|
Dự thảo mới
Số lần truy cập
|
Dự thảo luật
Dự thảo Luật Thuế tài nguyên
Một số thông tin cơ bản:
Cơ quan trình dự thảo: Chính phủ Cơ quan chủ trì soạn thảo: Bộ Tài chính Uỷ ban chủ trì thẩm tra: Uỷ ban Tài chính - Ngân sách Dự kiến thảo luận cho ý kiến tại: Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XII, tháng 10-2009 Dự kiến biểu quyết thông qua tại: Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XII, tháng 10 - 2009 Phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật: Luật Thuế tài nguyên quy định các loại tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đối tượng chịu thuế tài nguyên. Luật quy định tổ chức, cá nhân tiến hành khai thác tài nguyên thiên nhiên trên, dưới mọi hình thức phải nộp thuế tài nguyên.
Gợi ý lấy ý kiến
Một số vấn đề còn có ý kiến khác nhau: 1/ Về đối tượng chịu thuế Có ý kiến đề nghị Luật thuế tài nguyên nên quy định bao quát hết các loại tài nguyên hiện nay như: không khí, ánh sáng, vùng biển, vùng trời, khó số, tần số, các nguồn năng lượng, lịch sử, văn hoá phi vật thể,... bởi vì các loại tài nguyên này đều thuộc chủ quyền quốc gia Việt Nam.
2/ Về thuế suất Có 02 ý kiến khác nhau như sau:
Hoặc là quy định mức thuế suất % cố định cho từng nhóm tài nguyên;
Hoặc là áp dụng thuế tuyệt đối tính trên số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng đơn vị sản phẩm khai thác
Các tài liệu tham khảo
Những ý kiến đóng góp
Cần quy định rõ hơn về sản lượng và giá tính thuế Theo TS. Nguyễn Đình Chiến (Học viện Tài chính - Bộ Tài chính), việc quy định sản lượng tính thuế là sản lượng tài nguyên thực tế khai thác như trong dự thảo là hợp lý. Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn trong cách xác định giá tính thuế tài nguyên.
Đồng tình với quan điểm trên, đại diện Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam cho rằng: Giá tính thuế không nên tính theo giá thị trường, bởi giá thị trường là giá tại nơi bán, tức đã cộng cả chi phí vận chuyển, quản lý…do đó việc áp dụng giá tính thuế tại nơi khai thác mới đúng và phù hợp với thực tế hơn.
Theo ông Vũ Khắc Thư - Ban Pháp chế (EVN),tại điểm a khoản 3 Điều 7 của Dự thảo ghi: “Đối với nước thiên nhiên dùng sản xuất thủy điện, giá tính thuế tài nguyên là giá bán điện thương phẩm bình quân”, nay đề nghị sửa đổi lại như sau: “Đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thuỷ điện giá tính thuế tài nguyên là giá sản xuất điện bình quân tính tới điểm giao nhận”. Bởi theo mô hình sản xuất kinh doanh điện mới, hiện đang áp dụng trong ngành điện bao gồm cả: EVN và các đơn vị ngoài EVN thì khái niệm giá bán điện thương phẩm không còn phù hợp.
Đồng ý với dự thảo là khi tính thuế tài nguyên sẽ căn cứ vào “Sản lượng tài nguyên thực tế khai thác”, song Hiệp hội Thép Việt Nam cho rằng, quy định tính thuế theo “sản phẩm sản xuất trong kỳ” và “định mức sử dụng tài nguyên trên một đơn vị sản phẩm” đối với loại tài nguyên chưa bán ngay mà còn phải qua gia công để tiếp tục sản xuất ra sản phẩm là không khả thi vì tài nguyên đó sản xuất ra rất nhiều sản phẩm, theo nhiều công đoạn sản xuất sẽ tính theo sản phẩm nào? Định mức sử dụng tài nguyên thì ai sẽ ban hành định mức?... Do đó, Ban soạn thảo cần xem xét, điều chỉnh cho phù hợp, tránh trường hợp quy định một đằng, nhưng khi đi vào thực tiễn lại tính một kiểu.
Nguồn: Dự thảo Luật thuế Tài nguyên: Cần hạ mức thuế suất xuống thấp hơn!, Minh Đức, Báo kinh tế Việt Nam (ven.vn).
thuế suất đối với việc sử dụng tài nguyên nước Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đề nghị áp dụng mức thuế suất thuế tài nguyên nước thiên nhiên sản xuất thuỷ điện là 2%, đồng thời xem xét việc miễn, giảm thuế tài nguyên nước đối với sản lượng điện phải nộp tiền thủy lợi phí. Vì theo Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi thì điện sản xuất từ các hồ thủy lợi chịu chi phí sử dụng nước từ 8-12% doanh thu bán điện, làm cho chi phí sản xuất điện rất cao nên khó bán điện lên lưới.
Tập đoàn điện lực cũng đề xuất giảm 50% thuế tài nguyên nước đối với các công trình thủy điện sử dụng lại nước thải ra của nhà máy thủy điện bậc thang ở Bậc trên (đã thu thuế tài nguyên nước đối với nguồn nước này tại nhà máy điện Bậc trên) và giảm thuế tài nguyên nước thiên nhiên dùng cho sản xuất điện đối với các công ty thủy điện đa mục tiêu, bởi ngoài mục tiêu sản xuất điện, các cơ sở sản xuất thủy điện này còn thực hiện những nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ công ích trong các giai đoạn cấp bách như: điều tiết mực nước các dòng sông nhằm chống lũ lụt, chống hạn hay phục vụ thủy lợi, cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp.
Nguồn: Dự thảo Luật thuế Tài nguyên: Cần hạ mức thuế suất xuống thấp hơn!, Minh Đức, Báo kinh tế Việt Nam (ven.vn).
Mức thuế suất đối với sản phẩm rừng tự nhiên Theo ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó chủ tịch - Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, việc áp mức thuế suất thuế tài nguyên cao đối với sản phẩm rừng tự nhiên sẽ không những không khuyến khích phát triển rừng tự nhiên, mà còn có tác dụng tiêu cực, kích thích khai thác lậu trốn thuế, đặc biệt với nhóm gỗ có giá trị cao tới hàng chục triệu đồng/m3. Vì thế, trong bối cảnh hiện nay, thuế suất đối với sản phẩm này cần điều chỉnh lại theo mức: Đối với sản phẩm gỗ các loại (trừ cành, ngọn củi) là 5-10% (dự thảo là 10-40%); gỗ cành, ngọn: 0% (dự thảo: 10-30%); củi là 0% (dự thảo: 1-5%); và các loại sản phẩm rừng tự nhiên khác là: 1-2% (dự thảo: 5-20%).
Nguồn: Dự thảo Luật thuế Tài nguyên: Cần hạ mức thuế suất xuống thấp hơn!, Minh Đức, Báo kinh tế Việt Nam (ven.vn).
Về mức thuế suất đối với khoáng sản kim loại Dự thảo quy định khung thuế suất đối với khoáng sản kim loại (mức tối đa là 30%) là quá lớn, điều này là không có lợi cho Việt Nam khi chúng ta đã hội nhập với kinh tế thế giới. Vì: nếu đánh thuế tài nguyên quá cao sẽ dẫn tới trốn thuế, đây là một thực tế không chỉ có ở Việt Nam. Không những thế, viêc đánh thuế cao sẽ giảm tính cạnh tranh của sản phẩm sử dụng tài nguyên này, do giá thành sẽ cao lên, trong khi hầu hết khoáng sản kim loại của ta đều ở những vùng sâu, vùng xa, vùng hiểm trở và khó khai thác. Do đó chỉ nên giữ mức tối đa 15% là phù hợp.
Nguồn: Dự thảo Luật thuế Tài nguyên: Cần hạ mức thuế suất xuống thấp hơn!, Minh Đức, Báo kinh tế Việt Nam (ven.vn)
Một số nội dung về dự thảo thuế nhà đất Về đối tượng chịu thuế:Tiến sĩ Nguyễn Thị Thủy có ý kiến: “Về đối tượng chịu thuế: Những gì nhà nước có thể quản lý được, có thể xác định được để làm căn cứ tính thuế thì nên thu. Đối với những tài nguyên mà không có cơ sở để tính thuế thì chưa nên thu”. TS Thủy nhất trí với quan điểm của ban soạn thảo chưa nên đưa các loại tài nguyên như không khí, vùng biển, vùng trời, kho số, tần số, các nguồn năng lượng (gió, ánh sáng mặt trời), lịch sử, văn hoá phi vật thể,... vào đối tượng chịu thuế tài nguyên".
Về thuế suất: theo TS Thủy: "Không nên quy định thuế suất phần trăm cố định cho từng nhóm tài nguyên cũng như thuế tuyệt đối đối với tài nguyên vì thuế tài nguyên có đối tượng chịu thuế rất đặc thù…Cần thiết phải quy định một khung thuế suất cho các nhóm tài nguyên, khung thuế này phải tương đối rộng để nhà nước có thể linh hoạt động tiết hoạt động khai thác tài nguyên trên lãnh thổ quốc gia…".
Nguồn:TP HCM: Sôi nổi góp ý dự thảo "Luật Thuế Tài nguyên và Luật Thuế Nhà, đất”, trang điện tử Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam (dddn.com.vn).
Về thuế suất đối với việc khai thác nguồn nước ngầm Bà Cẩm Vân- Đại diện cho Sở Tài nguyên- Môi trường TP Hồ Chí Minh quan tâm nhiều nhất đến vấn đề khai thác nước ngầm. Theo bà Vân: "Mức thuế suất cho vấn đề khai thác nước ngầm như hiện nay là quá thấp. Vì vậy dự thảo nên nghiên cứu một mức thuế suất cho phù hợp, hạn chế tối đa việc khai thác nước ngầm".
Chung quan điểm với bà Vân, luật sư Nguyễn Thị Cam, Công ty luật TNHH Đất Luật cũng đồng ý: “Trường hợp khai thác nguồn nước thiên nhiên(nước ngầm) của các gia đình cá nhân hiện nay trở nên phổ biến, mối nguy hại do khai thác nước ngầm tự do, thiếu quy hoạch mọi người đều thấy rõ. Dự thảo Luật chưa thể hiện được mức thuế suất, cách tính thuế đối với các trường hợp này để bảo vệ nguồn tài nguyên nước…”.
Nguồn:TP HCM: Sôi nổi góp ý dự thảo "Luật Thuế Tài nguyên và Luật Thuế Nhà, đất”, trang điện tử Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam
Góp ý dự thảo thuế tài nguyên Khung thuế suất thuế tài nguyên chưa thật hợp lý: Mức thuế 30% trên giá trị của thành phẩm khoáng sản là khá cao. Phần lớn các quốc gia trên thế giới chỉ áp dụng mức khoảng 4% và đang có xu hướng giảm thuế đánh vào khoáng sản nhằm duy trì tính cạnh tranh đầu tư trong bối cảnh suy giảm kinh tế toàn cầu.
Thuế suất thuế tài nguyên đối với sản phẩm rừng tự nhiên cao hơn tất cả các loại tài nguyên khác (từ 10% đến 40%), ngay cả gỗ cành, gỗ ngọn cũng chịu thuế ở mức từ 10 đến 30% trong khi vàng chỉ chịu thuế từ 6 đến 30%.Điều này là bất hợp lý, vì nói rằng đánh thuế cao để giảm bớt việc khai thác tài nguyên một cách tràn lan là không đúng. Vì việc khai thác tràn lan nguồn tài nguyên tự nhiên là do khâu quản lý không chặt chẽ.
Cần quy định mức thuế suất cụ thể của từng tài nguyên. Dự thảo luật đang quy định ở mức khung thuế suất chứ không phải thuế suất của các loại tài nguyên.
Chính sách miễn giảm thuế tài nguyên đối với khai thác thủy sản cần cụ thể và hợp lý hơn
Khoản 2 Điều 10 của dự thảo Luật quy định việc miễn giảm thuế đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác thủy sản ở vùng biển xa bờ bằng phương tiện có công suất lớn.
Dưới góc độ chính sách thì quy định này là hoàn toàn phù hợp nhưng nếu xét ở góc độ quy định của luật thì quy định này lại chưa chặt chẽ. Đánh bắt xa bờ là đánh bắt cách bờ bao nhiêu hải lý? Phương tiện có công suất lớn là phương tiện có công suất bao nhiêu mã lực? Và như vậy, để những quy định này của Luật sau khi được Quốc hội thông qua đi vào thực tiễn vẫn phải chờ Nghị định hướng dẫn cụ thể trong khi chúng ta hoàn toàn có thể quy định ngay trong dự thảo Luật này.
|
![]()
Thông qua website này, Quý vị có thể tiếp cận toàn văn các dự thảo, dự án đang được QH, UBTVQH xem xét, thảo luận.
Quý vị có thể đóng góp ý kiến của mình về nội dung của các dự án, dự thảo. Các ý kiến của Quý vị sẽ được tổng hợp và gửi đến các cơ quan có thẩm quyền để nghiên cứu tiếp thu vào việc xây dựng và chỉnh lý dự thảo văn bản.
|






