Dự thảo luật
Dự thảo Luật tần số vô tuyến điện

Cơ quan trình dự án: Chính phủ

Cơ quan chủ trì soạn thảo: Bộ Thông tin và truyền thông.

Ủy ban chủ trì thẩm tra: Ủy ban khoa học công nghệ và môi trường.

Dự kiến thảo luận, cho ý kiến tại: Kỳ họp thứ 5, tháng 5-2009

Dự kiến biểu quyết thông qua tại: Kỳ họp thứ 6, tháng 10-2009

Luật Tần số vô tuyến điện quy định các hoạt động về quản lý và sử dụng tần số vô tuyến điện, thiết bị vô tuyến điện, quỹ đạo vệ tinh và quản lý tương thích điện từ (được gọi chung là hoạt động quản lý, sử dụng tần số vô tuyến điện). Luật Tần số vô tuyến điện được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động quản lý, sử dụng tần số vô tuyến điện tại Việt Nam.

Gợi ý lấy ý kiến

Một số nội dung còn có ý kiến khác nhau:

1/ Về cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về tần số vô tuyến điện (Điều 7)

          Dự thảo Luật quy định mang tính nguyên tắc về cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về tần số vô tuyến điện thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông giao Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của cơ quan này. Nhiều ý kiến đồng tình với quy định này của dự thảo và đề xuất nên thiết kế một điều riêng quy định trách nhiệm cụ thể của cơ quan này trong dự thảo Luật để làm rõ chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý chuyên ngành về Tần số vô tuyến điện. Một số ý kiến khác đề nghị không nên quy định cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về tần số vô tuyến điện trực thuộc Bộ như trong dự thảo Luật.

2/ Về Thanh tra chuyên ngành tần số vô tuyến điện (Điều 8)

          Dự thảo Luật quy định Thanh tra tần số vô tuyến điện thuộc hệ thống tổ chức của thanh tra Thông tin và Truyền thông, được tổ chức tại Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông, Cơ quan quản lý chuyên ngành về tần số vô tuyến điện và Sở Thông tin và Truyền thông để thực hiện chức năng thanh tra đối với các hoạt động về tần số vô tuyến điện theo quy định của pháp luật. Một số ý kiến đề nghị không nên quy định về thanh tra tần số vô tuyến điện trong Luật này mà nên thực hiện theo Luật Thanh tra.

3/ Về đấu giá, thi tuyển quyền sử dụng tần số vô tuyến điện (Điều 24)

           Về vấn đề này, một số ý kiến đề xuất dự thảo Luật cần có những quy định cụ thể về các trường hợp thi tuyển, đấu giá. Một số ý kiến khác đồng ý với những quy định mang tính nguyên tắc về việc áp dụng phương thức đấu giá, thi tuyển quyền sử dụng tần số vô tuyến điện như trong dự thảo. Các trường hợp cụ thể sẽ được Chính phủ quy định trong một văn bản khác.

4/ Về phí sử dụng tần số (Điều 31)

          Dự thảo luật quy định về phí sử dụng tần số vô tuyến điện là khoản thu do nhà nước quy định, được xác định trên cơ sở giá trị kinh tế của phổ tần số sử dụng, mục đích sử dụng, mức độ chiếm dụng phổ tần số, phạm vi phủ sóng, mật độ sử dụng kênh tần số trong băng tần và trong khu vực được cấp phát. Có ý kiến đề nghị cân nhắc việc quản lý tần số vô tuyến điện phải theo chính sách quản lý tài nguyên quốc gia. Cũng có ý kiến cho rằng cần thiết phải có quy định một khoản thuế nhất định để quản lý tần số vô tuyến điện.

 

Các tài liệu tham khảo
 
 
Những ý kiến đóng góp
  • Người gửi: Lê Văn Điền
  • Email: dienlv@rfd.gov.vn
  • Ngày gửi: 03:30:09 | 29/10/2009

Góp ý dự thảo Luật Tần số vô tuyến điện

Góp ý dự thảo luật Tần số vô tuyến điện. Ngày 02/10/2009 Ông phó chủ tịch Nguyễn Đức Kiên đã thay mặt UBTVQH , báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật tần số vô tuyến điện, theo đó dự thảo luật tần số bao gồm 08 chương, 48 điều.
Xét chương I, điều 3, giải thích từ ngữ: những cơ sở khoa học, nghiệp vụ, pháp luật xây dựng bộ luật tần số, bao gồm 18 khoản giải thích 18 thuật ngữ dùng trong bộ luật.
Phần nhiều các thuật ngữ được dùng không chính xác, giải thích không rõ ràng.Cụ thể như sau:
Điều 3.3 giải thích "Băng tần số vô tuyến điện là một dải liên tục các tần số vô tuyến điện được giới hạn bởi tần số lớn nhất và tần số nhỏ nhất". Với cách xác định như vậy đó là toàn bộ dải tần số vô tuyến điện được giớ hạn bởi tần số lớn nhất là 3000 GHz và nó đã được định nghĩa ở 3.2 phổ tần số vô tuyến điện.
Nên bỏ điều 3.3. nếu vẫn thích thì có thể xem xét cách giải thich sau: Băng tần số vô tuyến điện là một phần phổ tần số vô tuyến điện được giới hạn bởi hai tần số khác nhau bất kỳ.
Điều 3.4 Kênh tần số vô tuyến điện là một dải liên tục các tần số vô tuyến điện được xác định bởi độ rộng và tần số trung tâm của kênh hoặc các thông số đặc trưng khác. Điều này không chính xác bởi lẽ trong trường hợp dùng phương thức phát J3E phát đơn biên, cắt bỏ một bên tải tần, chỉ phát hoặc biên trên hoặc biên dưới người ta không xác định tần số trung tâm của kênh, hoặc trong kênh vô tuyến truyền hình chỉ sử dụng khái niệm sóng mang kênh tiếng, sóng mang kênh hình mà không sử dụng tần số trung tâm của kênh vô tuyến truyên hình, bao gồm cả kênh tiếng và kênh hình.
Thực chất kênh tần số vô tuyến điện chỉ đơn giản là : một phần phổ tần số vô tuyến điện đủ đảm bảo an toàn cho việc thực hiện một phương thức hoặc một nghiệp vụ thông tin vô tuyến điện.
3.5 Thông tin vô tuyến điện là sự trao đổi tin tức thông qua sóng vô tuyến điện. Chỉ đơn giản vậy thôi.
3.6 Nghiệp vụ vô tuyến điện là một thông tin vo tuyến điện mang tính đặc thù riêng của một chuyên ngành.
Nghiệp vụ phụ là nghiệp vụ xếp thứ tự ưu tiên sau nghiệp vụ chính.
3.7 Đài vô tuyến điện , trong dân trước đây hay dùng "đài" để gọi cái máy thu thanh, đài điện tử , đài bán dẫn, trong chuyên môn có dùng đài thu để chỉ các thiết bị vô tuyến điện chuyên thu tín hiệu, đài phát để chỉ các thiết bị vô tuyến điện chuyên phát tín hiệu.
Thực chất các đài thu hay đài phát chỉ là các thiết bị vô tuyến điện.
Vì vậy nên bỏ điều 3.7 mà dùng điều 3.10 là đủ.
Và, điều 3.10 nên đơn giản là : Thiết bị vô tuyến điện là thiết bị thu, phát, thu phát tin tức thông qua sóng vô tuyến điện.
3.8 Bức xạ vô tuyến điện là năng lượng sinh ra ở dạng sóng vô tuyến điện từ một thiết bị phát vô tuyến điện khi nó hoạt động. Cụm từ : từ một nguồn bất kỳ dùng không chính xác.
3.11 Thiết bị ứng dụng sóng vô tuyến điện, thực chất chính là thiết bị vô tuyến điện, để ứng dụng sóng vô tuyến điện trước hết nó phải là một thiết bị vô tuyến điện, hoặc phát hoặc thu hoặc thu phát sóng vô tuyến điện, giải thích như trong dự thảo luật là chưa chính xác. Điều này nên bỏ vì trong toàn bộ 48 điều luật không có điều nào liên quan đến khái niệm thuật ngữ này.
3.16. Ấn định tần số vô tuyến điện là việc tính toán, phối hợp để cho phép tổ chức, cá nhân sử dụng một tần số vô tuyến điện hoặc kênh tần số theo những điều kiện cụ thể đối với một đài vô tuyến điện. Cách giải thích này hoàn toàn không chính xác, sai về bản chất. Một tần số không thực hiện được thông tin vô tuyến điện, phải có một phổ tần kèm theo làm tải tần đủ để chứa đụng và truyền đưa tin tức cần thiết.
3.17. Kiểm tra tần số vô tuyến điện. Thuật ngữ này dùng không đúng. Như mọi người đều nhìn nhận tần số với tính đặc thù của nó, chỉ có thể thông qua phương tiện kỹ thuật mới có thể giám sát, kiểm soát được tần số vô tuyến điện. Khi kiểm soát được tần số sẽ biết được thiết bị và người sử dụng thiết bị vô tuyến điện, chỉ thông qua kiểm soát mới thực hiện quản lý được. Do đặc thù mà chỉ dùng khái niệm kiểm soát tần số vô tuyến điện như điều 3.18, kiểm soát tần số có đối tượng là các phát xạ vô tuyến điện. Nên bỏ 3.17 Kiểm tra tần số vô tuyến điện vì tính thiếu chính xác của khái niệm này và mặt khác, đối tượng của kiểm tra là thiết bị và người sử dụng thiết bị, có cơ sở các số liệu, kết quả của công việc kiểm soát. Phần việc của kiểm tra tần số nên chuyển sang nội dung thanh tra. Trên đây là những thông tin chuyên môn sâu về tần số và những kiến nghị sửa đổi các nội dung điều 3 cho thật đơn gỉan, dễ hiểu, phù hợp với thực tế và trải nghiệm mấy chục năm quản lý.
Điều 10 Những hành vi bị nghiêm cấm. Đề nghị bổ sung: 10.1. Sử dụng tần số, thiết bị vô tuyến điện trái phép.
Điều 12. Thu hồi quyền sử dụng tần số vô tuyến điện để thực hiện quy hoạch. Mọi cá nhân, tổ chức đều có quyền sử dụng tần số như nhũng quyền khác và đều bình đẳng trước pháp luật.Quyền này chỉ bị thu hồi khi cá nhân , tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật , bị xét xử và bị toà án tuyên tước bỏ. Dùng cụm từ " thu hồi quyền sử dụng tần số vô tuyến điện", không chính xác trong trường hơp này. 12.5 . Nhà nước bồi thường cho tổ chức, cá nhân bị thu hồi quyền sử dụng tần số vô tuyến điện quy định tại khoản 2 Điều này. Không có căn cứ khoa học, pháp lý hay tiền lệ hoặc tương tự cho quy định này. Cần làm rõ "bồi thường" cái gì?. Nhà nước định hướng cho mọi đối tượng tham gia hoạt động quản lý, sử dụng tần số vô tuyến điện, đạt mục đích an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội, khi thấy các hoạt động không đáp ứng yêu cầu mục đích trên,việc điều chỉnh là tất yếu, buộc mọi đối tượng phải chấp hành, việc điều chỉnh cũng được thực hiện theo trình tự thủ tục, theo lộ trình có sự chuẩn bị như quy định ở 12.3. Mặt khác khi tham gia hoạt động sử dụng tần số vô tuyến điện đương sự chỉ phải trả phí, lệ phí, trong quá trình sử dụng tần số họ chỉ chuyên tâm khai thác mà không và không thể tốn phí đầu tư làm "màu mỡ" hay "phong phú" thêm cho tần số vô tuyến điện mà họ đã khai thác và mất đi theo thời gian. Vậy bồi thường cái gì? Lý gì phải bồi thường? Đó là chưa kể lấy tiền ở đâu mà bồi thường? thu được mấy đồng phí thì đã bù đắp vào chi phí quản lý rồi. Quy định này có vẻ ngây ngô thiếu căn cứ.
Điều 13. Quản lý chất lượng phát xạ vô tuyến diện của thiết bị vô tuyến điện. Quy định này không rõ ràng, mọi thiết bị vô tuyến điện (VTĐ) khi hoạt động đều kèm theo phát xạ VTĐ, vì vậy về nguyên tắc mọi thiết bị VTĐ đều phải được kiểm tra và phải đảm bảo mọi chỉ tiêu kỹ thuật quốc gia quy định. Tuy nhiên tuỳ theo chủng loại , chất lượng thiết bị khác nhau sẽ kéo theo nhứng phát xạ VTĐ khác nhau với những ảnh hưởng khác nhau.Do vậy chỉ cần công bố danh mục những thiết bị VTĐ hoạt động có điều kiện không cần chứng nhận hợp quy. Điều luật sẽ được minh bạch hơn.
Điều 14 Bảo đảm an toàn bức xạ VTĐ. Ban soạn thảo không có chuyên môn về điều này. Điều 16. Giấy phép sử dụng tần số VTĐ.
Tần số VTĐ là cụm từ quen dùng trong thông tin VTĐ, tần số VTĐ quy đinh trong giấy phép sử dụng tần số và thiết bị VTĐ luôn được kèm theo một phổ tần đủ đảm bảo an toàn cho một phương thức hay một nghiệp vụ thông tin VTĐ được cấp phép. Ví dụ cụ thể, cấp phép cho một tần số với phương thức phát J3E đương nhiên kèm theo phổ tần số có độ rộng 03KHz, cấp phép cho tần số phát với phương thức A3E đương nhiên kèm theo phổ tần số rộng 06 KHz,cấp phép cho tần số phát vô tuyến truyền hình đương nhiên kèm theo phổ tần số rộng 08 MHz, bao gồm cả phổ tần kênh hình phổ tần kênh tiếng và phổ tần bảo vệ.Vì vậy khái niệm tần số VTĐ trong thông tin VTĐ và trong cấp giấy phép sử dụng tần số phải được hiểu đầy đủ và chính xác là phổ tần số VTĐ (băng tần số , hay kênh tần số). Hay nói cách khác, thực chất cấp giấy phép sử dụng tần số chính là cấp giấy phép sử dụng băng tần số VTĐ. Như vậy việc phân chia cấp phép tần số VTĐ, cấp phép băng tần số VTĐ như điều 16 trên đây và các điều 19, điều 20 sau đây là không không đúng cơ sở kỹ thuật tần số VTĐ.
Điều 18. Phương thức cấp giấy phép sử dụng tần số VTĐ. Quyền sử dụng tần số VTĐ gắn liền với nghĩa vụ khi sử dụng tần số, là trách nhiệm trước Nhà nước, trước pháp luật của đối tượng sử dụng tần số, quyền này đương nhiên có và hoàn toàn bình đẳng với mọi đối tượng. Khái niệm "Thi tuyển" " Đấu giá" quyền sử dụng tần số hoàn toàn mới lạ và không có cơ sở pháp lý. Chủ trương "Đấu giá" quyền sử dụng tần số, có nhiều nội dung cần bàn thảo cân nhắc về tính pháp lý, tính khoa học, tính nghiệp vụ và những hậu quả kèm theo. Đấu giá, trước tiên nhằm đạt mục đích lựa chọn đối tượng có khả năng tài chính để thu về một khoản tiền cao hơn "giá sàn", vì các tiêu chuẩn khác các đối thủ tham gia đấu giá đều đủ và đạt, việc tăng đầu tư cho sử dụng tần số sẽ làm giảm đấu tư cho hệ thống và ứng dụng công nghệ, quản lý cung cấp dịch vụ... làm suy yếu hệ thông ngay từ khi nó chưa kịp ra đời, trái với quy định tại điều 4 luật này. Thực tế trên thế giới cho thấy có trường hợp đấu giá băng tần sau khi thắng thầu với giá cao, không còn đủ tiềm lực để triển khai ứng dụng công nghệ, nhưng đó là đấu giá băng tần số chứ không phải là đấu giá quyền sử dụng tần số. Khái niệm "Băng tần số, kênh tần số có giá trị thương mại cao" hoàn toàn sai, không có cơ sở khoa học, nghiệp vụ. Bản thân các kênh tần số, băng tần số trong toàn bộ phổ tần có giá trị sử dụng như nhau, Nhà nước không chủ trương "Bán" tần số. Việc sử dụng các băng tần số vào các mục đích khác nhau sẽ đem lại các hiệu quả kinh tế khác nhau. Cùng băng tần số GSM chia cho ba nhà khai thác Vinaphon, Mobiphon, Viêtell cùng ứng dụng công nghệ GSM nhưng do cách tổ chức, trình độ quản lý khác nhau...giá trị kinh tế đem lại cho mỗi nhà khai thác cao thấp khác nhau, giá trị tần số của ba nhà khai thác vẫn vậy, vẫn không thay đổi, chỉ có hiệu quả sử dụng, khai thác tần số cao hay thấp. Không cóbăng tần số có giá trị cao hay thấp. Điều 18 sai từ cái tên gọi. Khi đưa ra một khái niệm mới, đặc biệt là đưa vào luật cần hết sức cẩn trọng.
Điều 20. Cấp giấy phép sử dụng băng tần Việc sử dụng tần số trong thông tin VTĐ luôn phải được hiểu đầy đủ và chính xác như trên đã phân tích. Cấp phép tần số bản chất và thực tế là cấp phép băng tần. Việc phân chia cấp phép tần số và cấp phép băng tần là sự thiếu hiểu biết cơ bản về tính đặc thù của tần số.
Điều 24. Chuyển nhượng quyền sử dụng tần số VTĐ. Trách nhiệm pháp lý của bên chuyển và bên nhượng quyền sử dụng tần số? Bên nào chịu trách nhiệm và chịu trach nhiệm đến đâu khi có tranh chấp sảy ra? Nếu có những vi phạm hành chính hay phạm pháp khác trong quá trình sử dụng tần số , trách nhiệm thuộc về bên nhận hay bên chuyển quyền sử dụng? Việc cho phép chuyển quyền sử dụng tần số làm cho đối tượng sử dụng tần số thoát ly khỏi sự quản ký trực tiếp của Nhà nước. Có thể có nhiều hệ luỵ khác ảnh hưởng tới an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội, khi các đối tượng sử dụng tần số chuyển nhượng, câu kết với nhau, lợi dụng tính đặc thù của tần số gây ảnh hưởng đến các băng tần khác mà Nhà nước không quản lý được. Thực chất các điều khoản quy định việc cấp giấy phép chỉ là các quy định thủ tục, chỉ nên soạn ở các văn bản cấp thấp như quy định, quy trình... không cần và không đáng phải đưa vào luật.
Điều 31. Phí, lệ phí tần số VTĐ. Phí, lệ phí là khoản thu ngân sách, phải thực hiện đúng những quy định của Nhà nước về ngân sách. Ngành nào, bộ phận nào cũng có những đặc thù riêng, nếu mỗi ngành, mỗi bộ phận đều "Chạy" được cơ chế chi tiêu riêng, rút được tiền ngân sách chi tiêu cho riêng mình thì Nhà nước bao giờ mới mạnh?
Điều 32. Chứng chỉ vô tuyến điện viên. Người sử dụng, vận hành thiết bị VTĐ phải có đủ năng lực nhận biết, năng lực thực hiện và phải thực hiện các quy định về quản lý khai thác thiết bị VTĐ.
Điều 33. Sử dụng tần số và thiết bị VTĐ trong trường hợp khẩn cấp. Nội dung quy định tại điều 33 như trong dự thảo rất ngu ngơ về kỹ thuật. Tần số VTĐ chưa được cấp phép là những tần số không có đối tượng nào sử dụng, không có ai trực trên đó. Kêu cứu là mong có người nghe , biết mà cứu, kêu ở nơi không có ai nghe thì rõ ràng là ngớ ngẩn. Về tần số an toàn cứu nạn mà kêu, ở đó có người trực thì còn có người nghe còn hy vọng được cứu, đừng ngu gì mà kêu ở nơi không có ai nghe như vậy. Nếu thấy thật cần thiết , thì ngoài những tần số an toàn cứu nạn quốc tế đã quy định, có thể quy định, giành riêng một số tần số an toàn quốc gia, tần số an toàn vùng khu vực cho mục đích an toàn cứu nạn và bắt buộc một số loại thiết bị VTĐ phải cài đặt những tần số an toàn cứu nạn phù hợp.
Điều 36. Các hình thức kiểm tra. (Bỏ kiểm tra định kỳ, giảm phiền hà cho đồi tượng sử dụng tần số VTĐ.Vì toàn bộ hoạt động sử dụng tần số VTĐ của đối tượng đã được giám sát chặt chẽ qua công tác kiểm soát tần số VTĐ). Đối tượng của "kiểm soát tần số VTĐ" là toàn bộ tham số kỹ thuật tần số VTĐ của một thiết bị VTĐ khi nó hoạt động, đủ để nhận biết, đánh giá chất lượng thiết bị, tình trạng pháp lý của chủ thể sử dụng tần số và thiết bị VTĐ. Do tính đặc thù của tần số VTĐ mà khái niệm kiểm tra tần số VTĐ đã được bao hàm trong khái niệm kiểm soát tần số VTĐ. "Kiểm tra tần số VTĐ" trên thực tế đang sử dụng có đối tượng là chủ thể sử dụng tần số VTĐ khác với đối tượng của kiểm soát tần số VTĐ. Thực tế việc chủ thể quản lý tổ chức một đoàn công tác để xem xét thực tế tình hình sử dụng tần số vô tuyến điện, giấy phép tần số vô tuyến điện, chứng chỉ vô tuyến điện viên, đã cấp cho đối tượng là điều không cần thiết và là cách thức quản lý cũ cổ điển thời còn lạc hậu từ những năm 80 của thế kỷ trước, khi đó không có thiết bị kiểm soát tần số VTĐ, cách thức quản lý đó không phù hợp với trình độ quản lý đã được nâng cấp hiện đại hoá như hiện nay. Việc kiểm tra đột xuất được thực hiện khi có dấu hiệu vi phạm , phải được tiến hành theo đúng trình tự , thủ tục, vì vậy nên theo quy định của thanh tra tần số VTĐ). Nên chuyển điều này sang phần Thanh tra Kiến nghị : Bỏ điều 36.
Điều 45.Quản lý sử dụng các tần số VTĐ phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh. Thực chất 45.1 và 45.2 là Bộ TT&TT đã thừa uỷ quyền của Thủ tưởng chính phủ thực hiện việc cấp phép băng tần, kênh tần số VTĐ cho Bộ Quốc phòng và Bộ Công an. Được sự đồng ý bằng văn bản hay đồng ý cấp giấy phép sử dụng tần số và thiết bị VTĐ thì có khác chỉ là khác về hình thức cái giấy phép mà thôi. Như lý luận tại mục tần số an toàn cứu nạn, nếu thực hiện theo quy định tại 45.3 tại dự thảo luật, khó có thể thu được kết quả tốt, mà có thể trái ngược lại, không nhứng không đáp ứng được yêu cầu mục đích bảo vệ chủ quyền an ninh mà còn có thể phương hại đến lợi ích khác của Nhà nước. Theo xu hướng phát triển khoa học , công nghệ đáp ứng mục đích ngày càng cao của xã hội đòi hỏi nâng cao chất lượng và tốc độ thông tin, nhu cầu mở rộng băng tần sử dụng ngày càng cao, việc phân chia nhỏ tần số cho dân sự, an ninh , quốc phòng có vẻ đi ngược xu thế này. Về lý thuyết, việc phân chia băng tần dùng riêng cho an ninh , quốc phòng xẽ làm bó buộc hạn chế, giảm đi cơ hội lựa chon những tần số tối ưu, tần số tốt nhất , thích hợp nhất trong toàn bộ phổ tần số VTĐ cho mục đích an ninh, quốc phòng và như vậy không đáp ứng được tối đa mục đích sử dụng tần số VTĐ cho an ninh, quốc phòng.Mặt khác khả năng bảo mật kém. Tần số VTĐ khi đưa vào sử dụng lập tức bị phát hiên, chỉ những tần số chưa đưa vào sử dụng được coi là bí mật, nay phân chia tần số cho an ninh, quốc phòng, khả năng lộ bí mật đã rõ, việc co cụm lại như vậy làm suy yếu và bộc lộ lực lượng, khi "cá" đã tách khỏi "nước" dễ dàng bị kẻ địch phát hiện tấn công, tiêu diệt . Tần số VTĐ không còn là một thứ vũ khí đặc biệt trong chiến trânh hiện đại. Bộ máy quản lý tăng gấp ba lần . Khi tranh chấp phát sinh có liên quan đến đến ba lực lượng an ninh, quốc phòng, dân sự việc xử lý theo ba loại giấy phép sử dụng tần số và thiết bị VTĐ do ba cơ quan khác nhau cấp sẽ rất khó.
Đi ều 47. Qu ản lý sử dụng thiết bị gây nhiễu. Thiết bị gây nhiễu chính là thiết bị VTĐ, mọi thiết bị VTĐ đều có khả năng gây nhiễu và luôn thường trực gây nhiễu nếu không được quản lý đúng mức. Luật tần số VTĐ trên đây dặc biệt thiếu những điều quy định cụ thể cho việc quản lý thiết bị VTĐ. Có thiết bị VTĐ mới có tần số VTĐ cho chúng ta tìm cách quản lý. Muốn quản lý tốt tần số VTĐ, phải hiểu và biết cách quản lý thiết bị VTĐ. Luật tần số VTĐ trên đây dặc biệt thiếu những điều quy định cụ thể cho việc quản lý thiết bị VTĐ. Dự thảo Luật tần số VTĐ còn nhiều sơ hở, thiếu sót, như trên đã trình bày. Cần cân nhắc tham khảo thêm trước khi quyết định .
  • Người gửi: Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang
  • Email:
  • Ngày gửi: 04:18:47 | 29/05/2009

Nguyên tắc xử lý nhiễu có hại (Khoản 2, Điều 38)

Tại khoản 2 điều này đa số đại biểu đề nghị nên bỏ cụm từ “xử lý” thành “từ chối”. Bởi vì, chứng cứ bị nhiễu có hại rất khó chứng minh trong thực tế, nên Cơ quan chức năng chỉ nên từ chối đề nghị mà không đủ bằng chứng xác thực, không nhất thiết phải “xử lý”.
  • Người gửi: Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang
  • Email:
  • Ngày gửi: 04:02:16 | 29/05/2009

Trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát (Điều 35)

Trong điều này đại biểu có ý kiến rằng nên thêm một khoản là “Các tổ chức, cá nhân nước ngoài không được phép đo kiểm tần số trên lãnh thổ Việt Nam nếu không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cho phép”. Khoản này sẽ thể hiện tính chủ quyền của Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
  • Người gửi: Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang
  • Email:
  • Ngày gửi: 03:58:15 | 29/05/2009

Phí, lệ phí tần số vô tuyến điện (Điều 31)

Có ý kiến cho rằng: Đã xem tần số vô tuyến điện như tài nguyên quí giá, có giá trị rất cao trong kinh tế, văn hóa, chính trị, an ninh, quốc phòng thì không thể dùng phí, lệ phí để thu, mà phải điều chỉnh bằng thuế mới tương xứng với tầm quan trọng của tài nguyên này và đủ tài chính để bù đắp những chi phí cho công tác quản lý tần số vô tuyến điện.
  • Người gửi: Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang
  • Email:
  • Ngày gửi: 03:56:39 | 29/05/2009

Sử dụng chung tần số vô tuyến điện (Điều 26)

Một số đại biểu có ý kiến Ban soạn thảo nên cân nhắc điều luật này hoặc có những quy định cụ thể sự ràng buộc, trách nhiệm lẫn nhau giữa các tổ chức, cá nhân có sử dụng chung tần số vô tuyến điện, vì trên thực tế sự trùng lắp tần số, nhiễu sóng đã gây rất nhiều phiền toái cho người sử dụng tần số vô tuyến điện cũng như người thụ hưởng các dịch vụ từ công nghệ tần số vô tuyến điện.
  • Người gửi: Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang
  • Email:
  • Ngày gửi: 03:52:44 | 29/05/2009

Đảm bảo an toàn bức xạ vô tuyến điện (Khoản 2, Điều 15)

Quy định tại khoản 2 “trước khi đưa các đài ………vào khai thác, sử dụng phải thực hiện việc đo kiểm an toàn bức xạ vô tuyến theo quy định". Qui định này có được áp dụng cho các thiết bị sử dụng cho mục đích thử nghiệm giới thiệu công nghệ tại các cuộc triển lãm, hội chợ không? Có ý kiến nên có bổ sung hoặc thêm một khoản qui định vấn đề này hoặc có văn bản dưới luật quy định chi tiết để không bất cập khi áp dụng luật.
  • Người gửi: Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang
  • Email:
  • Ngày gửi: 03:49:54 | 29/05/2009

Quản lý chất lượng phát xạ và tương thích điện từ đối với thiết bị vô tuyến điện (Khoản 1, Điều 13)

Đại biểu có ý kiến tại khoản 1 điều này “Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu các thiết bị vô tuyến điện trước khi đưa…………vào lưu thông trên thị trường……….phải thực hiện các thủ tục công bố, chứng nhận và đánh dấu hợp chuẩn, hợp quy theo quy định”. Cho rằng điều này nên bỏ cụm từ “kinh doanh” vì ngay từ khâu sản xuất, nhập khẩu thì các thủ tục công bố, hợp chuẩn, hợp quy bắt buộc phải thực hiện rồi nên trước khi đưa ra thị trường kinh doanh, sử dụng thì các quy định đó đã có.
  • Người gửi: Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang
  • Email:
  • Ngày gửi: 03:47:32 | 29/05/2009

Những hành vi bị nghiêm cấm (Khoản 3, Điều 9)

Đa số đại biểu đồng tình trong 3 khoản của điều này, nhưng chỉ quy định những điều cấm đối với người có sử dụng tần số vô tuyến điện, mà lại không có nghiêm cấm hành vi của người khác gây cản trở, phá hoại (nhiều mục đích) việc xây dựng các hệ thống có sử dụng tần số vô tuyến điện hợp pháp. Vì vậy, đề nghị trong điều này nên thêm một khoản “Nghiêm cấm các hành vi gây rối, cản trở, phá hoại việc xây dựng các hệ thống thông tin vô tuyến điện, sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện hợp pháp”
  • Người gửi: Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang
  • Email:
  • Ngày gửi: 03:45:48 | 29/05/2009

Thanh tra tần số vô tuyến điện (Điều 8)

Đại biểu có ý kiến nên thêm cụm từ “Bộ trưởng Bộ Thông tin và truyền thông qui định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra tần số vô tuyến điện” vào điều luật này cho chặt chẽ hơn, đầy đủ hơn.
  • Người gửi: Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang
  • Email:
  • Ngày gửi: 03:43:31 | 29/05/2009

Nội dung quản lý nhà nước về tần số vô tuyến điện (Điều 6)

Có ý kiến, trên thực tế hiện nay việc sử dụng tần số vô tuyến điện ở khu vực biên giới còn gặp nhiều khó khăn, nhất là việc nhiễu sóng với các tần số của nước bạn, từ đó để khắc phục hoặc thay đổi tần số đã gây thiệt hại không nhỏ cho cá nhân, tổ chức sử dụng tần số vô tuyến điện cả về vật chất và uy tín. Đề nghị bổ sung 01 khoản của điều này là “Tổ chức phối hợp với các nước có chung đường biên giới với Việt Nam trong việc sử dụng tần số vô tuyến điện ở khu vực biên giới”.
  • Người gửi: Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang
  • Email:
  • Ngày gửi: 03:25:07 | 29/05/2009

Trách nhiệm quản lý tần số vô tuyến điện (Khoản 3, Điều 7)

Một số đại biểu có ý kiến tại khoản 3 điều này, đề nghị có cần thiết lập Ủy ban Tần số vô tuyến điện hay không? Vì hiện nay đang tồn tại một số cơ quan quản lý chuyên ngành về tần số vô tuyến điện: cao nhất đó là Bộ Thông tin và truyền thông và trực tiếp đó là Cục tần số vô tuyến điện và các trung tâm tần số vô tuyến điện khu vực… Vì lẽ đó, đề nghị “thực hiện chức năng tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về hoạt động phối hợp quản lý và sử dụng tần số vô tuyến điện giữa các lĩnh vực dân sự, quốc phòng, an ninh” nên dành cho Bộ Thông tin và truyền thông sẽ hợp lý hơn vì đây là cơ quan quản lý chuyên ngành.
  • Người gửi: Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang
  • Email:
  • Ngày gửi: 03:23:25 | 29/05/2009

Giải thích từ ngữ (Điều 3)

Có ý kiến Ban soạn thảo nên giải thích thêm cụm từ “Tần số vô tuyến điện”. Vì đây là thuật ngữ dùng để làm tên gọi của Luật và cũng là thuật ngữ sử dụng chủ yếu trong luật này, cần giải thích rõ, sau đó giải thích các từ ngữ có liên quan. Có ý kiến thêm cụm từ “vô tuyến điện” vào khoản 13 điều này. Cụ thể: “Đài vô tuyến điện mặt đất………..” để thể hiện rõ hơn đối tượng mà luật muốn đề cập.
  • Người gửi: Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang
  • Email:
  • Ngày gửi: 03:21:46 | 29/05/2009

Về bố cục của dự thảo Luật

Có ý kiến trong luật có quy định về các tiêu chuẩn kỹ thuật, điều kiện và thủ tục cấp phép sử dụng tần số vô tuyến điện, công tác kiểm tra, kiểm soát tần số vô tuyến điện, xử lý nhiễu có hại là những quy định có thể phát sinh vi phạm trong quản lý và thực hiện. Vì vậy, đề nghị Ban soạn thảo xem lại có nên bổ sung thêm 01 chương quy định về xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại và tranh chấp cho phù hợp.
  • Người gửi: Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang
  • Email:
  • Ngày gửi: 03:20:18 | 29/05/2009

Về tên gọi của dự thảo Luật

Các đại biểu thống nhất với tên gọi “Luật Tần số vô tuyến điện” vì cum từ này thể hiện đầy đủ phạm vi điều chỉnh và đối tượng điều chỉnh.
  • Người gửi: Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang
  • Email:
  • Ngày gửi: 03:18:04 | 29/05/2009

Sự cần thiết ban hành Luật Tần số vô tuyến điện

Đa số đại biểu thống nhất sự cần thiết phải ban hành Luật Tần số vô tuyến điện, trước tiên là ngày càng hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật Việt Nam, bên cạnh đó là khắc phục một số tồn tại, bất cập trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tần số vô tuyến điện chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin vô tuyến trong mọi lĩnh vực quốc phòng an ninh, kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước và hội nhập quốc tế, từ đó tần số vô tuyến điện ngày càng quý hiếm và thật sự nó đã trở thành tài nguyên quý giá. Vì vậy cần phải có Luật hoàn chỉnh để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng và quản lý tài nguyên này.
  • Người gửi:
  • Email:
  • Ngày gửi: 16:37:49 | 28/05/2009

 

TRUNG TÂM THÔNG TIN, THƯ VIỆN VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ : 35 Ngô Quyền - Hà Nội - Điện thoại: 080.43838 - Fax: 080.46830
Email: cilires@qh.gov.vn
Được xây dựng với sự tài trợ của Quỹ Châu Á và được nâng cấp với sự hỗ trợ của Dự án DANIDA