|
Dự thảo mới
Số lần truy cập
|
Dự thảo luật
Dự thảo Luật Nuôi con nuôi
Một số thông tin cơ bản: Cơ quan trình dự thảo: Chính phủ Cơ quan chủ trì soạn thảo: Bộ Tư pháp Ủy ban chủ trì thẩm tra: Ủy ban pháp luật Dự kiến thảo luận cho ý kiến tại: Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XII, tháng 10-2009 Dự kiến biểu quyết thông qua tại: Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII, tháng 5 - 2010 Phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật: Luật Nuôi con nuôi quy định về điều kiện nuôi con nuôi; trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha, mẹ nuôi và con nuôi; chấm dứt việc nuôi con nuôi; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức về nuôi con nuôi; xử lý vi phạm về nuôi con nuôi. Gợi ý lấy ý kiến
Một số vấn đề còn có ý kiến khác nhau: 1/ Về phạm vi điều chỉnh Có ý kiến đề nghị phạm vi điều chỉnh của dự án Luật, ngoài phạm vi như dự thảo, nên quy định thêm những vấn đề khác liên quan đến nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, như nuôi con nuôi ở khu vực biên giới, thành lập Quỹ hỗ trợ nuôi con nuôi. 2/ Về điều kiện đối với người nhận con nuôi trọn vẹn Dự án Luật (Điều 22) quy định hai phương án: Một là, người nhận con nuôi trọn vẹn phải có đủ điều kiện nuôi con nuôi như người nhận con nuôi đơn giản; Hai là, người nhận con nuôi trọn vẹn phải có đủ điều kiện như người nhận con nuôi đơn giản, ngoài ra còn phải có thêm điều kiện về kinh tế, sức khỏe và không bị tiền án nói chung. Bộ Tư pháp nhất trí với phương án hai, nhằm bảo đảm việc nuôi con nuôi trọn vẹn được thực hiện chặt chẽ hơn. Các tài liệu tham khảo
Con nuôi trong nước phải là chủ đạo Con nuôi trong nước phải là chủ đạo (99%) trong hoạt động NCN nên phải được tô đậm hơn để thể hiện sự cố gắng đảm bảo nguyên tắc này. Cho con nuôi nước ngoài là biện pháp tình thế khi không còn cách nào khác. Các cơ quan chức năng phải nắm được các nhu cầu về cho nhận con nuôi để làm cầu nối, tìm kiếm gia đình thay thế cho trẻ em ngay tại quê hương. Hiện sơ hở nhất là những qui định về trẻ em bị bỏ rơi. Trẻ em bị bỏ rơi là trách nhiệm của nhà nước, không thể khoán trắng cho cơ sở nuôi dưỡng, không thể đưa vào cùng một qui trình với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn… Đồng thời mọi qui định về thủ tục cho nhận con nuôi “càng nhạy cảm càng phải chặt chẽ, minh bạch”, nhất là với trẻ em bị bỏ rơi – vốn đang phát sinh nhiều tiêu cực.
Cần hiểu vấn đề con nuôi biên giới là một bộ phận đặc thù của con nuôi nước ngoài nên phải được đề cập thành nguyên tắc lớn, chứ không thể bỏ trống. Các quan hệ con nuôi thực tế cũng không thể tránh, mà phải xử lý mềm dẻo bằng cách thừa nhận sự tồn tại, nhưng nếu có tranh chấp thì phải đăng ký thì mới pháp luật được bảo hộ, không thể để “vừa hôm qua nhận đã được gọi là con nuôi thực tế”. Đó cũng là cách để khuyến khích người dân đi vào trật tự pháp luật.
(Nguồn: http://www.moj.gov.vn/)
Quan tâm trước hết đến quyền lợi của trẻ em Quan tâm trước hết đến quyền lợi của trẻ em. Theo tinh thần đó, những trẻ em có bệnh hiểm nghèo hoàn toàn được ưu tiên cho làm con nuôi càng sớm càng tốt mà không cần thực hiện các biện pháp theo thủ tục thông thường. Dự thảo cũng cần quan tâm đến quan điểm ưu tiên gia đình gốc của trẻ em để qui định lại thời gian đăng thông báo tìm người thân và gia đình thay thế cho trẻ em bị bỏ rơi.
Một vấn đề nữa là trách nhiệm, quyền hạn của các chủ cơ sở nuôi dưỡng. Thời gian qua họ có quá nhiều quyền trong việc quyết định cho nhận con nuôi mà cơ quan con nuôi TƯ không thể làm gì được. Tình trạng này phải được giải quyết dứt điểm.
(Nguồn: http://www.moj.gov.vn/)
Không thể níu kéo quan hệ khi đã làm con nuôi trọn vẹn Con nuôi trọn vẹn trong nước hay nước ngoài thì đều phải cắt đứt quan hệ với cha mẹ đẻ, không được hưởng các quyền lợi của cha mẹ đẻ. Thực tế cho thấy, cứ níu kéo là hỏng. Thực tế hình thức NCN đơn giản đang bị lạm dụng ghê gớm. Năm 2008, điều tra 6 huyện của Hà Nam có 217 trường hợp NCN trong nước thì 60 trường hợp hợp pháp còn 157 trường hợp vi phạm dưới dạng đăng ký NCN để hưởng chế độ, chính sách của bố mẹ nuôi... Những vi phạm này có từ lâu, tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội. Trước thực trạng đó, cần qui định rạch ròi để phân biệt hậu quả pháp lý của 2 hình thức này. Đồng thời, phải có qui định về hậu quả của việc NCN vì các mối quan hệ có thể phát sinh trước, trong và sau khi giải quyết về giấy tờ, thủ tục NCN nên không thể cứ giải quyết theo pháp luật của nước mà trẻ em mang quốc tịch. (Nguồn: http://www.moj.gov.vn/)
Tránh tình trạng Bộ Tư pháp chỉ được quản lý hoạt động NCN về hình thức Với việc bổ sung những thông tin mới về tình hình NCN trong thời gian qua, nhìn chung dự thảo Luật NCN đã phản ánh được các yêu cầu hiện nay của nước ta về vấn đề NCN, phần nào đó đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác NCN. Nhưng các qui định điều chỉnh hoạt động NCN trong nước và NCN có yếu tố nước ngoài lại chưa thể hiện được quan điểm thống nhất, mà có xu hướng phân biệt (thông qua việc qui định ở chương 2 và 3 với nội dung khác nhau rõ rệt). Đặc biệt, vai trò của Bộ Tư pháp trong quản lý nhà nước về NCN chưa được thiết kế rõ ràng. Có thể thấy, các điều 15, 26, 27, 43, 50, khoản 1 điều 51, điều 52 dự báo tình trạng Bộ Tư pháp chỉ được quản lý về hình thức hoạt động NCN, thậm chí khó thực hiện một số qui định trong Công ước La Hay. Vì thế, phải có các qui định để hoạt động của Cục Con nuôi (Bộ Tư pháp) được chặt chẽ, phù hợp với Chiến lược phát triển ngành trong thời gian tới. Bên cạnh đó, cần chỉnh lý các qui định về quan hệ của Luật NCN với các luật khác và luật quốc tế để rõ ràng hơn.(Nguồn: http://www.moj.gov.vn)
|
![]()
Thông qua website này, Quý vị có thể tiếp cận toàn văn các dự thảo, dự án đang được QH, UBTVQH xem xét, thảo luận.
Quý vị có thể đóng góp ý kiến của mình về nội dung của các dự án, dự thảo. Các ý kiến của Quý vị sẽ được tổng hợp và gửi đến các cơ quan có thẩm quyền để nghiên cứu tiếp thu vào việc xây dựng và chỉnh lý dự thảo văn bản.
|







