số họ, nhất là ở các nước chưa có cơ quan đại diện của, có thể chưa biết đến quy định mới của Luật Quốc tịch năm 2008.
Bên cạnh đó, công tác ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật, nhất là Thông tư, Thông tư liên tịch, chưa kịp thời, làm cho việc triển khai đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam trên thực tế không bảo đảm được đúng thời gian Luật định.
Công tác phối hợp tổ chức triển khai thực hiện việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam giữa các bộ liên quan còn hạn chế; cơ chế liên thông, gắn kết giữa việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam với việc cấp hộ chiếu Việt Nam chưa được hướng dẫn rõ ràng.
Ủy ban Thường vụ nhấn mạnh đến giải pháp có tính quyết định cho quy định đăng ký giữ quốc tịch được thực hiện thuận lợi, nhanh chóng và có hiệu quả là phải tiến hành sửa đổi, bổ sung văn bản hướng dẫn theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tăng cường chỉ đạo công tác tuyên truyền, thông tin đến được với đông đảo người dân về quy định này./.
