Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan: Khai thác tài nguyên cần tư duy phát triển bền vững
- 01/12/2025
Tại Phiên họp, các đại biểu đã cho ý kiến về nhiều nội dung như: phạm vi điều chỉnh hai dự án luật; đưa vật liệu nhóm 3, nhóm 4 vào phục vụ các công trình trọng điểm quốc gia; cơ chế cấp phép khai thác khoáng sản phục vụ công trình công cộng và các dự án trọng điểm; quy định về thống kê, kiểm kê khoáng sản; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia đối với khoáng sản; quản lý khoáng sản đất hiếm; khoanh định khu vực không đấu giá khai thác khoáng sản; bỏ yếu tố nhạy cảm môi trường đối với đất trồng lúa nước hai vụ; bảo vệ sử dụng tầng đất mặt đối với đất trồng lúa nước; quản lý, tạm sử dụng rừng…
Sửa đổi, bổ sung một số nội dung để tháo gỡ ngay một số vướng mắc, điểm nghẽn
Thay mặt Cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng đã giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu. Bộ trưởng cho biết, các ý kiến góp ý vào 2 dự án luật tâm huyết, trách nhiệm, có tính thực tiễn cao. Cơ quan chủ trì soạn thảo nghiêm túc tiếp thu và tiếp tục phối hợp với các cơ quan có liên quan rà soát, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo để báo cáo Quốc hội xem xét thông qua, nhất là các vấn đề về đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; quy định đầy đủ các trường hợp chuyển tiếp, xây dựng các văn bản quy định chi tiết và một số vấn đề cụ thể khác.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng phát biểu giải trình vấn đề đại biểu Quốc hội nêu
Bên cạnh nội dung tiếp thu và chỉnh lý, Bộ trưởng Trần Đức Thắng cũng báo cáo với Quốc hội về phạm vi điều chỉnh của hai dự án luật. Một số đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung, sửa đổi các vướng mắc, bất cập khác ngoài các điểm nghẽn đã được xử lý tại hai dự án. Về vấn đề này, Bộ trưởng cho biết, đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản, nội dung sửa đổi chủ yếu để xử lý một số vướng mắc, các điểm nghẽn cần tháo gỡ ngay, liên quan đến các dự án, chương trình trọng điểm quốc gia, chiến lược về quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên đất hiếm để phục vụ phát triển đất nước. Đối với các vướng mắc khác, trên cơ sở ý kiến của các đại biểu Quốc hội, Cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ phối hợp với cơ quan thẩm tra và các cơ quan liên quan tiếp tục rà soát và tiếp thu nghiêm túc.
Đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, Bộ trưởng khẳng định, việc xây dựng dự án Luật này chỉ tập trung điều chỉnh, khu trú trong ba nhóm nội dung chính. Đó là sắp xếp, tổ chức bộ máy, cải cách thủ tục hành chính; cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh và xử lý các điểm nghẽn đang phát sinh. Trong đó, các điểm nghẽn được xác định dựa trên các tiêu chí: được nhiều người dân, doanh nghiệp phản ánh; Có tính chất phổ quát, nếu được sửa đổi sẽ tác động để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Có cơ sở chính trị rõ ràng đã được nêu tại các nghị quyết, kết luận chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền.

Đại biểu tham gia Phiên họp
Bộ trưởng Trần Đức Thắng khẳng định, với các vướng mắc, bất cập khác của 15 luật, ngoài 20 nhóm điểm nghẽn đã được xử lý tại dự thảo Luật lần này, Cơ quan chủ trì soạn thảo thấy rằng, cần phải có thêm thời gian để tổng kết thực tiễn, đánh giá tác động kỹ lưỡng, đầy đủ, căn cơ và sẽ đề xuất sửa đổi trong giai đoạn 2026 - 2030.
Đất hiếm sẽ thực sự trở thành tài nguyên quan trọng để khai thác, phát triển đất nước
Giải trình về một số vấn đề cụ thể của dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản, Bộ trưởng Trần Đức Thắng cho biết, các nội dung sửa đổi chủ yếu nhằm đẩy nhanh các tiến độ để đưa vật liệu nhóm 3, nhóm 4 vào sử dụng phục vụ cho các công trình trọng điểm quốc gia, nhưng đồng thời vẫn phải đảm bảo các quy định về bảo vệ môi trường, không để bị lợi dụng trong thực hiện.
Về cơ chế cấp phép khai thác khoáng sản phục vụ công trình công cộng và các dự án trọng điểm, các đại biểu đề nghị cân nhắc phạm vi công trình được thụ hưởng chính sách, thẩm quyền quyết định cho phép thực hiện, mở rộng đối tượng không cần có quy hoạch có thể dẫn đến kẽ hở trục lợi chính sách... Bộ trưởng khẳng định, việc khai thác mở rộng chỉ áp dụng đối với các mỏ đang hoạt động, mà không cần bổ sung thêm quy hoạch cho các mỏ này; chỉ tăng thêm hoạt động thăm dò, khai thác; với những dự án mới bắt buộc phải có quy hoạch đầy đủ.
Đối với việc cấp phép khai thác khoáng sản nhóm 3 để làm vật liệu xây dựng thông thường, dự thảo luật chỉ quy định việc cấp phép không phải căn cứ vào phương án quản lý về địa chất, khoáng sản trong quy hoạch tỉnh. Tuy nhiên, các khu vực mỏ vẫn phải phù hợp với các nội dung khác của quy hoạch tỉnh, như các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, xây dựng hạ tầng... Đồng thời, dự thảo luật cũng quy định, các tổ chức, cá nhân phải thực hiện thăm dò, đánh giá trữ lượng khoáng sản để làm cơ sở cấp phép khai thác; đảm bảo các quy định về an toàn kỹ thuật trong khai thác mỏ, quy định về thống kê, kiểm kê trữ lượng đã khai thác, nhằm giảm thiểu rủi ro, tránh gây lãng phí tài nguyên khoáng sản của đất nước.

Đại biểu tham gia Phiên họp
Về ý kiến của đại biểu Quốc hội đề nghị xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia đối với khoáng sản, Bộ trưởng Trần Đức Thắng cho biết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường được Chính phủ giao thực hiện, sẽ hoàn thành nhiệm vụ xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia đối với khoáng sản trong quý 2 năm 2026.
Giải trình vấn đề nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm về công tác quản lý khoáng sản đất hiếm, Bộ trưởng Trần Đức Thắng khẳng định, Việt Nam là quốc gia có trữ lượng đất hiếm đứng thứ 3 trên thế giới, phân bố ở 21 tỉnh, thành phố. Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã khoanh định cơ bản đầy đủ các khu vực mỏ có khoáng sản; tổ chức quản lý chặt chẽ và đang chủ trì cùng với các bộ ngành xây dựng Chiến lược quốc gia về đất hiếm trình Chính phủ và cấp có thẩm quyền ban hành vào đầu năm 2026.
“Việc đưa vào khai thác, chế biến sâu, mang lại lợi ích cho đất nước là bước rất quan trọng. Dự thảo luật tách đất hiếm thành một Chương riêng, với các chế tài giao Chính phủ ban hành các văn bản dưới luật. Chúng tôi tin rằng, đất hiếm sẽ thực sự trở thành tài nguyên quan trọng để khai thác, phát triển đất nước trong thời gian tới, trên tinh thần hình thành chuỗi giá trị khép kín, hạn chế tối đa việc xuất khẩu nguyên liệu thô”, Bộ trưởng Trần Đức Thắng nêu rõ.

Phó Chủ tịch Quốc hội Vũ Hồng Thanh và các đại biểu tham gia Phiên họp
Về ý kiến của đại biểu liên quan đến tiêu chí khoanh định khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản, Bộ trưởng cho biết, dự thảo luật đã thiết kế nguyên tắc để khoanh định khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản kèm theo các tiêu chí cụ thể, với mục tiêu tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho các nhà đầu tư khi thi công các công trình, dự án quan trọng, cấp bách; cũng như các nhà đầu tư triển khai dự án chế biến khoáng sản cho các công trình, dự án có tính cấp bách, hoặc có vốn đầu tư lớn và có tác động đến phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, dự thảo luật đã giao Chính phủ quy định chi tiết các điều kiện, trình tự khoanh định khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản. Trong quá trình khoanh định sẽ có sự phối hợp liên ngành: Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các địa phương, để đảm bảo đánh giá đầy đủ các yếu tố về nhu cầu thị trường, hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lực của chủ đầu tư, tác động môi trường và sinh kế của người dân, đảm bảo hình thành chuỗi chế biến sâu trong nước. Cách này sẽ giúp kiểm soát được rủi ro ngay từ khâu xác lập khu vực, không để xảy ra tình trạng lợi dụng chính sách đối với các khoáng sản chiến lược đặc biệt quan trọng.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng phát biểu giải trình
Đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị cân nhắc bỏ yếu tố nhạy cảm môi trường đối với tiêu chí đất trồng lúa nước hai vụ (quy định tại Luật Bảo vệ môi trường). Giải trình vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh, việc bảo đảm an ninh lương thực là rất cần thiết, nhất là diện tích đất lúa hai vụ; vấn đề này đã được quy định chặt chẽ tại Luật Đất đai, Luật Đầu tư. Trong đó, diện tích đất trồng lúa hai vụ được bảo vệ, quản lý thông qua công cụ về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, phân quyền cho địa phương, quyết định việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa hai vụ theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Đây cũng là nội dung được tích hợp xem xét trong quá trình chấp thuận chủ trương đầu tư theo pháp luật về đầu tư, đầu tư công, theo hình thức đối tác công tư... Do vậy, nếu quy định trong dự thảo luật sẽ phát sinh thêm các thủ tục không cần thiết, chỉ cần áp dụng theo hệ thống pháp luật hiện hành vẫn đảm bảo việc giữ đất trồng lúa hai vụ.
Về việc bảo vệ sử dụng tầng đất mặt của đất chuyên trồng lúa nước tại Luật Trồng trọt, Bộ trưởng Trần Đức Thắng cho biết, thời gian qua, việc thực hiện quy định về sử dụng tầng đất mặt, đất chuyên trồng lúa nước gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, nhất là trong triển khai các dự án đầu tư như: khó khăn trong việc bóc tách tầng đất mặt tại các vùng trũng ngập nước, đất đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng; lượng đất phải bóc tách và chi phí bóc tách khá cao, gây tốn kém, thiếu nơi tập kết sau khi bóc tách và nhu cầu sử dụng kém gây lãng phí, ô nhiễm môi trường...
“Thực tiễn khi xin ý kiến vào dự thảo luật này, 30/34 địa phương đồng ý kiến nghị bỏ Điều 57 của Luật Trồng trọt. Tuy nhiên, tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu phối hợp với Cơ quan thẩm tra của Quốc hội để rà soát, tiếp thu theo hướng giao Chính phủ quy định chi tiết trong một số trường hợp”, Bộ trưởng Trần Đức Thắng cho biết.
Quản lý khai thác tài nguyên, khoáng sản cần nhìn dưới đôi mắt không chỉ của hiện tại, mà đôi mắt của tương lai
Phát biểu kết luận Phiên họp, Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan cho biết, qua thảo luận về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, đa số đại biểu Quốc hội đồng tình trình Quốc hội thông qua hai dự án luật quan trọng này.

Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan phát biểu kết luận Phiên họp
Về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản, các đại biểu đề nghị quy định đóng cửa mỏ cần được đồng bộ về các chế tài, giải pháp phù hợp, hoàn thiện cơ sở pháp lý, bảo đảm doanh nghiệp khai thác mỏ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ. Đại biểu quan tâm đến nguyên tắc khai thác và quy trình công nghệ khai thác đất hiếm, đảm bảo các yêu cầu khắt khe về an toàn với môi trường, quản lý rủi ro. Có ý kiến đề nghị bổ sung báo cáo đánh giá rủi ro thiên tai, tác động môi trường, trước khi xem xét, nhất là đối với khoáng sản cấp 3, cấp 4; bổ sung các quy định quản lý chặt chẽ, công khai, tránh tình trạng thất thoát khoáng sản.

Đại biểu tham gia Phiên họp
Có ý kiến đại biểu quan tâm đến an toàn dịch bệnh, cảnh báo dịch bệnh, kiểm soát dịch bệnh trên động vật cần có những quy định để tăng cường năng lực thú y. Bổ sung nguyên tắc các viện, trường, các cơ sở đào tạo đủ điều kiện nghiên cứu tham gia vào công tác giám sát tài nguyên quốc gia. Một số ý kiến đề nghị bổ sung cơ chế liên thông dữ liệu về môi trường, từ trung ương đến địa phương; liên thông dữ liệu để phục vụ công tác hậu kiểm có hiệu quả...
Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan khẳng định, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường - đây không chỉ là luật quy định những vấn đề liên quan quan đến kỹ thuật, tiêu chuẩn, quy trình, cấp phép, cấp lại hay thu hồi giấy phép, mở hay đóng cửa mỏ, đấu thầu hay đấu giá, hai dự thảo luật còn là vấn đề liên quan đến tài nguyên quốc gia, nhất là tài nguyên là lợi thế quốc gia, nguồn nguyên liệu chính cho các ngành công nghiệp mới. Đây còn là vấn đề liên quan đến đời sống của cộng đồng trong phạm vi khai thác, sự phát triển của địa phương, là vấn đề rủi ro về môi trường, thiên tai, tác động tích lũy lâu dài đến địa hình, địa chất, địa mạo.... Do đó, nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội đề nghị vấn đề đánh giá tác động môi trường cần vừa đảm bảo cải cách thủ tục hành chính, khơi thông nguồn lực cho phát triển, nhưng cũng phải đảm bảo không để những tác động không mong muốn, không lường trước.

Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan phát biểu kết luận
Trong quản lý khai thác tài nguyên, khoáng sản, chúng ta cần nhìn dưới đôi mắt không chỉ của hiện tại mà đôi mắt của tương lai. Trong khai thác tài nguyên, chúng ta không chỉ đào sâu hơn, mà cần nghĩ sâu hơn về tư duy phát triển bền vững. Trong đó, tiếp cận tư duy kinh tế tuần hoàn trong cả luật về khoáng sản và địa chất và luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường theo triết lý ít hơn nhưng được nhiều hơn, ít lãng phí hơn, ít tiêu tốn hơn, ít tài nguyên thô hơn và ít tác động xấu hơn. Đây cũng là vấn đề cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và đảm bảo môi trường bền vững trong dự thảo Văn kiện trình Đại hội lần thứ XIV của Đảng.
Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan lưu ý, đây là hai dự án luật được Quốc hội xem xét, thông qua theo quy trình Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, do đó, Chính phủ sẽ chịu trách nhiệm trình Quốc hội xem xét, biểu quyết thông qua. Vì vậy, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẩn trương giúp Chính phủ phối hợp chặt chẽ với Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, các cơ quan có liên quan nghiên cứu tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến của các đại biểu Quốc hội, bảo đảm tuân thủ các quy định về kiểm soát quyền lực trong xây dựng pháp luật, tránh tạo ra kẽ hở, khoảng trống pháp luật và làm phát sinh những khó khăn, vướng mắc mới. Lưu ý bảo đảm xử lý đúng mức giữa các nội dung sửa đổi lần này và các nội dung sửa đổi sắp tới. Khẩn trương hoàn chỉnh dự án luật với chất lượng cao nhất, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi Quốc hội xem xét, thông qua vào cuối Kỳ họp.
