|
Dự thảo mới
Số lần truy cập
|
Dự thảo luật
Dự thảo Luật thuế nhà, đất
Một số thông tin cơ bản: Cơ quan trình dự thảo: Chính phủ Cơ quan chủ trì soạn thảo: Bộ Tài chính Uỷ ban chủ trì thẩm tra: Uỷ ban Tài chính - Ngân sách Dự kiến thảo luận cho ý kiến tại: Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XII, tháng 10-2009 Dự kiến biểu quyết thông qua tại: Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII, tháng 6 - 2010 Phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật: Luật Thuế nhà, đất quy định về đối tượng chịu thuế, đối tượng không thuộc diện chịu thuế, đối tượng nộp thuế, căn cứ tính thuế, miễn giảm thuế và điều khoản thi hành thuế nhà, đất.
Gợi ý lấy ý kiến
Một số vấn đề còn có ý kiến khác nhau: 1/ Về thu thuế đối với đất được nhà nước cho thuê Ý kiến thứ nhất cho rằng không nên thu thuế đối với đất được Nhà nước cho thuê, bởi vì:> + Căn cứ tính thuế nhà, đất và căn cứ tính tiền thuê đất là như nhau. Do đó, Nhà nước đã thu tiền thuê đất mà thu thuế đất nữa sẽ trùng lắp.>+ Người được Nhà nước cho thuê đất nộp tiền thuê đất hàng năm không có đầy đủ các quyền như trường hợp được Nhà nước giao đất thu tiền sử dụng đất và trường hợp được Nhà nước cho thuê đất nộp tiền thuê đất 1 lần.
Ý kiến thứ hai cho rằng việc thu thuế đối với đất được Nhà nước cho thuê là phù hợp, đảm bảo tính công bằng trong việc sử dụng đất bởi vì: Theo quy định của Luật đất đai 2003 thì để có quyền sử dụng đất (kể cả đất ở, đất sản xuất kinh doanh) thì người sử dụng đất đều phải trả tiền, trường hợp được Nhà nước giao đất thì phải nộp tiền sử dụng đất, trường hợp nhận chuyển nhượng từ người khác có quyền sử dụng đất hợp pháp phải trả tiền để nhận chuyển nhượng, trường hợp được Nhà nước cho thuê đất phải trả tiền thuê đất. Do đó, nếu chỉ thu thuế đối với đất ở, đất được Nhà nước giao đất mà không thu thuế với đất được Nhà nước cho thuê là không công bằng giữa các đối tượng sử dụng đất. 2/ Về giá tính thuế của nhà đã sử dụng Tại điểm 2a Chương II Mục III Tờ trình có đề xuất phương án xác định giá tính thuế đối với nhà theo theo tỷ lệ phần trăm trên đơn giá nhà xây dựng mới của nhà ở cùng loại và giao cho Chính phủ quy định tỷ lệ phần trăm trên đơn giá nhà xây dựng mới của nhà ở cùng loại đối với các loại nhà. Có ý kiến đề nghị giá tính thuế có sự phân biệt giữa nhà mới và nhà đã sử dụng, trong đó đối với nhà mới xây dựng: Giá của 1m2 nhà được xác định căn cứ theo đơn giá nhà xây dựng mới của nhà ở cùng loại, còn đối với nhà đã sử dụng được xác định theo cách xác định nhà mới xây dựng nhưng trừ đi tỷ lệ từ 2% đến 5% cho mỗi năm đã sử dụng, tuỳ theo loại nhà, cấp, hạng nhà. Tuy nhiên, theo cách tính này thì rất khó xác định được năm xây dựng, năm bắt đầu sử dụng, thời gian sử dụng (nhà do nhận chuyển nhượng quyền sở hữu của người khác, có trường hợp đã qua nhiều chủ; nhà được thừa kế); ngoài ra, việc cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà mới được một số thành phố lớn triển khai. Hơn nữa tình trạng mua bán trao tay vẫn còn diễn ra phổ biến dẫn đến chi phí công tác hành thu sẽ rất tốn kém và không thực sự hiệu quả trong việc tính thuế đối nhà cũ (với mức loại trừ là 600trđ thì hầu hết nhà ở đã qua sử dụng hiện nay sẽ không phải nộp thuế).
Các tài liệu tham khảo
Một số ý kiến liên quan đến luật thuế nhà, đất Tôi hiện đang công tác trong ngành Thuế, trong thời gian qua Nhà nước đã có nhiều cải cách về chính sách Thuế thông qua việc ban hành các qui định pháp luật mới; đồng thời vẫn luôn tiếp tục nghiên cứu, thu thập các ý kiến đóng góp của không chỉ các chuyên gia, cán bộ ngành thuế, kinh tế, tài chính … mà còn của đông đảo cá nhân, tổ chức, … trong xã hội để tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, đảm bảo việc phát triển kinh tế, đầu tư phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và tạo sự công bằng trong xã hội.
Những chính sách về thu thuế hiện nay, tôi thấy đã có nhiều qui định mới rất đáng hoan nghênh như: thuế thu nhập đặc biệt, thuế đối với người có thu nhập cao, bổ sung thêm các loại thuế đất,… Có những qui định không chỉ đơn thuần là tăng ngân sách mà còn có những tác động tích cực khác (như áp dụng mức thu thuế đất với những mảnh đất thứ 2 trở đi cùng một chủ sở hữu, có tác dụng hạn chế đầu cơ đất đai). Vấn đề đất đai, nhà ở và thu nhập từ những vật gắn liền với bất động sản cũng là vấn đề mà tôi muốn đề cập, đưa ra một số ý kiến đóng góp.
Thứ nhất, việc áp dụng các mức thuế khác nhau với những mảnh đất không liền thổ, mảnh đất thứ 2 trở đi dưới tên cùng một chủ sở hữu. Cần lập một khung biểu thuế cụ thể, hoặc mang tính định lượng hướng dẫn cho các khu vực hành chính khác nhau áp dụng và thực hiện. Và để dễ quản lí, trước mắt có thể việc tính đất hay nhà ở thứ 2 trở đi của một chủ sở hữu chỉ tính trên cùng một tỉnh (hay thành phố trực thuộc TW) riêng, không mang tính liên tỉnh.
Thứ hai, việc áp dụng thuế với cả những hộ cho thuê nhà/phòng trọ. Để bảo đảm sự công bằng cho những cá nhân, tổ chức kinh doanh nhà nghỉ, khách sạn. Lâu nay dường như ngành thuế đã bỏ qua, hoặc có phần buông lỏng với đối tượng cho thuê nhà/phòng trọ. Đây là một đội tượng trong xã hội (nhất là ở các thành phố lớn, như TP Hà Nội, Hồ Chí Minh,…) có nguồn thu khá cao. Bản thân gia đình tôi có một khu phòng cho thuê và một nhà mặt phố cho thuê, với số thu nhập vượt khá xa so với mức Nhà nước qui định về thuế đối với người thu nhập cao (tính đơn giản phòng trọ cho thuê giá từ 1 triệu đến 1,8 triệu/phòng trọ, cùng các khoản điện nước với giá kinh doanh, nhân với số lượng phòng. Nhà tôi cho thuê trên phố Ng Thị Định giá 25 triệu đồng/ tháng). Thực ra, cũng có những bản kê khai việc nộp thuế cho thuê phòng trọ, nhưng chỉ là hình thức và việc kê khai chỉ là qua quít, điền vài con số tự định cho xong. Việc đội giá nhà, sự o ép mà người thuê phải chịu cái giá phòng, giá nhà cũng như sinh hoạt phí khá cao gây ra sự bức xúc, tạo khó khăn cho những người nơi xa đến thành phố lớn, thiệt thòi nhất là các cháu, các em học sinh, sinh viên … Khiến Nhà nước không nắm bắt và quản lí được một lượng thuế hao hụt, một số vấn đề xã hội tiềm ẩn khác; ngoài ra tạo sự bất bình đẳng trong việc thu thuế giữa các cá nhân, các tổ chức trong xã hội, tạo sự chênh lệch trong trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân.
Thứ ba, liên quan đến vấn đề trong kinh doanh, là việc xuất hóa đơn, việc xuất hóa đơn hiện nay (trừ những đơn vị có đăng kí kinh doanh, có mã số thuế, chịu sự quản lí chặt chẽ của cơ quan thuế) thì khá lỏng lẻo, khai lận, khai khống của những cửa hàng kinh doanh tự do (những cửa hàng nộp thuế theo kiểu ước lượng, hoặc ước lệ tượng trưng), tuy là những cá nhân, tổ chức kinh doanh nhỏ lẻ, nhưng ở Việt Nam hiện nay đó lại chiếm một số lượng lớn. Ví dụ như xuất hóa đơn của các cửa hàng văn phòng phẩm, các cửa hàng trang thiết bị văn phòng… khai man, khai lận cho khách hàng (doanh nghiệp) để giảm, thậm chí không phải đóng thuế thu nhập của các doanh nghiệp.
Theo tôi, để giải quyết vấn đề trên cần có có sự trao quyền cho cán bộ dân phố, cán bộ phường/xã trong việc hỗ trợ Nhà nước trong việc thu thuế thông qua kiểm tra, giám sát. Ví dụ: việc kê khai nộp thuế nhà/phòng trọ cho thuê thông qua hợp đồng thuê nhà, kiểm tra trực tiếp số lượng phòng/nhà trọ, số lượng người đăng kí tạm trú,… những vấn đề này cán bộ dân phố, phường/xã đảm trách. Còn nộp thuế ở Quận/ Huyện, ngoài ra có sự kiểm tra đột xuất ngược trở lại của cán bộ Quận/ Huyện. Có thể là như vậy để việc thu thuế được thuận lợi, nhanh chóng, tránh sự thâm hụt, mất mát…
Việc qui định chi tiết trong hành lang pháp lí thuế, các qui định về việc thu thuế, đối tượng nộp, mức độ nộp, xử lí vi phạm trong việc kê khai nộp thuế, thu thuế, tuyên truyền trách nhiệm, nghĩa vụ nộp thuế, tạo kênh thông tin cho việc hỗ trợ cơ quan nhà nước thu thuế, cũng như tố giác hành vi vi phạm, …hạn chế tối đa những khe hở cho sự trốn tránh nộp thuế, để lọt thuế. Ngoài ra, cần có những qui định về việc khen thưởng, đãi ngộ, … các cán bộ thuế, đơn vị thuế thu vượt chỉ tiêu, có những ý tưởng, sáng kiến, trong thu thuế, hoặc phát hiện những khe hở, bỏ sót…
Thuế - một trong những nguồn thu căn bản cho Ngân sách mỗi quốc gia và Việt Nam không phải là một ngoại lệ. Những quốc gia càng phát triển, song hành với điều đó là sự quản lí chặt chẽ trong việc thu nộp thuế. Việc nhận thức đúng đắn trong qui định kê khai, thu, nộp thuế, các đối tượng mà pháp luật thuế điều chỉnh, … của các cơ quan Nhà nước, đặc biệt của ngành Thuế để có được sự hợp lí, khách quan, chặt chẽ; cũng như toàn xã hội có ý thức, trách nhiệm, nghĩa vụ trong việc nộp thuế tạo cho Ngân sách Nhà nước có sự ổn định, lớn mạnh, đảm bảo cho việc nuôi sống bộ máy Nhà nước, giữ vững quốc phòng an ninh, hạ tầng cơ sở, phúc lợi, an sinh xã hội phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
Về cách tính thuế Để hạn chế việc đầu cơ nhà cửa đất đai hoặc đánh thuế vào việc kinh doanh nhà đất, theo tôi nhà nước nên tính xem một người cần có bao nhiêu m2 để sống là hợp lý rồi nhân số người trong gia đình sẽ ra số m2 hợp lý dành cho gia đình đó. Hoặc cách tính thuế thứ hai là đánh và những người là sở hữu từ hai căn hộ hoặc hai mảnh đất trở lên. Trong trường hợp những người đã có một căn hộ nhưng diện tính nhỏ dưới mức tiêu chuẩn số thành viên sống trong gia đình mà anh ta muốn đổi căn hộ với mức diện tích lớn hơn, anh ta sẽ bị đánh thuế căn hộ đầu tiên hoặc số m2 thừa so với tiêu chuẩn m2 không bị đánh thuế.
Không nên đánh thuế theo kiểu nhà trên 600 triệu đồng như dự thảo luật quy định
(Dự thảo thuế nhà đất nên xem xét lại, vnexpress.net, Thứ ba, 28/4/2009, 10:06 GMT+7)
Người được nhà nước cấp nhà tính thuế thế nào? Việc tính thuế nhà cần được nghiên cứu và cân nhắc kỹ, vì đây là một loại thuế đánh vào tài sản thuộc vào loại nhạy cảm nhất nên cần cân nhắc về đối tượng nộp thuế: Ví dụ người được nhà nước cấp nhà, biệt thự có phải đánh thuế không.
Nhà phố cổ giá trị lớn về văn hóa, nhưng không kinh doanh được cần gìn giữ thì tính thế nào?
Nhà, biệt thự của ông cha để lại, cần gìn giữ, giá trị thì lớn nhưng khả năng kinh tế của người ở hạn hẹp có phải đóng không, hay phải bán đi để ở chỗ khác....
Còn rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu kỹ trước khi trình ban hành. Theo tôi trong giai đoạn hiện nay không nên ban hành loại thuế nhà ở này.
(Dự thảo thuế nhà đất nên xem xét lại, vnexpress.net, Thứ ba, 28/4/2009, 10:06 GMT+7)
Về các ưu đãi cho đối tượng được miễn, giảm thuế Theo quan điểm của ông Nguyễn Quang – đại diện Tổ chức định cư Liên Hợp Quốc (UN – Habitat)đã sử dụng đất, nhà thì phải trả tiền còn muốn trợ cấp với người nghèo phải quy định hình thức khác. Ví dụ, trợ cấp thêm tiền cho người nghèo mua nhà theo đúng giá thị trường chứ không phải là trợ cấp cho họ mua nhà giá thấp như quy định hiện nay của Luật đất đai.
Cùng quan điểm này, ông Phan Đình Dũng - đại diện của UNDP cho rằng, không nên đưa vào điều 3 những đối tượng như các đối tượng chính sách, người nghèo… mà nên đưa ra trong một luật khác. Còn bản thân những người đã sử dụng đất thì bắt buộc phải nộp thuế.
TS Nguyễn Minh Phong - Trưởng phòng nghiên cứu kinh tế (Viện nghiên cứu phát triển kinh tế-xã hội Hà Nội) cho rằng: cần phân biệt việc miễn và giảm thuế nhà, đất cho các đối tượng chính sách chỉ có giá trị khi và chỉ khi các đối tượng này còn sống và trực tiếp sử dụng nhà, đất ở cho nhu cầu sinh tồn của mình
(Dự thảo luật thuế nhà, đất: khó hạn chế đầu cơ, VOVnews, 1/9/2009)
Về thuế suất Trước mắt, có thể xác định mức thuế suất cơ bản 0,03% như Bộ Tài chính đã tính toán, điều chỉnh là tạm được. Cũng có ý kiến cho rằng để như mức cũ 0,05% là hợp lý. Ở các nước khác người ta áp dụng mức thuế suất cơ bản là 1%. Tất nhiên, mức này không thể phù hợp với thu nhập và đời sống ở nước ta hiện nay.
Việc xác định ở mức nào, tăng lên hay giảm đi cho phù hợp hơn cần chờ đợi những tín hiệu từ thực tế cuộc sống trong quá trình triển khai.
Điều cần bàn kỹ lưỡng hơn là mức thuế nào đối với đất phi nông nghiệp sử dụng cho mục đích sản xuất, kinh doanh khi có những phần bị đánh song trùng với thuế thu nhập doanh nghiệp. Đối với trường hợp thuế đánh vào hộ gia đình kinh doanh không phải là tổ chức doanh nghiệp cũng còn bất hợp lý. Đây chính là tình trạng giá đất rất cao tại nhưng nơi có lợi thế mở cửa hàng kinh doanh của hộ gia đình. Người ta không mua nhà – đất để ở mà người ta mua để kinh doanh. Theo Dự thảo Luật Thuế nhà đất, thuế suất 0,03% được áp đồng loạt cho tất cả các loại đất có mục đích sử dụng sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp. Doanh nghiệp phải chịu thêm một khoản thuế nhà đất mà trước đây phải nộp ở mức không đáng kể, nghĩa vụ thuế chủ yếu của doanh nghiệp là thuế thu nhập doanh nghiệp. Đất ở được sử dụng vào mục đích kinh doanh phi nông nghiệp của hộ gia đình mà chỉ chịu mức 0,03% lại có vẻ như quá ít so với thu nhập thực (sau khi đã trừ đi các nghĩa vụ thuế về kinh doanh hộ gia đình).
http://vibonline.com.vn/vi-VN/Forum/TopicDetail.aspx?TopicID=2585
Về hạn mức tính thuế Dự thảo Luật Thuế nhà đất đưa ra cách thức tính hạn mức bao gồm: (1) hạn mức nhà tính thuế được xác định theo giá trị nhà, nhà từ 600 triệu đồng trở xuống không tính thuế, nhà trên 600 triệu đồng tính chung một mức thuế; (2) hạn mức đất được xác định theo diện tích, dưới hạn mức cơ bản chịu thuế suất 0,03%, từ hạn mức cơ bản tới 3 lần hạn mức cơ bản chịu thuế suất 0,06% và trên 3 lần hạn mức cơ bản chịu thuế suất 0,09%; (3) hạn mức hướng tới tính theo hộ gia đình (trong nội dung Luật là giao cho Chính phủ quy định nhưng trong giải trình, thuyết minh đều tính theo hộ gia đình).
Trước hết, cần thảo luận về một số nguyên tắc để quy định hạn mức. Dự thảo luật có thể áp dụng theo các nguyên tắc sau:
1. Cần thống nhất một cách quy định hạn mức theo diện tích vì đó là một yếu tố định lượng cụ thể, có sổ sách địa chính và có thể đo đạc kiểm tra lại rất chính xác. Dự thảo xác định hạn mức theo giá trị nhà là đưa vào một yếu tố hạn mức ít tường minh hơn, khó định giá chính xác, dễ gây quan liêu hoặc tham nhũng, dễ phát sinh khiếu kiện và chắc chắn gây tốn kém rất nhiều khi cần xác định chính xác.
2. Đối với nhà – đất, cần tách riêng trường hợp có nhà – đất nhưng không đưa vào sử dụng để xác định thuế suất riêng nhằm ngăn chặn tình trạng sử dụng đất không hiệu quả, lãng phí và đầu cơ bất động sản. Sau đó, các trường hợp có đưa vào sử dụng mới tính theo các hạn mức phụ thuộc diện tích để ngăn chặn tình trạng sử dụng đất lãng phí, tích trữ vốn vào bất động sản. Nếu làm như vậy, có thể xác định 4 mức thuế suất: từ 1 lần hạn mức trở xuống có thuế suất 0,03%, từ trên 1 lần tới 3 lần hạn mức có thuế suất 0,06%, từ trên 3 lần hạn mức có thuế suất 0,09%, có đất nhưng không sử dụng có thuế suất 1,15%. Đối với nhà có thể áp dụng thấp hơn một bậc: từ 1 lần hạn mức trở xuống có thuế suất 0%, từ trên 1 lần tới 3 lần hạn mức có thuế suất 0,03%, từ trên 3 lần hạn mức có thuế suất 0,06%, có nhà nhưng không sử dụng có thuế suất 0,09% (tất nhiên cần trừ những trường hợp nhà vắng chủ có lý do chính đáng).
3. Hạn mức cần tính theo cá nhân, không tính theo hộ gia đình để tránh đi tình trạng đua nhau đi tách hộ, vừa làm khó cho cơ quan quản lý và vừa làm phức tạp cho dân. Hơn nữa, nhu cầu hưởng dụng đất là từng người và cũng cần giảm dần các yếu tố pháp lý có liên quan tới hộ gia đình.
(http://vibonline.com.vn/vi-VN/Forum/TopicDetail.aspx?TopicID=2585)
Về nguyên tắc tính thuế Cần làm rõ nguyên tắc tính thuế là thuế được áp trên thu nhập từ sử dụng nhà – đất hay diện tích nhà – đất hay giá trị nhà – đất. Xu hướng trên thế giới hiện nay là thuế được áp trên giá trị nhà – đất. Như trên đã phân tích, cách áp thuế như vậy là tiến bộ. Dự thảo Luật Thuế nhà đất đã chuẩn bị theo đúng nguyên tắc này, giá trị đất được tính bằng giá đấy nhân với diện tích sử dụng và giá trị nhà được tính bằng giá trị xây dựng mới gắn với tỷ lệ khấu hao trong sử dụng. Có một số ý kiến nói rằng cần xem xét lại cơ chế tính giá đất, khoảng thời gian xác định giá đất để tính thuế. Sự thực, có thể coi giá đất tính thuế là giá đất do UBND cấp tỉnh quy định. Đối với giá nhà tính thuế, có thể thống nhất mức tính theo diện tích sàn sử dụng, loại nhà, cấp nhà và số năm đã sử dụng, không cần phải định giá cụ thể để tính thuế.
(http://vibonline.com.vn/vi-VN/Forum/TopicDetail.aspx?TopicID=2585)
Gop y du thao luat thue nha, dat Về đối tượng chịu thuế: Dự thảo cần bổ sung đối tượng là nhà sử dụng vì các mục đích khác vào danh sách đối tượng chịu thuế. Ngoài ra, dự thảo không nên quy định đất được nhà nước cho thuê để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp là đối tượng chịu thuế.
Về cách thức nộp thuế (khoản 3, điều 8): Không nên quy định người nộp thuế phải đến nộp thuế tại các địa phương có nhà, đất. Dự thảo cần quy định sao cho hợp lý đối với những người có nhiều đất, nhà tại nhiều địa phương khác nhau. Ngoài ra, việc quy định nộp thuế tại các địa phương khác nhau xong rồi đi kê khai và nộp bổ sung phần luỹ tiến là không hợp lý, điều này gây trở ngại cho người dân, phiền phức về mặt thủ tục và thời gian.
Về việc giải quyết vấn đề đầu cơ: Dự thảo luật chưa giải quyết được mục tiêu đặt ra là đầu cơ. Về mặt lý thuyết thì đánh thuế luỹ tiến sẽ có thể hạn chế được việc đầu cơ bất động sản, tuy nhiên, trên thực tế hiện nay việc mua bán trao tay trên thị trường bất động sản vẫn diễn ra không kiểm soát được, việc đầu cơ bất động sản sử dụng tên của người thân vẫn diễn ra.
Ngoài ra, dự thảo luật thuế nhà, đất chưa đề cập đến cơ chế điều tiết việc sử dụng hiệu quả đất đai và nhà ở. Ví dụ đối với nhà ở và đất ở không được sử dụng trên 1 năm thì có bị đánh thuế cao hơn không? đất đai thuộc sở hữu toàn dân vì thế việc bỏ hoang đất là đang lãng phí tài nguyên của toàn dân. Dự thảo luật cần được nghiên cứu kỹ và bổ sung các cơ chế về thuế điều chỉnh được việc sử dụng nhà, đất một cách hiệu quả, tiết kiệm.
Cần xem xét kỹ mối quan hệ giữa dự thảo luật với dự thảo luật thuế tài sản để tránh chồng chéo khi được ban hành. Vì về cơ bản luật thuế tài sản cũng đề cập một phần đến thuế nhà, đất, do đó, dự thảo luật này cần được xem xét kỹ để tránh có sự chồng chéo với dự thảo luật tài sản.
Về đối tượng chịu thuế, cách tính thuế Về đối tượng chịu thuế: các loại đất theo quy định của Luật Đất đai, phải bao gồm cả đất nông nghiệp. Đất nông nghiệp có thuộc đối tượng chịu thuế hay không, thiết nghĩ nên đưa vào Dự thảo luật lần này để vừa đảm bảo tính đồng bộ, logic, lại vừa không phải ban hành Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp riêng ngoài thuế Đất, trong khi đất nông nghiệp cũng là một loại Đất.
Về cách tính thuế: trước mắt (ít nhất là đến năm 2015) với việc chậm trễ trong việc cấp giấy chứng nhận và hạn chế trong khâu quản lý hồ sơ cơ sở dữ liệu nhà, đất, làm sao chúng ta có thể thu thuế lũy tiến từng phần, hoặc thuế suất 0,03% đối với các đối tượng có nhiều nhà, đất ở nhiều địa phương khác nhau, nếu như đối tượng nộp thuế không tự giác kê khai thuế. Vì thế, luật nên quy định một thời hạn nhất định trong thời điểm giao thời theo hướng dẫn của Chính phủ chỉ áp dụng tính thuế lũy tiến hay miễn trừ thuế nhà đất nơi chủ sở hữu, người sử dụng cư trú thường xuyên(có hộ khẩu thường trú)…Và để đạt được mục tiêu khi xây dựng Luật thuế nhà, đất là chống đầu cơ về nhà, đất, dự thảo Luật nên bổ sung thêm một mức thuế suất khác thật cao đánh vào nhà đất không sử dụng trong thời hạn một năm. Loại nhà, đất này dễ dàng nhận diện, dễ áp dụng mà lại có tác dụng hạn chế đầu cơ một cách triệt để (Luật sư Nguyễn Thị Cam, nguồn: dddn.com.vn)
Về đối tượng chịu thuế nhà, đất và về căn cứ tính thuế Về đối tượng chịu thuế: So sánh quy định tại khoản 2 điều 13 của Luật đất đai (2003) và dự thảo điều 2 và điều 3 Luật thuế nhà, đất ta thấy không ổn về cách tiếp cận của ban dự thảo về phạm vi của đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp và đất phi nông nghiệp.
Nếu Ban dự thảo muốn mở rộng tất cả các đối tượng chịu thuế bao gồm trong nhóm đất phi nông nghiệp thì khoản 3 điều 2 của dự thảo phải điều chỉnh lại là đất phi nông nghiệp chứ không phải là đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp.
Về căn cứ tính thuế: Quy định như dự thảo là trái với điều 83 và 84 của Luật đất đai cần phải sửa lại vì thẩm quyền quy định hạn mức đất trong Luật đất đai là của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chứ không thuộc thẩm quyền của Chính phủ.
Ngoài ra, hiệu lực thực hiện luật thuế nhà, đất sẽ vào ngày 11-1-2011, như vậy là quá gấp, cần lùi ngày có hiệu lực sang năm 2012 (Luật sư Phan Thông Anh, nguồn: dddn.com.vn)
|
![]()
Thông qua website này, Quý vị có thể tiếp cận toàn văn các dự thảo, dự án đang được QH, UBTVQH xem xét, thảo luận.
Quý vị có thể đóng góp ý kiến của mình về nội dung của các dự án, dự thảo. Các ý kiến của Quý vị sẽ được tổng hợp và gửi đến các cơ quan có thẩm quyền để nghiên cứu tiếp thu vào việc xây dựng và chỉnh lý dự thảo văn bản.
|







