Kiến nghị bỏ tử hình ở một số tội
- 27/12/2012
Nhiều tội tử hình không cần thiết
Theo ông Trần Công Phàn (Phó Viện trưởng VKSND Tối cao), hiện nay có 22 tội danh có khung hình phạt cao nhất là tử hình. Qua tổng kết việc thi hành BLHS cho thấy có một số tội rất ít khi tòa xử phạt đến tử hình, thậm chí có tội chưa bao giờ tòa áp dụng mức hình phạt cao nhất này cả.
Chẳng hạn như nhóm tội về xâm phạm an ninh quốc gia (tội bạo loạn, tội hoạt động phỉ, tội phản bội Tổ quốc…). Nguyên nhân là do chế độ chính trị của nước ta tương đối ổn định. Cùng với chính sách nhân đạo và xu thế hội nhập quốc tế, chúng ta cũng có những biện pháp chống lại âm mưu diễn biến hòa bình, nói xấu chế độ nên các hành vi phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia ít xảy ra hoặc tính chất, mức độ, hậu quả thường chưa đến mức phải phạt tử hình.
Tương tự, với các tội thông thường còn lại như cướp tài sản, buôn lậu…, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội cũng thường chưa đến mức phải phạt tử hình. Từ đó, ông Phàn cho rằng lần sửa đổi BLHS này nên tính toán lại theo hướng giảm bớt một số loại tội áp dụng hình phạt tử hình.
PGS-TS Dương Tuyết Miên (Trường ĐH Luật Hà Nội) cũng phân tích: Bỏ hẳn hình phạt tử hình là không nên nhưng phải giảm bớt, chỉ áp dụng trong phạm vi hẹp với một số loại tội danh nhất định. Một số tội chỉ cần áp dụng hình phạt cao nhất là tù chung thân để thay tử hình cũng vẫn có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm. Chẳng hạn như tội phá hủy các công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; tội làm hàng giả, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh.
Ngoài ra, bà Miên còn đề nghị ngoài các đối tượng được miễn hình phạt tử hình (trẻ em, phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi) thì BLHS nên thêm một đối tượng khác là người già từ 70 tuổi trở lên. Bởi lẽ họ là những người tuổi cao sức yếu, cuộc sống không còn dài lâu, được Nhà nước chăm sóc, bảo vệ đặc biệt. Xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo thì chỉ nên quy định họ chịu mức án cao nhất là tù chung thân.
Bỏ các tội hiếm gặp
Ngoài ra, nhiều ý kiến đề nghị nên bỏ hẳn một số tội vì rất ít khi xảy ra và nếu có xảy ra thì cũng không đáng để xử lý hình sự do tính chất nguy hiểm cho xã hội không còn.
TS Lê Thành Dương (Viện trưởng Viện Phúc thẩm III VKSND Tối cao) liệt kê một số tội lâu nay chưa từng xử lý hình sự như tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, người có công nuôi dưỡng mình; tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng; tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế; tội quảng cáo gian dối…
Theo ông Dương, có nhiều tội danh khác ít được áp dụng vì nó liên quan đến vấn đề tình cảm, phong tục. Có nhiều hành vi đã ăn sâu vào tiềm thức của con người từ xã hội cũ để lại, người dân cho đó là bình thường mà luật coi là tội phạm. Chẳng hạn tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. BLHS quy định là tội phạm nhưng lại không có văn bản nào hướng dẫn cưỡng ép, cản trở đến cỡ nào thì mới xử lý hình sự.
Ông Dương còn đề cập đến một tội mà thực tiễn áp dụng có không ít trường hợp gây nhiều tranh cãi, băn khoăn là tội giao cấu với trẻ em. Theo ông, có khi ở vùng quê xa xôi, hai người thương yêu nhau, về sống với nhau, đã có mấy con chung. Bỗng dưng cơ quan bảo vệ pháp luật phát hiện lúc chung sống, người vợ chưa đủ tuổi thành niên nên xử lý hình sự người chồng với tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần thì có đáng không?
Nên mạnh dạn
Theo bà Lê Thị Nga (Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội), nên sửa chính sách hình sự đầu vào của BLHS cho chặt chẽ, loại nào nên xử tù thì quy định, loại nào không cần thiết thì loại bỏ. Kể cả các vấn đề dân sự trong vụ án hình sự cũng cần chú ý “siết” lại cho chặt.
“Thực tế hằng năm chúng ta thường xử tù rất nhiều bị can, bị cáo, có cả những người không đáng, rồi đến hẹn lại đưa danh sách đề nghị giảm án, tha tù trước thời hạn, đặc xá hàng loạt. Như vậy vừa mất công sức của các cơ quan tố tụng, vừa tốn tiền bạc của Nhà nước và tạo môi trường tiêu cực trong việc giảm án, đặc xá” - bà Nga nói.
Cũng theo bà Nga, thực tiễn áp dụng Điều 25 BLHS (về miễn trách nhiệm hình sự) cũng có vấn đề. Thực tế cơ quan tố tụng chỉ áp dụng chính xác trong một số ít trường hợp, còn phần lớn là bị lợi dụng để tha miễn hoặc để né việc bồi thường oan.
Pháp nhân cũng giống cá nhân
Theo PGS-TS Nguyễn Thái Phúc (Giám đốc Học viện Tư pháp, Bộ Tư pháp), vấn đề này đã được đưa vào dự thảo đầu tiên trong tờ trình BLHS năm 1999. Từ đó đến nay khoa học hình sự đã phát triển mạnh, nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh có thể xử lý hình sự pháp nhân. Ông Phúc phân tích khi tham gia vào các quan hệ xã hội, hành động của pháp nhân không phải tự phát mà là có nhận thức, có định hướng đến mục tiêu cụ thể. Thực tế nhiều ngành luật đã thừa nhận lỗi của pháp nhân đồng nhất với lỗi của nhân viên và người đại diện của pháp nhân đó. Việc thừa nhận trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật là phù hợp với nhu cầu phòng, chống tội phạm và xu hướng phát triển chung của thế giới.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thế Liên và đại diện Cục Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng Nguyễn Thái Bình cũng đồng tình việc xử lý hình sự pháp nhân. Theo thứ trưởng, Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế về các lĩnh vực. Ngoài dân sự, hành chính thì chỉ khi nào hình sự hóa được trách nhiệm của pháp nhân thì lúc ấy công tác chống tội phạm xuyên quốc gia mới đạt kết quả cao.
Mở rộng hay thu hẹp tùy tội danh
Một vấn đề khác cũng được quan tâm là cơ cấu tội danh trong BLHS hiện chưa hợp lý. Một đại diện Ủy ban Tư pháp của Quốc hội đề xuất nên mở rộng hành vi trong một tội danh bằng cách hạ thấp mức định lượng hoặc không định lượng quy mô hành vi. Chẳng hạn tội chứa chấp và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, vì định lượng giá trị tài sản trộm cắp phải từ 2 triệu đồng trở lên nên nếu người trộm cắp không phạm tội thì người chứa chấp và tiêu thụ cũng không phạm tội. Tuy nhiên, thực tế có trường hợp một người chứa chấp và tiêu thụ tài sản phạm tội của nhiều kẻ trộm (giá trị trộm dưới 2 triệu đồng) thì lại rất nguy hiểm. Tài sản của mỗi kẻ trộm chỉ 1,5 triệu đồng nhưng 10 kẻ trộm là 15 triệu đồng. Cạnh đó, một số tội khác thì cần phải thu hẹp hành vi và chủ thể thực hiện hành vi. Ví dụ hành vi tàng trữ, mua bán chất ma túy nhỏ lẻ. Thực tế đây là những con nghiện mua bán vài tép để sử dụng cho mình không có mục đích kiếm lời. Nhưng theo Điều 194 BLHS và văn bản hướng dẫn thi hành thì dù mua bán, tàng trữ số lượng dù rất nhỏ từ 0,1 g trở lên là phạm tội, dẫn đến việc xử lý tràn lan không cần thiết…
Chia tù chung thân thành hai loại
Có ý kiến cho rằng BLHS quy định về hình phạt tù chung thân (với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng chưa đến mức tử hình) là cần thiết nhưng về bản chất nó chẳng khác gì tù có thời hạn. Bởi lẽ do chính sách nhân đạo của Nhà nước nên tù chung thân là tù không thời hạn nhưng trên thực tế ít có phạm nhân nào phải thụ án suốt đời.
Do đó, để tránh cách hiểu đánh đồng, cào bằng, nên sửa quy định về tù chung thân thành hai loại: có thể được giảm án và không được giảm án. Người không được giảm án thì mức độ, tính chất hành vi phạm tội nguy hiểm hơn người có thể được giảm án. Nếu quy định rạch ròi như vậy thì trường hợp bị xử tử hình có thể được xét ân giảm xuống tù chung thân không giảm án (tức tù suốt đời). Lúc này, BLHS sẽ vừa thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật vừa có tính nhân đạo cao.
