Đưa bảo hiểm thất nghiệp sang Luật Việc làm

Dự thảo Luật Việc làm thêm trường hợp người lao động có hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng. Tất cả người sử dụng lao động có từ 1 lao động trở lên được tham gia đóngbảo hiểm thất nghiệp.

Luật Việc làm điều chỉnh các quan hệ về việc làm, bao gồm các quy định về 5 nội dung chính: Hỗ trợ tạo việc làm; thông tin thị trường lao động; đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; dịch vụ việc làm và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN).

Đưa bảo hiểm thất nghiệp sang Luật Việc làm
Người lao động luôn quan tâm tới quyền lợi của mình khi thất nghiệp

Thêm đối tượng được tham gia bảo hiểm

Dự thảo Luật Việc làm đang trong giai đoạn lấy ý kiến sửa đổi đã dành một chương (Chương VI) để quy định về vấn đề BHTN. Với việc đưa nội dung này từ Luật Bảo hiểm xã hội sang Luật Việc làm, đồng thời có những sửa đổi, bổ sung căn bản, các quy định mới xung quanh vấn đề BHTN hứa hẹn sẽ mang lại công bằng cho các nhóm đối tượng tham gia loại hình này.

Ông Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội cho biết, một trong những thay đổi quan trọng nhất, là việc mở rộng hơn đối tượng được tham gia BHTN so với quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội. Theo Luật Bảo hiểm xã hội, đối tượng tham gia BHTN là người lao động có hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định hoặc xác định thời hạn.

Nhưng dự thảo Luật Việc làm thêm trường hợp người lao động có hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng. Như vậy đối tượng tham gia BHTN mở thêm điều kiện cho các nhóm đối tượng yếu thế hơn, có cơ hội tham gia đóng BHTN và được hưởng trợ cấp trong trường hợp mất việc làm.

Thực tế cũng cho thấy, nhóm lao động yếu thế mới là các đối tượng có nguy cơ mất việc làm cao. Việc điều chỉnh này là phù hợp với diễn biến của thị trường lao động hiện nay.

Bà Celine Peyron Bista, Chuyên gia của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) bổ sung thêm: dự thảo luật mới cũng mở rộng đối tượng tổ chức tham gia BHTN, khi quy định tất cả người sử dụng lao động có từ 1 lao động trở lên được tham gia đóng BHTN.

Bên cạnh đó, quy định về thời gian hưởng trợ cấp tương ứng thời gian đóng BHTN cũng tạo điều kiện cho người lao động được hưởng lại thành quả của mình một cách xứng đáng hơn.

Vẫn còn nhiều nội dung cần cân nhắc

Mặc dù đã có những sửa đổi, bổ sung căn bản theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tham gia BHTN, song dự thảo luật vẫn nhận được khá nhiều góp ý của các chuyên gia nhằm tăng tính công bằng và khả năng bảo vệ người lao động.

Bà Ngô Thị Loan, Chuyên gia của ILO chỉ ra rằng, nếu quy định mới đặt giới hạn mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa 5 lần mức lương tối thiểu, thì cũng cần giới hạn tương tự về mức phí đóng BHTN.

Bên cạnh đó, bà Loan cho rằng, rủi ro của những chương trình này là có thể vô tình hỗ trợ cho các DN làm ăn không hiệu quả. Do đó, cần quy định cứng rằng, quỹ chỉ nên dành để hỗ trợ trực tiếp cho người lao động chứ không phải hỗ trợ DN.

Một nghịch lý khác, được bà Loan chỉ ra, là các biện pháp xử phạt hành chính và truy tố hiện nay mới chỉ dành cho người lao động nợ bảo hiểm, trong khi người sử dụng lao động - những DN, người sử dụng lao động - nợ bảo hiểm, gây thiệt hại cho cả người lao động và quỹ bảo hiểm chỉ phải trả lãi suất cho các khoản bảo hiểm nợ mà không phải chịu bất cứ biện pháp xử phạt nào.

Quy định lỏng này nếu không được điều chỉnh, chắc chắn sẽ gây nhiều cản trở cho quá trình thực hiện BHTN sau này và cũng sẽ dễ dẫn đến tình trạng DN cố tình chây ỳ nợ BHTN, tương tự như vấn đề nợ tiền BHXH của DN hiện nay đang là vấn đề gây nhiều bức xúc.

Theo đánh giá của các chuyên gia ILO thì không chỉ quy định xử phạt đối với người sử dụng lao động trốn BHTN còn lỏng như trên, mà các biện pháp khả thi hỗ trợ người thất nghiệp cũng đang rất thiếu.

Vì thế, nhiều ý kiến cho rằng điều 55 trong dự thảo Luật Việc làm về “Hỗ trợ đào tạo nghề đối với người hưởng trợ cấp thất nghiệp” cần được bổ sung tiêu chí đánh giá nhu cầu học nghề đối với tất cả các trường hợp đề nghị hỗ trợ học nghề.

Từ đó, sử dụng quỹ BHTN để hỗ trợ đào tạo nghề hiệu quả cho các đối tượng này để họ sớm tìm được việc làm phù hợp. Thực tế là những hỗ trợ dạy nghề và tìm việc cũng thiết thực không kém so với việc trực tiếp “rót” tiền cho người thất nghiệp duy trì cuộc sống hàng ngày.

Ông Bùi Sỹ Lợi cũng lưu ý, Ban soạn thảo luật cần cân nhắc thực tiễn hầu hết viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập hiện nay không thất nghiệp, do đó nếu buộc các đối tượng này đóng BHTN sẽ là điều thiệt thòi.

Ông Lợi cho rằng Chính phủ cần đánh giá, tổng kết tình hình viên chức tham gia, thụ hưởng chính sách BHTN (số lượng viên chức tham gia và hưởng BHTN, số thu – chi cho nhóm này...) và báo cáo Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội để có cơ sở quy định chính sách này phù hợp hơn trong dự thảo Luật Việc làm.

“Chẳng hạn có ý kiến cho rằng nếu đối tượng này bắt buộc phải tham gia BHTN thì cần có chính sách để những viên chức trong suốt quá trình làm việc đến khi nghỉ hưu nhưng không thất nghiệp thì được nhận lại một khoản trợ cấp từ quỹ để bảo đảm quyền lợi theo nguyên tắc đóng – hưởng”, ông Lợi giải thích. Ý kiến có căn cứ vào thực tế của ông Lợi đã nhận được nhiều sự ủng hộ.

Cùng với đó, một số nội dung khác về BHTN như được ghi trong dự thảo luật cũng nhận được nhiều ý kiến chỉ ra nhằm nêu bật nội dung tổng quát, đó là: Chính sách BHTN hiện nay chưa thực hiện đúng chức năng và vai trò là chính sách bảo đảm về việc làm toàn diện cho người lao động.

Các quy định hiện hành về BHTN mới chỉ dừng ở việc hỗ trợ người lao động sau khi mất việc làm mà chưa có chính sách duy trì việc làm, ngăn ngừa, hạn chế thất nghiệp. Việc thực hiện chính sách BHTN hiện hành cũng đang bộc lộ một số hạn chế về đối tượng, điều kiện, tổ chức thực hiện…

Khanh Đoàn/Thời báo ngân hàng