Dự thảo luật
Dự thảo Luật Người khuyết tật

Cơ quan trình dự thảo: Chính phủ

Cơ quan chủ trì soạn thảo: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

Ủy ban chủ trì thẩm tra: Ủy ban các vấn đề xã hội

Dự kiến thảo luận cho ý kiến tại: Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XII, tháng 10-2009

Dự kiến biểu quyết thông qua tại: Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII, tháng 5-2010

Luật Người khuyết tật quy định về quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật; trách nhiệm của gia đình, nhà nước và xã hội đối với người khuyết tật. Luật này được áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân trong nước; tổ chức và cá nhân nước ngoài tại Việt Nam có liên quan đến người khuyết tật.

Gợi ý lấy ý kiến

Một số vấn đề còn có ý kiến khác nhau:

1/ Về tên gọi của dự luật

          Theo Nghị quyết số 11/2007/NQ-QH12 của kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII về Chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội khóa XII  tên gọi của dự án luật là “Luật người tàn tật”.

          Tuy nhiên một số ý kiến đề xuất nên đặt tên luật là “Luật người khuyết tật”.

2/ Những nội dung liên quan đến việc làm cho người khuyết tật (Điều 20, 21)

          Khoản 5, Điều 20 dự thảo Luật quy định doanh nghiệp phải nhận một tỷ lệ tối thiểu 2% người khuyết tật vào làm việc. Một số ý kiến cho rằng không nên quy định cụ thể trong luật về tỷ lệ nhận người khuyết tật vào làm việc tại các doanh nghiệp.

          Về cơ sở sản xuất, kinh doanh dành riêng cho lao động là người khuyết tật (Điều 21), theo dự thảo thì các cơ sở này nếu có từ 51%  lao động là người khuyết tật trở lên sẽ được miễn giảm, thuế. Các ý kiến đóng góp cho rằng tỷ lệ này là quá cao và đề nghị giảm xuống 35%.

3/ Về quỹ người khuyết tật (Điều 8) và quỹ việc làm người khuyết tật (Điều 23)

          Các ý kiến đóng góp cho rằng nên thống nhất hai loại quỹ này làm một. Theo đó, có thể đưa nội dung hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật vào nội dung chi của Quỹ người khuyết tật.

 

Các tài liệu tham khảo
 
 
Những ý kiến đóng góp Thêm mới góp ý
  • Người gửi: Nguyễn Thanh Quang
  • Email: quanganbinh@yahoo.com
  • Ngày gửi: 13:35:26 | 28/11/2009

Cơ sở hạ tầng dành cho người khuyết tật

Theo Bộ xây dựng có ban hành (năm 2002), công trình xây dựng phải có lối đi cho xe lăn, nhưng những công trình đã xây lại không có luật bắt sửa, vì các công trình đó quan trọng và có NKT sử dụng thường nhật. Ví dụ: tòa nhà I trường KHTN TPHCM (đã xây trước khi luật 2002, nhưng trường có sinh viên NKT là thường xuyên. Vậy mong quốc hội xem xét ban hành luật yêu cầu chỉnh trang các tòa nhà đã xây nữa.
  • Người gửi: Nguyen Hai Thuong
  • Email: thuong@wpfvn.org
  • Ngày gửi: 08:25:18 | 13/11/2009

Quyền của phụ nữ và trẻ em khuyết tật

Tại mục d, điều 4 của Dự thảo có nêu: "Trẻ em khuyết tật, người cao tuổi khuyết tật, phụ nữ khuyết tật được hưởng các ưu tiên riêng". Nhưng sau đó không đề cập cụ thể là những ưu tiên gì?
Công ước Quốc tế về quyền người khuyết tật có 2 mục riêng biệt nêu bật quyền của Phụ nữ và trẻ em khuyết tật như sau:
Điều số 6: Phụ nữ khuyết tật
1. Các quốc gia thành viên công nhận rằng phụ nữ và trẻ em gái khuyết tật là đối tượng của sự phân biệt đối xử gấp nhiều lần, do vậy phải tiến hành các biện pháp để đảm bảo phụ nữ và trẻ em gái được hưởng thụ đầy đủ và bình đẳng tất cả các quyền con người và tự do cơ bản của họ. 2. Các quốc gia thành viên sẽ thực hiện tất cả các biện pháp thích hợp để đảm bảo sự phát triển đầy đủ, tiến bộ và nâng cao năng lực của phụ nữ, với mục đích đảm bảo họ có thể thực thi và thụ hưởng các quyền con người và tự do cơ bản được nêu trong Công ước này.
Điều số 7: Trẻ em khuyết tật
1. Các quốc gia thành viên sẽ thực hiện tất cả các biện pháp cần thiết để đảm bảo trẻ em khuyết tật được thụ hưởng đầy đủ tất cả các quyền con người và tự do cơ bản trên cơ sở bình đẳng với những trẻ em khác.
2. Trong tất cả các hành động có liên quan tới trẻ em khuyết tật, lợi ích tốt nhất của trẻ sẽ được quan tâm trước tiên.
3. Các quốc gia thành viên sẽ đảm bảo rằng trẻ em khuyết tật có quyền được tự do thể hiện quan điểm của mình đối với tất cả các vấn đề có ảnh hưởng tới các em, quan điểm của các em đưa ra có sức nặng phù hợp với độ tuổi và sự trưởng thành của các em, trên cơ sở bình đẳng với những trẻ em khác; và trẻ em khuyết tật được hỗ trợ phù hợp với khuyết tật và độ tuổi để nhận biết về quyền này.
Vấn đề thực thi Luật cũng cần được đặc biệt lưu ý (do đặc thù tình hình Việt nam): Đâu là chế tài của bộ luật này?
  • Người gửi: Lê Trung Tiên
  • Email: nguyendoan74@yahoo.com
  • Ngày gửi: 03:37:48 | 29/10/2009

Giáo dục chuyên biệt

Kính thưa quý cấp! Hệ thống các trường chuyên biệt được quan tâm và chú ý từ khi Đảng và Nhà nước ta ký vào Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em.
Cũng từ đó ngành giáo dục có thêm hệ thống trường chuyên biệt công lập.
Nhưng đến nay, các văn bản áp dụng dành cho trường chuyên biệt hầu như không có gì. Gần đây mới có CT 59/CT-BGD&ĐT quy định số giáo viên đứng lớp là 1,5 cho trường dạy ngày còn các quy định như: biên chế học sinh trên từng lớp, tiền học bổng cho học sinh bán trú, nội trú, chế độ cho người trực tiếp chăm sóc học sinh khuyết tật, tàn tật, tiêu chuẩn trường Chuyên biệt lên trường chuẩn quốc gia, các kỳ thi Giáo viên dạy giỏi cho GV tật học, quy chế cho trường Chuyên biệt...
Các Sở GD thì không có văn bản hướng dẫn nào về trường Chuyên biệt (dành cho người tàn tật, khuyết tật), Khi làm quy chế đưa lên cho UBND Tỉnh cho phép thì Tỉnh cứ ghi "Theo quy chế hiện hành", mà quy chế hiện hành thì không có cho loại hình trường này (Chỉ có cho các trường PT, trung tâm HNN, GDTX...Nên nó tạo một vòng lẩn quẩn, các trường Chuyên biệt giống như "Gà mắc tóc", càng làm việc càng vướng mắc, càng cố gắng càng bị phê bình, càng đấu tranh càng bị để ý...
Thật sự khó khăn quá cho hệ thống và loại hình Trường này, rất mong quý cấp quan tâm và có biện pháp khắc phục để các trường Chuyên biệt dành cho người tàn tật, khuyết tật công lập được nhờ
Rất cảm ơn! Trân trọng kính chào!
  • Người gửi: NGUYỄN HỒNG CẨN
  • Email: TOMYDAUGTER@EMAIL.COM
  • Ngày gửi: 14:59:48 | 02/09/2009

Dự thảo Luật người khuyết tật cần chú trọng nguyên tắc không phân biệt đối xử

Kính thưa Quốc Hội, Tôi bị sốt bại liệt từ nhỏ, chân phải ngắn và nhỏ hơn chân trái. Tuy nhiên tôi vẫn sử dụng tốt xe gắn máy.Nhờ đó tôi đã có thời gian làm công nhân viên ở Quận 5 19 năm. Tôi lái xe an toàn suốt hơn 38 năm qua nhưng phải nhờ vào lòng thương của các Anh Cãnh Sát Giao Thông. Cách đây hơn 10 năm tôi đi thi bằng lái xe ở đường Nơ Trang Long.Tôi bị một CB gọi lên bảo vạch quần trước hơn 100 người. Sau đó ghi vào hồ sơ : Liệt hai chân và gạch tréo hồ sơ.Thực tế tôi chỉ bị liệt một chân đi lại được và chơi bóng bàn thuộc hàng cao thủ. Tôi mô tả sự việc chính xác không nhằm nói xấu bất cứ ai mà chỉ mong Quốc Hội quan tâm xét tới khía cạnh nầy Kính chào đoàn kết, xây dựng.
  • Người gửi: Phòng Nghiên cứu tổng hợp - Trung tâm Thông tin, Thư viện và Nghiên cứu khoa học
  • Email: ph-ncth@qh.gov.vn
  • Ngày gửi: 09:52:45 | 13/07/2009

Cụ thể hóa nguyên tắc bình đẳng đối với người khuyết tật

Hiện nay ở các nước phát triển trên thế giới như Mỹ, Đức, Nhật Bản… các vấn đề về người khuyết tật không còn là vấn đề mang ý nghĩa phúc lợi xã hội nữa mà ngày càng được xem xét dưới góc độ quyền con người. Việc xây dựng và thực hiện các chính sách dành cho người khuyết tật không chỉ mang giá trị về mặt xã hội mà còn có giá trị rất lớn về mặt nhân quyền. Theo đó các nội dung cơ bản để đảm bảo các quyền bình đẳng, đặc biệt là quyền được sống một cuộc sống đầy đủ và có phẩm giá của người khuyết tật rất được đề cao. Tuy nhiên, tại Chương I của dự thảo Luật, nội hàm quyền bình đẳng của người khuyết tật trong việc hòa nhập đời sống xã hội chưa được thể hiện rõ. Do vậy, để đảm bảo những quyền nhân thân cơ bản của người khuyết tật đồng thời nhằm nâng cao nhận thức của xã hội về vấn đề người khuyết tật, chúng tôi đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu cụ thể hóa nguyên tắc bình đẳng đối với người khuyết tật. Có thể thiết kế thành một điều luật riêng với nội dung bao gồm các nguyên tắc cơ bản được đề cập tại Điều 3 của Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật: (a) Tôn trọng phẩm giá vốn có, quyền tự quyết cá nhân bao gồm tự do lựa chọn cho riêng mình và khả năng độc lập của cá nhân; (b) Không phân biệt đối xử; (c) Tham gia đầy đủ và hiệu quả và hòa nhập xã hội; (d) Tôn trọng sự khác biệt và chấp nhận người khuyết tật như một phần của nhân loại và sự đa dạng của con người; (e) Bình đẳng trong cơ hội; (f) Khả năng tiếp cận; (g) bình đẳng giữa nam và nữ; (h) Tôn trọng khả năng phát triển của trẻ em khuyết tật và tôn trọng quyền của trẻ em khuyết tật trong việc bảo tồn bản sắc của các em.
  • Người gửi: Phòng Nghiên cứu tổng hợp - Trung tâm Thông tin, Thư viện và Nghiên cứu khoa học
  • Email: ph-ncth@qh.gov.vn
  • Ngày gửi: 09:49:28 | 13/07/2009

Về cơ sở sản xuất, kinh doanh dành riêng cho lao động là người khuyết tật (Điều 21)

Dự thảo Luật quy định các cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người khuyết tật có từ 51% lao động là người khuyết tật trở lên được miễn giảm thuế. Tỷ lệ này là khá cao và không khả thi trong điều kiện nước ta hiện nay. Theo Báo cáo kết quả thi hành Pháp lệnh về người tàn tật và các văn bản pháp luật liên quan của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (gửi kèm theo dự thảo Luật) thì đến năm 2005 ở nước ta mới chỉ có 51,1% người khuyết tật có việc làm và 70% số đó là việc làm trong nông nghiệp, còn lại là việc làm trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp và hành chính sự nghiệp, chỉ có 5% làm việc trong lĩnh vực dịch vụ, buôn bán. Để khuyến khích phát triển các cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người khuyết tật, nâng cao tính khả thi của việc thực hiện các quy định của dự thảo Luật, chúng tôi đề nghị giảm tỷ lệ nêu trên xuống 35% như loại ý kiến thứ hai nêu trong Tờ trình.
  • Người gửi: Phòng Nghiên cứu tổng hợp - Trung tâm Thông tin, Thư viện và Nghiên cứu khoa học
  • Email: ph-ncth@qh.gov.vn
  • Ngày gửi: 09:47:34 | 13/07/2009

Về việc làm dành cho người khuyết tật (Điều 20)

Cùng với giáo dục, việc làm cho người khuyết tật luôn là vấn đề rất được chú trọng nhằm giúp người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, phát huy khả năng của bản thân. Ở nước ta, việc làm cho người khuyết tật hiện vẫn đang là một bài toán nan giải. Dự thảo Luật quy định doanh nghiệp có trách nhiệm nhận một tỷ lệ tối thiểu 2% người khuyết tật, đồng thời kèm theo chế tài đối với doanh nghiệp khi không nhận đủ tỷ lệ này là phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam. Ngoài ra, nhiều nước trên thế giới cũng quy định tỷ lệ bắt buộc này. Bộ luật Xúc tiến lao động là người khuyết tật của Nhật Bản quy định mỗi doanh nghiệp phải tiếp nhận 1,8 % lao động là người khuyết tật trong tổng số biên chế của đơn vị. Ở Đức tỷ lệ này là 5% và ở Bulgaria là 4%. Các doanh nghiệp không nhận đủ tỷ lệ trên sẽ phải chịu áp dụng chính sách phạt định mức. Do đó, chúng tôi tán thành phương án thứ nhất mà dự thảo đưa ra tại Khoản 5, Điều 20: “Doanh nghiệp phải nhận một tỷ lệ tối thiểu 2% người khuyết tật vào làm việc trừ một số doanh nghiệp hoạt động trong một số ngành, lĩnh vực mà người khuyết tật không có khả năng tham gia. Doanh nghiệp không nhận đủ tỷ lệ lao động là người khuyết tật và các doanh nghiệp hoạt động trong một số ngành, lĩnh vực mà người khuyết tật không có khả năng tham gia phải đóng phí vào quỹ việc làm người khuyết tật”.
  • Người gửi: Phòng Nghiên cứu tổng hợp - Trung tâm Thông tin, Thư viện và Nghiên cứu khoa học
  • Email: ph-ncth@qh.gov.vn
  • Ngày gửi: 09:45:54 | 13/07/2009

Về hạng khuyết tật (Khoản 2, Điều 3)

Dự thảo Luật quy định “Khuyết tật được phân theo hạng tật” nhưng không quy định tiêu chí phân loại và cũng không liệt kê cụ thể các hạng tật. Dự thảo Luật cũng không có bất cứ quy định nào ủy quyền cho Chính phủ hay Bộ Lao động – Thương binh và xã hội quy định về vấn đề này. Để đảm bảo cho việc thực hiện thống nhất các quy định ở Điều 13 (Chỉnh hình, phục hồi chức năng), Điều 24 (Hoạt động văn hóa, thể thao và giải trí của người khuyết tật), Điều 30 (Trợ giúp xã hội cộng đồng), đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu và đưa vào dự thảo Luật những quy định cụ thể về các hạng tật.
  • Người gửi: Phòng Nghiên cứu tổng hợp - Trung tâm Thông tin, Thư viện và Nghiên cứu khoa học
  • Email: ph-ncth@qh.gov.vn
  • Ngày gửi: 09:43:19 | 13/07/2009

Về giải thích khái niệm "người khuyết tật" (Khoản 1, Điều 2)

Theo dự thảo Luật, khái niệm “người khuyết tật” được hiểu là “người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn”. Khái niệm này được xây dựng trên cách thức tiếp cận theo mô hình y học về người khuyết tật. Hạn chế của cách tiếp cận này là nguy cơ tạo ra sự cách ly người khuyết tật ra khỏi cộng đồng và trong nhiều trường hợp không tạo ra được những điều kiện để phát huy các năng khiếu hoặc các ưu thế có thể có của người khuyết tật. Hiện nay, xu hướng đảm bảo sự hòa nhập tối đa của người khuyết tật vào cộng đồng đang là xu hướng tiếp cận nổi bật và phổ biến trên thế giới. Các nước theo xu hướng tiếp cận này quan niệm người khuyết tật là “người có các chức năng về thể lực, trí lực, hoặc tâm lý tiến triển không bình thường so với những người có cùng độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình thường này là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia vào cuộc sống xã hội”. (Sách số chín, Bộ Luật Xã hội của Cộng hòa Liên bang Đức). Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật cũng khẳng định “người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể gây cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội”. Ưu điểm của cách thức tiếp cận này là khuyến khích sự hòa nhập xã hội của người khuyết tật, tăng tính chủ động, tự lập của người khuyết tật trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong việc chăm sóc sức khỏe cho mình. Hơn thế nữa, tiếp cận chính sách người khuyết tật theo xu hướng này còn tận dụng được những đóng góp của người khuyết tật vào công cuộc phát triển chung của xã hội nhất là trong điều kiện số lượng người khuyết tật chiếm tỷ lệ lớn trong xã hội như ở nước ta. Do vậy, để đảm bảo được nhu cầu hòa nhập của người khuyết tật vào đời sống xã hội, đồng thời đảm bảo tính tương thích với Công ước Quốc tế về quyền của người khuyết tật và các văn bản pháp luật quốc tế có liên quan, chúng tôi cho rằng Ban soạn thảo nên nghiên cứu, tham khảo thêm thuật ngữ “người khuyết tật” được quy định trong Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật và trong pháp luật của một số nước như Cộng hòa liên bang Đức, Nam Phi…
 

TRUNG TÂM THÔNG TIN, THƯ VIỆN VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ : 35 Ngô Quyền - Hà Nội - Điện thoại: 080.43838 - Fax: 080.46830
Email: cilires@qh.gov.vn
Được xây dựng với sự tài trợ của Quỹ Châu Á và được nâng cấp với sự hỗ trợ của Dự án DANIDA