|
Dự thảo mới
Số lần truy cập
|
Dự thảo luật
Dự thảo luật Tố tụng hành chính
Một số thông tin cơ bản: Cơ quan trình dự thảo: Chính phủ Cơ quan chủ trì soạn thảo: Toà án nhân dân tối cao Uỷ ban chủ trì thẩm tra: Uỷ ban Tư Pháp Dự kiến thảo luận cho ý kiến tại: Dự kiến biểu quyết thông qua tại: Phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật: Luật này quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hành chính; trình tự, thủ tục khởi kiện và giải quyết các vụ án hành chính; thi hành án hành chính; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan.
Các tài liệu tham khảo
Góp ý về dự thảo Luật Tố tụng haàn chính Luật Tố tụng hành chính là qui tắc xử sự giữa các cơ quan Nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động tốc độ và hiệu quả. Người Việt Nam, trẻ con cũng biết trò chơi oẳn tù tì, tức trò chơi: cây búa cây kéo và cái bao.Cái bao chùm cây búa,cây búa đập cây kéo, cây kéo cắt cái bao. Ba cơ quan Nhà nước phải hạn chế quyền lực lẫn nhau và phối hợp hoạt động nhằm tăng cường quyền lực Nhà nước.
Điều Luật trong dự thảo Luật tố tụng hành chính nên ngắn gọn ai cũng hiểu.
Chân thành đóng góp cùng Quốc Hội!
LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH Trong tranh chấp đất đai,UBND thị xã giải quyết lần đầu, bị khiếu nại UBND tỉnh ra quyết định giải quyết lần 2 nhưng người tranh chấp xét thấy chưa đúng khách quan. Vậy người tranh chấp bị thiệt về quyền lợi, có quyền khởi kiện tại Toà án hành chính tỉnh hay không? Hiện tại, theo pháp lệnh GQAHC và Luật Đất Đai thì QĐ của UBND tỉnh là quyết định cuối cùng. Như vậy là chưa hợp lý, chẳng lẽ UBND tỉnh là Nhà nước cao nhất? Hơn nữa về cơ cấu tổ chức Nhà nước hiện tại về mặt tổ chức Đảng thì Chủ tịch tỉnh là phó bí thư tỉnh về mặt Đảng, chánh án Toà án tỉnh nhỏ hơn chủ tịch tỉnh thì thử hỏi Toà án tỉnh có xét xử được chủ tịch Tỉnh hay không? Nguyên tắc cơ bản của luật là bảo đảm quyền dân chủ công bằng văn minh vì thế đề nghị Ban soạn thảo xem xét cho phù hợp.
Vai trò của luật sư trong tố tụng hành chính Trong một chế độ dân chủ, đã nói đến Toà án là phải nói đến luật sư, nói đến công tác xét xử thì không thể nói đến vai trò của luật sư. Vì nội dung cơ bản của dân chủ là quyền của công dân, quyền của con người. Và một trong những người bảo vệ quyền con người là luật sư.
Chức năng, nhiệm vụ của luật sư đã được quy định tại Luật Luật sư. “Bằng hoạt động của mình, tổ chức luật sư góp phần tích bảo về pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần vào việc giải quyết các vụ án được khách quan, đúng pháp luật, thực hiện quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa”.
Nghị định số 15/HĐBT ngày 21/2/1989 (Hết hiệu lực) của Hội đồng Bộ trưởng từng nói “Luật sư có nhiệm vụ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cua công dân, bảo vệ pháp chế và chế độ xã hộichủ nghĩa”. Không phải ngẫu nhiên mà Nghị định đặt nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của công dân lên hàng đầu. Chiến lược cơ bản của chế độ ta là chiến lược con người, là “tất cả vì dân”, “tất cả vì hạnh phúc của con người”.
Để đạt được mục đích cao cả đó, việc xét xử của Toà án phải đảm bảo công lý. Luật sư, qua việc làm sáng tỏ sự thật về vụ án và vận dụng đúng đắn pháp luật cóliên quan, góp phần tích cực cùng với Toà án, bảo đảm công lý, bảo vệ quyền con người, bảo đảm pháp chế. Do đó, sự đảm nhận một vai trò rất quan trọng trong bộ máy xét xử, và là một bánh xe cần thiết, không thể thiếu được trong bộ máy xét xử.
Vai trò của luật sư càng cần thiết và quan trọng trong việc giải quyết các vụ kiện hành chính. Vì từ trước tới nay, công dân chỉ có quyền khiếu tố đến cơ quan hành chính, quyền này được các Hiến pháp của Nhà nước ta và Pháp lệnh về khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1981 và 1991 quy định. Nhưng quyền đó nhiều khi không thực hiện được trong thực tế. Vì người bị kiện chính là “quan toà”. Đôi khi đơn khiếu tố được giải quyết bằng một chỉ thị hành chính. Nhưng chỉ thị đó không có hiệu lực thi hành và thường không được thi hành.
Bởi vậy, việc thiết lập Toà án hành chính cùng với vai trò của luật sư tại Toà án đó là một đòi hỏi bức bách của nhân dân.
I. TÍNH ĐẶC THÙ CỦA VAI TRÒ LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG XÉT XỬ HÀNH CHÍNH
Vai trò của luật sư trong tố tụng xét xử hành chính có những nét đặc thù sau:
1- Những hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước là những hành vi đơn phương mà cơ quan quản lý nhà nước áp đặt đối với người bị quản lý
Quan hệ quản lý vốn là quan hệ không bình đẳng. Việc người dân đứng ra kiện trước Toà án những hành vi hành chính của cơ quan quản lý nhà nước cũng là một quan hệ không bình đẳng.
Vì người dân dứng kiện là người bị quản lý, về cơ bản là người “thân cô, thế cô”. Còn người bị kiện là cơ quan nhà nước có cả thế lực của bộ máy nhà nước đứng sau mình, làm chỗ dựa cho mình. Hơn nữa, nói chung người dân đi kiện ít am hiểu hoặc không am hiểu pháp luật, lại càng không am hiểu công việc và luật lệ và quản lý hành chính nhà nước.
Với tình trạng như vậy thì dù luật có quy định nguyên tắc bình đẳng ấy cũng khó thực hiện, thực tế chỉ là những chữ suông, vô nghĩa.
Để khắc phục tình trạng bất bình đó, vai trò luật sư là cần thiết.
2- Toà án hành chính khác Toà án thường:
Các Toà án thường, khi xét xử về dân sự thì xác định các quyền dân sự của công dân; khi xét xử về hình sự thì xác định trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Toà án hành chính không làm những việc đó, mà chỉ phán quyết về tính hợp pháp của quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan nhà nước hoặc nhân viên nhà nước.
Người dân đi kiện không dễ dàng chứng minh được tính bất hợp pháp của hành vi hành chính. Sự giúp đỡ của luật sư là cần thiết.
3- Quyền của người dân đi kiện rất quan trọng về ý nghĩa và phạm vi. Cụ thể, người dân đi kiện cơ quan hoặc nhân viên nhà nước có quyền tự định đoạt rất lớn, bao gồm các quyền:
a) Đòi huỷ bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật, hoặc chấm dứt hành vi hành chính trái phápluật.
b) Sửa đổi yêu cầu.
c) Rút đơn kiện
d) Đòi cơ quan hành chính nhà nuớc thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
đ) Đòi được khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
e) Tham gia thẩm cứu, bằng cách:
- Đưa ra những chứng cứ, tài liệu, lý lẽ, giải trình để bảo vệ quyền lợi của mình.
- Yêu cầu Toà án cho biết nội dung giải trình của bên bị kiện.
- Tranh luận viết để đối đáp những luận cứ của bên bị kiện.
- Yêu cầu Toà án xem xét tại chỗ.
- Yêu cầu Toà án áp dụng những biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ quyền lợi của mình.
- Tranh luận miệng tại phiên tào với bên bị kiện.
h) Hơn nữa, người dân đi kiệncó quyền tham gia xét xử bằng cách đưa ra giải pháp hợp pháp cho vụ kiện, tức là đưa ra dự thảo bản án, phán quyết vụ kiện.
Giải pháp hợp pháp gồm 2 phần:
- Sửa đổi hoặc huỷ bỏ hành vi hành chính.
- Mức bồi thường thiệt hại.
Người dân thường, nói chung, không đủ trình độ pháp lý để sử dụng có hiệu quả các quyền quan trọng nói trên, nhất là quyền đưa ra những chứng cứ, tài liệu, lý lẽ, giải trình và đưa ra giải pháp hợp pháp cho Toà án để bảo vệ quyền lợi của mình. Bởi vậy, vai trò của luật sư là cần thiết.
4- Tính độc lập của Thẩm phán Toà án hành chính, khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật và không chịu bất cứ một áp lực nào, là một nguyên tắc cực kỳ quan trọng đối với các vị quan toà nói chung và đặc biệt đối với quan toà xử cơ quan và nhân viên nhà nước. Nếu họ không độc lập xét xử thì quyền lợi chính đáng của người dân không được bảo vệ.
Vai trò của luật sư trong tố tụng xét xử hành chính là một yếu tố quan trọng góp phần bảo đảm tính độclập đó.
II. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TRONG XÉT XỬ HÀNH CHÍNH
Mục đích chủ yếu của Toà án hành chính là góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đồng thời bảo vệ pháp chế, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước.
Luật sư có trách nhiệm vụ tích cực góp phần vào việc thực hiện mục đích đó trên cơ sở quan điểm đặt lợi ích nhà nước và lợi ích bảo vệ pháp chế lên trên hết, trung thực, chí công, vô tư, tôn trọng sự thật, bảo đảm công lý.
Do đó, luật sư có những quyền hạn và nghĩa vụ như sau: Mỗi quyền hạn đồng thời là một nghĩa vụ, cũng như mỗi nghĩa vụ đồng thời là một quyền hạn mà luật sư phải thực hiện với tất cả lương tâm và trách nhiệm của một luật sư chân chính:
1- Quyền đại diện cho đương sự trong tố tụng xét xử hành chính.
2- Quyền bình đẳng với cơ quan hoặc nhân viên nhà nước bị kiện trong quá trình tố tụng xét xử hành chính.
3- Quyền đòi:
- Huỷ bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính trái phápluật.
- Chấm dứt hành vi hành chính trái pháp luật.
- Cơ quan hành chính nhà nước phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
- Khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân đứng kiện.
4- Quyền tham gia thẩm cứu và tham gia xét xử như đã trình bày ở trên.
5- Quyền được biết các luận cứ và giải trình của bên bị kiện.
6- Quyền tranh luận viết và tranh luận miệng trong quá trình thẩm cứu và xét xử của Toà án hành chính.
(theo Vibonline.com)
Các bên trong tố tụng hành chính 1 - Vấn đề quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng hành chính. Quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng hành chính, đặc biệt là của các bên trong tố tụng hành chính, là một trong những nội dung cơ bản của quan hệ pháp luật tố tụng hành chính. Quy định quyền và nghĩa vụ của các bên trong tố tụng hành chính thực chất là xác định địa vị pháp lý của họ trong tố tụng hành chính, phải xuất phát từ đặc thù của tố tụng hành chính so với các thủ tục tố tụng hình sự, tố tụng dân sự… Có thể nói, đặc thù cơ bản nhất của tố tụng hành chính là tố tụng tiến hành chủ yếu ở Toà án,và kết quả của nó là một quyết định hành chính của cơ quan nhà nước hoặc hành vi hành chính của nhân viên cơ quan nhà nước được phán xét có đúng pháp luật hay không. Một đặc điểm nữa của tố tụng hành chính cũng cần phải thấy là, trước khi vụ kiện hành chính được đưa ra Toà án hành chính, nó đã được giải quyết theo thủ tục khiếu nại hành chính nhưng đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại.
Từ đó, việc xác định phạm vi các quyền và nghĩa vụ của cá bên trong tố tụng hành chính phải được đáp ứng hai yêu cầu sau đây:
- Bảo đảm để đương sự có điều kiện bảo vệ quyền mà học cho là bị xâm hại.
- Bảo đảm để tố tụng được tiến hành nhanh chóng, có hiệu lực và hiệu quả.
2_ Về quyền và nghĩa vụ của bên bị kiện:
Trước hết theo chúng tôi, cần khẳng định một số diểm có tính nguyên tắc là côn dân, tổ chức bị thiệt hại do quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của nhân viên nhà nưúơc gây ra có quyền phát đơn kiện trước Toà án hành chính. Có khẳng định đây là một quyền chính yếu của bên bị hại (bên kiện) thì mới quy định được nghĩa vụ thụ lý đơn kiện để giải quyết, thì bên bị hại có quyền được thừa nhận là bên kiện trong vụ kiện hành chính. Việc này làm phát sinh nghĩa vụ của Toà án phải ra quyết định về việc cá nhân hoặc tổ chức có đơn kiệnlà bên kiện trong vụ án hành chính. Chỉ có cá nhân hoặc tổ chức được Toà án thừa nhận là bên kiện trong vụ kiện hành chính mới có các quyền do pháp luật về tố tụng hành chính quy định.
Bên kiện có quyền được tham gia phiên toà xét xử. Việc khẳng định quyền tham gia phiên toà xét xử vụ kiện hành chíh của bên kiện đòi hỏi phải quy định nghĩa vụ của Toà án bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền này như phải triệu tập, thông báo nội dung và quyết định vụ kiện ra xét xử cũng như phải cân nhắc việc có hoãn phiên toà hay không trong trường hợp đương sự vắng mặt có lý do chính đáng….
Bên kiện có quyền yêu cầu thay đổi Thẩm phán, thư ký phiên toà và một số người khác như giám định viên, người phiên dịch nếu có căn cứ do luật định. Để bảo về quyền lợi của mình bị xâm hại, bên kiện có quyền đưa ra chứng cứ, trình bày lý lẽ và tranh luận với bên bị kiện, và trong một số trường hợp có quyền yêu cầu Toà án áp dụng những biện phá khẩn cấp tạm thời.
Một vấn đề đặt ra là công dân ở độ tuổi bao nhiêu thì có quyền tự mình tham gia tố tụng hành chính. Về vấn đề này có quan điểm cho rằng công dân phải đủ 18 tuổi mới có quyền tự mình tham gia tố tụng hành chính, còn dưới tuổi đó (hay còn gọi là người chưa thành niên) thì phải có người đại diện hợp pháp thay mặt mình tham gia tố tụng. Chúng tôi cho rằng, việc giới hạn mức tuổi như vậy là không hợp lý, phần nào đã vi phạm quyền dân chủ của công dân, đặc biệt là quyền khiếu nại. Theo Bộ luật lao động thì công dân từ 15 tuổi đã có thể giao kết hợp đồng lao động. Nếu họ bị cơ quan sử dụng lao động xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp thì có quyền yêu cầu Toà án hành chính bảo vệ hay không? Theo chúng tôi, họ có toàn quyền như vậy mà không phải thông qua một người nào khác. Tất nhiên, do họ là người chưa thành niên nên họ có thể nhờ người đạidiện hợp pháp thay mặt mình tham gia tố tụng hành chính, nhưng không nhất thiết phải thông qua người đại diện hợp pháp mới được khởi kiện vụ kiện hành chính. Nói một cách khác, đây là vấn đề thuộc quyền lựa chọn của người chưa thành niên: Họ có thể tự mình hoặc nhờ người đại diện hợp pháp thay mình tham gia tố tụng hành chính. Trường hợp khác phổ biến hơn là việc khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính thì người từ 14 tuổi đã phải chịu trách nhiệm hành chính đặc biệt là trong lứa tuổi từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi cũng đã phải chịu trách nhiệm đối với mọi vi phạm hành chính do mình gây ra. Như vậy, nếu ở tuổi dưới 18 mà bịcơ quan nhà nước phạt hành chính thì có quyền yêu cầu Toà án hành chính xem xét tính hợp pháp của quyết định xử phạt hay không, hay nhất thiết phải thông qua người đại diện hợp pháp. Theo chúng tôi, họ có quyền tự mình khởi kiện vụ kiện hành chính trước Toà án hành chính.
Về nghĩa vụ của bên kiện, theo chúng tôi, bên kiện phải cung cấp các thông tin tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu của mình. Việc có mặt theo giấy triệu tập của Toà án có phải là nghĩa vụ của bên kiện không? Có ý kiến cho rằng đây là nghĩa vụ của bên kiện vì các bên trong tố tụng hành chính (không kể là bên kiện hay bên bị kiện) đều phải tuân theo yêu cầu của Toà án. Khi Toà án có giấy triệu tập, các bên có nghĩa vụ phải có mặt theo giấy đó. Chúng tôi cho rằng, tham gia phiên toà là quyền của bên kiện, do đó việc phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án không phảilà nghĩa vụ của bên kiện mà chỉ là nghĩa vụ của bên bị kiện. Trong trường hợp bên kiện không có mặt theo giấy triệu tập của Toà án thì Toà án có thể hoãn phiên toà nếu sự vắng mặt của bên kiện là có lý do chính đáng thì Toà án có thể quyết định đình chỉ vụ việc, tức là không giải quyết yêu cầu của bên kiện.
3- Về quyền và nghĩa vụ của bên bị kiện:
Bên bị kiện có những quyền của một bên tham gia tố tụng hành chính. Theo chúng tôi nghĩ thì quyền đầu tiên của bên bị kiện là quyền được biết mình bị kiện về việc gì và người kiện mình là ai. Có khẳng định quyền này của bên bị kiện thì mới quy định đưa vụ kiện ra xét xử và nội dung vụ kiện. Mặt khác, bên bị kiện có được biết mình bị kiện về việc gì và bao giờ Toà án mới xét xử thì họ mới có điều kiện chuẩn bị các tài liệu, chứng cứ và lý lẽ chứng minh tính đúng đắn của quyết định hành chính của mình (thu thập tài liệu, chứng cứ, nhờ luật sư giúp đỡ).
Bên bị kiện có quyền xuất trình chứng cứ, đưa ra lý lẽ và tranh luận trước Toà để bác bỏ yêu cẩu của bên kiện, chứng minh tính hợp pháp của quyết định hoặc hành vi hành chính của mình.
Bên bị kiện có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Toà án, thực hiện các yêu cầu của Toà án như cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung vụ kiện.
Trong trường hợp bên bị kiện không có mặt theo giấy triệu tập của Toà án có thể hoãn phiên toà nếu sự vắng mặt đó là có lý do chính đáng; nếu vắng mặt không có lý do chính đáng thì tuỳ trường hợp, Toà án có thể xét xử vắng mặt hoặc ra lệnh bên bị kiện phải đến tham gia phiên toà. Có quy định như vậy mới hy vọng góp phần khắc phục tình trạng vi phạm quyền dân chủ của công dân. Bởi vì, bên bị kiện là cơ quan hành chính đòi ra quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính vi phạm quyền của công dân, nay Toà án yêu cầu đến Toà án để giải trình về tính hợp pháp của quyết định hoặc hành vi hành chính đó thì họ phải đến Toà, khong được chây ỳ, xem thường pháp luật, gây khó khăn cho Toà án giải quyết việc khôi phục quyền dân chủ của công dân./.
(theo vibonline.com)
|
![]()
Thông qua website này, Quý vị có thể tiếp cận toàn văn các dự thảo, dự án đang được QH, UBTVQH xem xét, thảo luận.
Quý vị có thể đóng góp ý kiến của mình về nội dung của các dự án, dự thảo. Các ý kiến của Quý vị sẽ được tổng hợp và gửi đến các cơ quan có thẩm quyền để nghiên cứu tiếp thu vào việc xây dựng và chỉnh lý dự thảo văn bản.
|







