|
Dự thảo mới
Số lần truy cập
|
Dự thảo luật
Dự thảo Luật tiếp cận thông tin
Một số thông tin cơ bản: Cơ quan trình dự thảo: Chính phủ Cơ quan chủ trì soạn thảo: Bộ Tư pháp Ủy ban chủ trì thẩm tra: Ủy ban pháp luật của Quốc hội Dự kiến thảo luận cho ý kiến tại: Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XII, tháng 10-2009 Dự kiến biểu quyết thông qua tại: Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII, tháng 5 - 2010 Phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật: Luật này quy định về quyền tiếp cận thông tin của cá nhân, tổ chức; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin; quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong việc tiếp cận thông tin; hình thức, trình tự, thủ tục tiếp cận thông tin và các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Gợi ý lấy ý kiến
1. Về tên gọi của Dự thảo Luật Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, nên lấy tên là "Luật tiếp cận thông tin", vì tên gọi như vậy thể hiện đầy đủ nội dung “quyền được thông tin” theo quy định tại Điều 69 của Hiến pháp, nhấn mạnh tính chủ động của công dân, tổ chức trong việc yêu cầu cung cấp thông tin, đồng thời làm rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức. Hơn nữa, tên gọi “Luật tiếp cận thông tin” cũng đã được ghi nhận trong Nghị quyết số 27/2008/NQ-QH12 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 và bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XII. Loại ý kiến thứ hai cho rằng, nên lấy tên gọi của Luật là "Luật về quyền được thông tin" vì việc ban hành Luật này là nhằm cụ thể hóa Điều 69 của Hiến pháp. Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá X) về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí cũng xác định việc nghiên cứu ban hành Luật bảo đảm quyền được thông tin của công dân. Loại ý kiến thứ ba cho rằng, nên lấy tên gọi của Luật là "Luật cung cấp và tiếp nhận thông tin" vì từ “tiếp cận” gây cảm giác là người dân chưa thực sự có được thông tin cần thiết và từ này vẫn chưa thực sự quen thuộc với người dân Việt Nam. 2. Về các chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin (Điều 4 Dự thảo Luật) Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, chủ thể phải cung cấp thông tin là tất cả các cơ quan nhà nước bao gồm cơ quan quyền lực, cơ quan hành chính, toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, vì các cơ quan này trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ đều tạo ra và nhận được nhiều thông tin liên quan đến đời sống xã hội, quyền và lợi ích của công dân, tổ chức. Do vậy, thông tin của các cơ quan này cần phải được công khai rộng rãi hoặc cung cấp theo yêu cầu. Hơn nữa, trong thời gian qua, bằng nhiều phương thức và ở những mức độ khác nhau, các cơ quan nêu trên cũng đã thực hiện việc cung cấp thông tin cho công dân, tổ chức. Loại ý kiến thứ hai cho rằng, chủ thể phải cung cấp thông tin là tất cả các cơ quan nhà nước và các tổ chức có sử dụng tài sản, ngân sách nhà nước (bao gồm các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức do Thủ tướng Chính phủ thành lập, tổ chức sự nghiệp dịch vụ công, doanh nghiệp nhà nước, quỹ được thành lập theo quy định của pháp luật), trừ tổ chức chính trị. Loại ý kiến thứ ba cho rằng, chủ thể phải cung cấp thông tin là tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức có sử dụng tài sản, ngân sách nhà nước và tổ chức chính trị. 3. Về phạm vi thông tin được quy định trong Dự thảo Luật (Điều 2 Dự thảo Luật) Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, phải loại các thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật đời tư và bí mật kinh doanh ra khỏi phạm vi điều chỉnh của Luật này vì đã có quy định trong các văn bản pháp luật khác. Kinh nghiệm các nước cũng cho thấy luật tiếp cận thông tin của hầu hết các quốc gia đều không điều chỉnh việc cung cấp các loại thông tin này. Việc tiếp cận các thông tin này phải do các văn bản pháp luật riêng biệt điều chỉnh như Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật bảo vệ bí mật nhà nước.... Loại ý kiến thứ hai cho rằng, Luật tiếp cận thông tin phải quy định đầy đủ các loại thông tin được tiếp cận, loại thông tin không được tiếp cận (thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật đời tư và bí mật kinh doanh). 2. Về các chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin (Điều 4 Dự thảo Luật) Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, chủ thể phải cung cấp thông tin là tất cả các cơ quan nhà nước bao gồm cơ quan quyền lực, cơ quan hành chính, toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, vì các cơ quan này trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ đều tạo ra và nhận được nhiều thông tin liên quan đến đời sống xã hội, quyền và lợi ích của công dân, tổ chức. Do vậy, thông tin của các cơ quan này cần phải được công khai rộng rãi hoặc cung cấp theo yêu cầu. Hơn nữa, trong thời gian qua, bằng nhiều phương thức và ở những mức độ khác nhau, các cơ quan nêu trên cũng đã thực hiện việc cung cấp thông tin cho công dân, tổ chức. Loại ý kiến thứ hai cho rằng, chủ thể phải cung cấp thông tin là tất cả các cơ quan nhà nước và các tổ chức có sử dụng tài sản, ngân sách nhà nước (bao gồm các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức do Thủ tướng Chính phủ thành lập, tổ chức sự nghiệp dịch vụ công, doanh nghiệp nhà nước, quỹ được thành lập theo quy định của pháp luật), trừ tổ chức chính trị. Loại ý kiến thứ ba cho rằng, chủ thể phải cung cấp thông tin là tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức có sử dụng tài sản, ngân sách nhà nước và tổ chức chính trị.
3. Về phạm vi thông tin được quy định trong Dự thảo Luật (Điều 2 Dự thảo Luật) Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, phải loại các thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật đời tư và bí mật kinh doanh ra khỏi phạm vi điều chỉnh của Luật này vì đã có quy định trong các văn bản pháp luật khác. Kinh nghiệm các nước cũng cho thấy luật tiếp cận thông tin của hầu hết các quốc gia đều không điều chỉnh việc cung cấp các loại thông tin này. Việc tiếp cận các thông tin này phải do các văn bản pháp luật riêng biệt điều chỉnh như Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật bảo vệ bí mật nhà nước.... Loại ý kiến thứ hai cho rằng, Luật tiếp cận thông tin phải quy định đầy đủ các loại thông tin được tiếp cận, loại thông tin không được tiếp cận (thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật đời tư và bí mật kinh doanh). 4. Về cơ quan giúp Chính phủ trong việc quản lý nhà nước về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin (Điều 30 Dự thảo Luật) Để giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và nhất là có cơ chế theo dõi, đánh giá việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin, Dự thảo Luật dự kiến giao cho một cơ quan của Chính phủ thực hiện nhiệm vụ này. Các cơ quan của Chính phủ có thể được giao là Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Bộ Thông tin và Truyền thông. Mỗi cơ quan này đều có những lợi thế riêng trong việc thi hành Luật. Với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Bộ Nội vụ có thuận lợi trong việc quản lý công tác lưu trữ hồ sơ, tài liệu và cán bộ, công chức; trong việc theo dõi, thống nhất việc thực hiện chủ trương cải cách hành chính và cũng có thuận lợi trong việc bảo đảm nguồn nhân lực cho việc thực thi Luật. Bộ Tư pháp có thuận lợi trong việc theo dõi, đánh giá về việc bảo đảm thi hành Luật trong quá trình theo dõi, đánh giá công tác thi hành pháp luật nói chung; có thuận lợi trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật, hướng dẫn thực thi Luật, tăng cường nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức trong việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin cũng như nâng cao nhận thức của người dân về quyền tiếp cận thông tin. Còn Bộ Thông tin và Truyền thông phụ trách lĩnh vực báo chí, công nghệ thông tin, điện tử, có thuận lợi trong việc bảo đảm về cơ sở vật chất, kỹ thuật, đặc biệt là các phương tiện hỗ trợ cho việc tiếp cận thông tin. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng dù giao cho bộ nào thuộc Chính phủ thực hiện chức năng theo dõi, đánh giá việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin thì cơ chế này vẫn chưa hiệu quả, vì cơ chế giải quyết khiếu nại vẫn theo mô hình truyền thống - công dân có quyền khiếu nại đối với một quyết định từ chối cung cấp thông tin lên cơ quan cấp trên của cơ quan từ chối cung cấp thông tin. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, cơ chế này được đánh giá là ít tốn kém nhưng kém hiệu quả vì các cơ quan giải quyết khiếu nại hành chính thường có xu hướng ủng hộ các quyết định từ chối cung cấp thông tin của cơ quan cấp dưới mà các cơ quan nhà nước thường có xu hướng không muốn cung cấp hoặc trì hoãn việc cung cấp thông tin, điều đó dẫn đến tình trạng quy định của luật dễ trở thành những tuyên bố mang tính hình thức, không có giá trị thực thi. Vì vậy, để bảo đảm việc thực thi Luật tiếp cận thông tin có hiệu quả, cần thành lập một Uỷ ban thông tin độc lập chuyên trách giám sát việc thực thi quyền tiếp cận thông tin như kinh nghiệm của một số nước (Slovenia, Serbia, Ireland và Vương quốc Anh...). 5. Về thời điểm có hiệu lực của Luật tiếp cận thông tin Thông thường, các luật khác quy định thời điểm có hiệu lực từ 6 tháng đến 1 năm sau khi luật được thông qua. Riêng đối với Luật tiếp cận thông tin, Bộ Tư pháp dự kiến thời điểm có hiệu lực của Luật là sau 2 năm, kể từ ngày Luật được thông qua là nhằm bảo đảm thời gian cho việc chuẩn bị văn bản hướng dẫn và quy định chi tiết; nâng cao nhận thức và năng lực thực hiện trách nhiệm cung cấp thông tin của cán bộ, công chức; nâng cao nhận thức về quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức, đặc biệt là cần có thời gian để các cơ quan nhà nước trong phạm vi toàn quốc chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực nhằm chuẩn bị cho việc thi hành Luật. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, thời gian chuẩn bị này thường phải kéo dài từ 2 đến 5 năm như Vương quốc Anh (5 năm), Na Uy (3 năm), Nhật Bản (2 năm)... Các tài liệu tham khảo
Về công khai thông tin (Điều 13, chương 2) Theo tôi, nên bỏ từ "khuyến khích" ở điểm 1, điều 13, chương II. Bởi tất cả những thông tin được cho là không bí mật, thì các cơ quan nắm giữ thông tin và nằm trong phạm vi phải công khai thông tin (theo Luật quy định) và buộc phải công khai những thông tin đó để mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức được biết.
Thực tế là ở các địa phương, những thông tin quan trọng liên quan đến đời sống của nhân dân bị các cấp chính quyền không công khai, hoặc công khai theo ý thích mà không có sự ràng buộc của Pháp luật.
Góp ý dự thảo luật tiếp cận thông tin Đề nghị bổ sung vào dự luật quy định bắt buộc tất cả UBND quận huyện ,thành phố trực thuộc tỉnh và các sở ban ngành thuộc UBND Tỉnh ,TP trực thuộc trung ương phải mở trang thông tin điện tử trên mạng internet.
Hiện nay công nghệ thông tin rất phát triển,mạng internet dần dần phổ cập trong xã hội ,do đó việc tiếp cận thông tin thông qua hình thức nầy sẽ rất hiệu quả .Hiện nay dù luật tiếp cận thông tin chưa được ban hành nhưng một số Tỉnh thành ,quận huyện đã thực hiện mở trang thông tin điện tử để công khai các thông tin cho nhân dân. Tuy nhiên một số nơi do nhiều lý do đã không mở trang thông tin điện tử để hoạt động .Trong khi đó với các hình thức thông tin khác sẽ rất hạn chế.
|
![]()
Thông qua website này, Quý vị có thể tiếp cận toàn văn các dự thảo, dự án đang được QH, UBTVQH xem xét, thảo luận.
Quý vị có thể đóng góp ý kiến của mình về nội dung của các dự án, dự thảo. Các ý kiến của Quý vị sẽ được tổng hợp và gửi đến các cơ quan có thẩm quyền để nghiên cứu tiếp thu vào việc xây dựng và chỉnh lý dự thảo văn bản.
|







