Mở rộng phạm vi không gian áp dụng của luật
- 07/11/2013
Theo tờ trình của Chính phủ, dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) đã được xây dựng trên quan điểm tiến bộ, phù hợp với điều kiện mới khi xác định môi trường là vấn đề toàn cầu. Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Tăng cường bảo vệ môi trường phải theo phương châm ứng xử hài hòa với thiên nhiên, theo quy luật tự nhiên, phòng ngừa là chính; kết hợp kiểm soát, khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; lấy bảo vệ sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững.
![]() |
| Khu công nghiệp Tằng Loỏng. Ảnh: http://baolaocai.vn |
Theo đó, Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) bao gồm 19 chương và 160 điều, tăng thêm 4 chương và 24 điều so với Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. Có sự thay đổi thứ tự theo tính ưu tiên và bổ sung các chương mới.
Dự thảo Luật đã mở rộng phạm vi không gian áp dụng của luật, cả trên “thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế”; mở rộng khái niệm về môi trường; bổ sung thêm nguyên tắc coi bảo vệ môi trường là lĩnh vực được ưu tiên; làm rõ hơn một số nội dung bị nghiêm cấm trong bảo vệ môi trường.
Về đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC), dự thảo Luật quy định danh mục các nhóm chiến lược, quy hoạch cần lập báo cáo ĐMC theo hướng cụ thể hơn, thu hẹp đối tượng phải lập ĐMC khi không quy định lập ĐMC đối với các kế hoạch; quy định kết quả ĐMC phải được xem xét và tích hợp với nội dung của chiến lược, quy hoạch; trách nhiệm của các cơ quan được giao nhiệm vụ xây dựng chiến lược, quy hoạch trong việc lập ĐMC; bổ sung nội dung cần tham vấn và đề xuất điều chỉnh chiến lược, quy hoạch trong nội dung ĐMC.
Về đánh giá tác động môi trường (ĐTM), khác với Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 giao Chính phủ quy định các dự án phải lập ĐTM, dự thảo Luật quy định cụ thể 3 nhóm dự án cần phải lập báo cáo ĐTM, bao gồm: Nhóm dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt chủ trương của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; nhóm dự án sử dụng đất của khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, khu di tích lịch sử - văn hóa, khu di sản thế giới, khu dữ trữ sinh quyển, khu danh lam thắng cảnh được xếp hạng; nhóm dự án tác động xấu đến môi trường và xã hội do Chính phủ quy định.
Về cam kết bảo vệ môi trường, so với Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, dự thảo Luật đã loại bỏ quy định về cam kết bảo vệ môi trường do việc thực hiện không hiệu quả. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh sẽ lập kế hoạch bảo vệ môi trường để bảo đảm tính chủ động, khả thi, thích ứng với các thay đổi về quy định pháp luật cũng như thực tiễn hoạt động của cơ sở.
Dự thảo đã quy định một chương riêng về biển và hải đảo. Chương này cơ bản kế thừa nội dung của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 nhưng có bổ sung thêm nội dung về bảo vệ môi trường hải đảo. Các quy định được viết gọn hơn, bảo đảm tính hệ thống và toàn diện; đồng thời quy định thêm trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong việc hướng dẫn việc lập kế hoạch phòng ngừa và ứng phó các sự cố môi trường trên biển và hải đảo.
Về bảo vệ môi trường nước sông, dự thảo Luật đã bổ sung quy định về việc định kỳ quan trắc và đánh giá chất lượng nước và trầm tích của các lưu vực sông; vấn đề bảo vệ môi trường các lưu vực sông xuyên biên giới; việc xây dựng các cơ sở phát sinh chất thải vào các lưu vực sông phải xem xét tới khả năng chịu tải của các lưu vực sông. Dự thảo Luật cũng bổ sung quy định về trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ trong chỉ đạo bảo vệ môi trường lưu vực sông; trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong ban hành, hướng dẫn các quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường nước, trầm tích các lưu vực sông; trong quan trắc, đánh giá môi trường các lưu vực sông liên tỉnh; bổ sung trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với bảo vệ môi trường lưu vực sông nội tỉnh.
Dự thảo luật bổ sung và cụ thể hóa trách nhiệm của các hộ gia đình, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tại các làng nghề; các điều kiện về bảo vệ môi trường tại các làng nghề; trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh đối với bảo vệ môi trường làng nghề. Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm hướng dẫn về bảo vệ môi trường làng nghề…

