Dự thảo luật
Dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sửa đổi)

Cơ quan trình dự thảo: Chính phủ

Cơ quan chủ trì soạn thảo: Ngân hàng nhà nước

Ủy ban chủ trì thẩm tra: Ủy ban Kinh tế

Dự kiến thảo luận cho ý kiến tại: Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XII, tháng 10-2009

Dự kiến biểu quyết thông qua tại: Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII, tháng 5 - 2010

Đối tượng điều chỉnh và phạm vi áp dụng:

Luật này quy định về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Gợi ý lấy ý kiến

1/ Vấn đề Thanh tra, giám sát an toàn hoạt động ngân hàng

 

   + Về hoạt động Thanh tra, giám sát ngân hàng, nhóm ý kiến thứ nhất cho rằng cần tuân thủ các quy định hiện hành của pháp luật về thanh tra về quy trình, thủ tục...không cần có các quy định riêng đối với hoạt động thanh tra ngân hàng.

   + Nhóm ý kiến thứ hai cho rằng có những khác biệt rất quan trọng giữa Thanh tra hành chính thông thường và Thanh tra trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng. 

2/ Việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mua cổ phần trong các tổ chức tín dụng

   Để tránh sự đổ vỡ của một tổ chức tín dụng khi bị mất khả năng thanh toán,  thông thường Nhà nước phải quyết định mua lại cổ phần của tổ chức tín dụng liên quan (quốc hữu hoá một phần), nếu việc đổ vỡ của tổ chức đó có thể dẫn đến sự đổ  vỡ dây chuyền của các tổ chức tín dụng khác hoặc trong trường hợp sự đổ vỡ đó mang lại những hậu quả rất xấu đối với nền kinh tế và xã hội. Việc cho vay đặc biệt trong một số trường hợp không xử lý được “triệt để” những tồn tại, những nguyên nhân dẫn đến rủi ro, và đặc biệt không phải là một chế tài mạnh đối với các cổ đông, nhất là các cổ đông lớn có nhiều sai phạm, bởi lẽ khi tổ chức tín dụng đã được phục hồi, toàn bộ giá trị cổ phần của họ sẽ lại khôi phục được giá trị ban đầu. Căn cứ trên kinh nghiệm thực tiễn xử lý các tổ chức tín dụng gặp khó khăn trong những năm qua và thực tiễn gần đây trong xử lý ngân hàng tại một số nước, Dự thảo Luật NHNNVN có quy định mới về việc “Ngân hàng Nhà nước quyết định mua cổ phần có thời hạn của các tổ chức tín dụng gặp khó khăn về tài chính, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng theo cơ chế do Thủ tướng Chính phủ quy định”.

   + Có ý kiến cho rằng để bảo đảm sự an toàn cho Ngân hàng Nhà nước không nên có quy định như vậy mà nên giao cho các Cơ quan khác, ví dụ Bộ Tài chính thực hiện.

   + Cũng có ý kiến cho rằng dù Cơ quan nào thực hiện nhiệm vụ này, thì nguồn vốn vẫn là của Nhà nước

Các tài liệu tham khảo
 
 
Những ý kiến đóng góp Thêm mới góp ý
  • Người gửi: Luật gia Vũ Xuân Tiền (Nguồn: Vibonline)
  • Email:
  • Ngày gửi: 03:59:45 | 18/09/2009

Căn cứ dự thảo 4 Luật NHNN, xin có những góp ý cụ thể sau:
1: Khoản 1 Điều 2 Dự thảo Luật ghi: “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, là Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”.
Thế nào là Cơ quan ngang Bộ? Cơ quan ngang Bộ khác với cơ quan thuộc Chính phủ ở những điểm nào? Cho đến nay, trong tất cả các văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta chưa thấy văn bản nào quy định về cơ quan ngang Bộ. Cơ quan nganh Bộ chỉ là thuật ngữ nói hàng ngày, không phải là ngôn ngữ pháp luật. Đề nghị không sử dụng thuật ngữ này trong văn bản Luật.
2. Điều 4 dự thảo Luật quy định như sau:
“Chính sách tiền tệ quốc gia là một bộ phận của chính sách kinh tế của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô”
Quy định tại Điều 4 quá chung chung vì chỉ nói về tầm quan trọng của Chính sách tiền tệ quốc gia, do đó, có thể bỏ điều này cũng không ảnh hưởng gì. Đề nghị quy định rõ:
- Chính sách tiền tệ quốc gia là gì?
- Chính sách tiền tệ quốc gia có những nội dung gì?
- Ngân hàng nhà nước Việt Nam có trách nhiệm như thế nào trong việc xây dựng Chính sách tiền tệ quốc gia?
3: Điều 5 dự thảo quy định về quyết định và tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia như sau:
1. Quốc hội quyết định định hướng chỉ tiêu lạm phát hàng năm, giám sát việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia để đạt định hướng chỉ tiêu lạm phát.
2. Chính phủ quyết định mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ quốc gia nhằm thực hiện định hướng chỉ tiêu lạm phát hàng năm.
3. Ngân hàng Nhà nước xây dựng định hướng chỉ tiêu lạm phát hàng năm để Chính phủ trình Quốc hội quyết định; triển khai các định hướng, giải pháp điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, chủ động sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ và các giải pháp khác để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, đạt định hướng chỉ tiêu lạm phát đã được Quốc hội quyết định.
Đề nghị thay khoản 2 trong dự thảo trên bằng đoạn sau đây trong Điều 3 Luật NHNN hiện hành:
“Chính phủ xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia, mức lạm phát dự kiến hàng năm trình Quốc hội quyết định ; tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia; quyết định lượng tiền cung ứng bổ sung cho lưu thông hàng năm, mục đích sử dụng số tiền này và định kỳ báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội; quyết định các chính sách cụ thể khác và giải pháp thực hiện”.
4. Đề nghị xem lại quy định tại khoản 1 Điều 11 cần làm rõ: Thống đốc NHNN là quan chức cấp nào? Nếu NHNN là cơ quan ngang bộ của Chính phủ thì phải quy định: Thống đốc NHNN là quan chức ngang Bộ trưởng và ngang với các thành viên của Chính phủ?
5. Về Điều 12:
a) Khoản 1 Điều 12 quy định: “ 1. Việc quản lý, tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công chức Ngân hàng Nhà nước về nguyên tắc thực hiện theo các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức”.
Đề nghị bỏ cụm từ “về nguyên tắc”. Nếu có cụm từ này, có nghĩa là, trong thực tế có thể không thực hiện theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức?
b) Khoản 2 Điều 12 quy định “Thủ tướng Chính phủ quy định cơ chế tuyển dụng, chế độ đãi ngộ, sử dụng cán bộ, công chức của Ngân hàng Nhà nước phù hợp với hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng trung ương”.
Đề nghị làm rõ hơn cụm từ “phù hợp với hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng trung ương”. Phải chăng, các cán bộ, công chức của NHNN vừa là công chức lại vừa không phải là công chức? Phải chăng cần có cơ chế đặc thù đối với cán bộ, công chức của NHNN?
6. Về Nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
a). Khoản 1 Điều 13, Đề nghị sửa lại là “Thống đốc Ngân hàng Nhà nước điều hành các công cụ chính sách tiền tệ nhằm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia.
b). Khoản 2 Điều 13 đề nghị quy định rõ hơn nhiệm vụ của NHNN trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Nếu quy định như dự thảo, NHNN chỉ có một nhiệm vụ là “báo cáo Chính phủ” thì quá đơn giản và không đúng. Cần làm rõ: Nếu mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia không thực hiện được như: giá trị đồng tiền không ổn định, không kiểm soát được lạm phát, dẫn đến không ổn định kinh tế vĩ mô thì ai chịu trách nhiệm và chịu trách nhiệm như thế nào?
7.Về Điều 21 Phát hành tiền giấy, tiền kim loại
Đề nghị quy định rõ: Phát hành tiền giấy, tiền kim loại theo những nguyên tắc nào? Cơ quan nào có thẩm quyền quyết định việc phát hành để tránh tình trạng in tiền để tiêu khi thu – chi khi ngân sách bị thiếu
8. Điều 30. Tạm ứng cho Ngân sách nhà nước
Đề nghị không sử dụng từ tạm ứng mà phải là cho vay và bỏ cụm “Trường hợp khoản tạm ứng không được hoàn trả trong năm ngân sách, Bộ Tài chính có trách nhiệm báo cáo Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định”. Quy định dự thảo là quá dễ dãi trong việc ứng tiền để tiêu, tạo ra sự đã rồi để UBTV Quốc hội xử lý).
9 Điều 33. Tổ chức, quản lý, giám sát các hệ thống thanh toán
1. Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc quản lý, giám sát nhằm bảo đảm các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế vận hành an toàn, hiệu quả.
2. Ngân hàng Nhà nước tổ chức, quản lý, vận hành hệ thống thanh toán liên ngân hàng.
Khoản 2 Điều này có thừa không? Vì hệ thống thanh toán liên ngân hàng nằm trong “Các hệ thống thanh toán trong nền kinh tế” tại khoản 1. Nếu hệ thống thanh toán liên ngân hàng có những đặc thù riêng thì cần quy định cho đặc thù riêng đó, chẳng hạn, sự kết nối trong hệ thống thanh toán giữa các ngân hàng với nhau phải thực hiện theo nguyên tắc nào? Phải đáp ứng những yêu cầu gì?
10. Về Quản lý Dự trữ ngoại hối Nhà nước
a). Khoản 1 Điều 37: Đề nghị xem lại: Vàng do NHNN quản lý có được coi là ngoại hối không vì Vàng ở quốc gia nào cũng là vàng với các tiêu chuẩn như nhau.
b). Khoản 3 Điều 37: Đề nghị xem lại: Quốc hội hay Thủ tướng Chính phủ quyết định sử dụng Dự trữ ngoại hối Nhà nước?
11. Về Điều 42. Nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước trong hoạt động thông tin
Đề nghị bổ sung vào khoản 2 Điều 42 về nội dung công bố kịp thời cho công chúng “e) Các dự báo quan trọng liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh như: Lãi suất tiền vay, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng…”.
12. Đề nghị sửa lại Điều 44 như sau:
Điều 44. Thống kê, phân tích, dự báo tiền tệ
44.1 Ngân hàng Nhà nước tổ chức thống kê, thu thập thông tin về kinh tế, tiền tệ và hoạt động ngân hàng trong và ngoài nước;
44.2. Nghiên cứu, phân tích và dự báo diễn biến tiền tệ nhằm xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia và cung cấp thông tin cho hoạt động sản xuất kinh doanh;
13. Điều 58. Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng
Khoản 1 Điều 58 cần làm rõ:
- Nếu Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng là cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước thì hoạt động của chính NHNN ai sẽ thanh tra, giám sát? Có hay không tình trạng vừa đá bóng, vừa thổi còi với quy định này?
- Vì vậy, đề nghị có thêm một điều khoản quy định về quan hệ giữa NHNN với Ủy ban giám sát tài chính quốc gia.
  • Người gửi: Luật gia Vũ Xuân Tiền (Nguồn: Vibonline)
  • Email:
  • Ngày gửi: 03:56:09 | 18/09/2009

Những vấn đề chung

Trước khi nêu những ý kiến góp ý cụ thể vào từng điều, khoản của dự thảo luật, xin được nêu hai vấn đề tổng hợp có ý nghĩa quan trọng hơn cả, đề xuất ý kiến và đề nghị hội thảo trao đổi, Ban soạn thảo cho ý kiến giải thích.
Vấn đề thứ nhất: Vì sao chúng ta không xây dựng một Luật Ngân hàng Trung ương Việt Nam mà vẫn duy trì một Ngân hàng nhà nước Việt Nam “lưỡng tính” như từ trước đến nay?
Ở rất nhiều quốc gia như Trung Quốc, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Hà Lan, Mexico… đều có Ngân hàng Trung uơng. Ngân hàng Trung ương khác với Ngân hàng Nhà nước ở sự độc lập khá cao với Chính phủ, đó là sự Độc lập thể chế; Độc lập chức năng; Độc lập tài chính; Độc lập nhân sự. Đặc biệt quan trọng là, việc Ngân hàng Trung ương cấp tài chính trực tiếp cho Chính phủ và các cơ quan công quyền ảnh hưởng trực tiếp đến cung tiền cơ sở, tạo ra những rủi ro lạm phát nghiêm trọng và do vậy cần phải cấm thực hiện. Chẳng hạn, Điều 29, Luật Ngân hàng nhân dân Trung Quốc quy định: “Ngân hàng nhân dân Trung Quốc không được cung cấp dịch vụ thấu chi cho Chính phủ hoặc bảo lãnh trái phiếu cho Chính phủ và các giấy tờ có giá khác của Chính phủ”. Điều 30 Luật Ngân hàng nhân dân Trung Quốc quy định:“Ngân hàng nhân dân Trung Quốc không được cho chính quyền địa phương và các cơ quan chính phủ các cấp vay tiền…”. Như vậy, nếu hình thành một Ngân hàng trung ương độc lập, việc quản lý chi tiêu công sẽ minh bạch hơn. Ở nước ta trong những năm vừa qua, việc chi tiêu công đã và đang lãng phí, thiếu minh bạch một cách nghiêm trọng. Điều đó được thể hiện qua các báo cáo đã công bố của Kiểm toán Nhà nước qua các năm. Vì vậy, xin đề nghị, xây dựng một Luật Ngân hàng Trung ương Việt Nam theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
Vấn đề thứ hai: Mối quan hệ giữa Ngân hàng nhà nước với Ủy ban giám sát tài chính quốc gia như thế nào?
Uỷ Ban giám sát tài chính quốc gia Việt Nam (UBGSTCQG) được thành lập theo QĐ số 34/2008/QĐ-TTg ngày 03/3/2008 và Quyết định số 79/2009/QĐ-TTg ngày 18/5/2009 của Thủ Tướng Chính Phủ ban hành Qui chế tổ chức và hoạt động của UBGSTCQG đã ghi:UBGSTCQG “có chức năng tham mưu, tư vấn cho Thủ Tướng Chính Phủ trong việc điều phối hoạt động giám sát TTTC quốc gia (NH, CK, BH); giúp TTCP giám sát chung TTTC quốc gia, giám sát hợp nhất hoạt động của các tập đoàn tài chính, giám sát điều kiện được cấp phép hoạt động của các TCTD, tổ chức tài chính hoạt động trong lĩnh vực NH,CK,BH”;..... Với chức năng, nhiệm vụ và vị như vậy, UBGSTCQG là gì trong vai trò “giám sát tài chính quốc gia”? Nêu mối quan hệ giữa Ngân hàng NN và Ủy ban giám sát tài chính quốc gia không được ghi nhận trong Luật NHNN thì khi thực hiện chức năng giám sát, UBGSTCQG có vi phạm luật NHNN không?
  • Người gửi: Nguyễn Quang Tuyến (Nguồn: Vibonline)
  • Email:
  • Ngày gửi: 03:43:12 | 18/09/2009

Về một số nội dung cụ thể của Dự thảo Luật

Xuất phát từ nhận thức như trên về cách tiếp cận khi xây dựng Dự thảo Luật, chúng tôi có một số bình luận và góp ý sau đây về một số nội dung của dự thảo Luật:
• Nhìn tổng thể, nội dung của Dự thảo Luật tuy đã có nhiều đổi mới nhưng vẫn chưa thoát ra khỏi quan niệm truyền thống lâu nay là coi Ngân hàng Trung ương như một cơ quan hành chính, với một số hoạt động đặc thù. Điều này thể hiện ở chỗ, việc thiết kế bộ máy tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay quá cồng kềnh (với 64 chi nhánh tại các tỉnh, thành phố thuộc trung ương) và vẫn rất coi trọng hoạt động quản lý hành chính nhà nước, giống như tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính.
• Về tên gọi của Ngân hàng trung ương và tên gọi của Luật.
Dự thảo Luật này vẫn lấy tên cũ là “Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” và vẫn gọi tên Ngân hàng trung ương của Việt Nam là “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”. Vấn đề này có vẻ như chỉ mang tính hình thức nhưng chúng tôi cho rằng cách đặt tên như vậy sẽ thiếu chuẩn xác về phương diện học thuật.
Vì lẽ đó, chúng tôi kiến nghị: Đổi tên “Ngân hàng nhà nước Việt Nam” thành tên “Ngân hàng quốc gia Việt Nam” đồng thời cũng đổi tên “Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam” thành “Luật ngân hàng quốc gia Việt Nam”. Kiến nghị này xuất phát từ các lập luận sau đây:
- Tên gọi “Ngân hàng nhà nước Việt Nam” chỉ phản ánh được khía cạnh sở hữu đối với cơ quan đặc biệt này chứ không phản ánh được bản chất là Ngân hàng trung ương của nước Việt Nam và các chức năng vốn có của nó so với các ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường. nhu cầu cần thiết và cấp bách, vì các lí do sau đây:
- Việc đổi tên gọi “Ngân hàng nhà nước Việt Nam” thành “Ngân hàng quốc gia Việt Nam” không những cho phép khẳng định yếu tố chủ quyền quốc gia về tiền tệ mà còn khẳng định rõ bản chất của cơ quan này là ngân hàng trung ương của nước Việt Nam có chủ quyền. Đây là sự tuyên bố cần thiết trước thế giới về chủ quyền tiền tệ của nước Việt Nam và đồng thời cũng phản ánh sự tương đồng của pháp luật Việt Nam so với pháp luật các nước về địa vị pháp lí của cơ quan phát hành tiền.
- Tên gọi “Ngân hàng quốc gia Việt Nam” thể hiện sự nhấn mạnh đến yếu tố chủ quyền quốc gia về tiền tệ hơn là khía cạnh sở hữu của cơ quan phát hành tiền. Tên gọi này ít gây ra sự tranh cãi trong dư luận và cũng dễ dàng được thế giới chấp nhận hơn và do đó không gây ra các hiệu ứng bất lợi cho quá trình hội nhập của hệ thống ngân hàng Việt Nam vào sân chơi toàn cầu.
• Các quy định về chức năng và thẩm quyền của Ngân hàng trung ương cần được thiết kế theo hướng chuyển dần chức năng quản lí hành chính nhà nước về ngân hàng của cơ quan phát hành tiền quốc gia thành chức năng giám sát và kiểm soát an toàn hệ thống ngân hàng, bằng cách tăng cường các quy định mang tính kinh tế về hoạt động của ngân hàng trung ương và giảm bớt các quy định mang tính hành chính đối với hoạt động của cơ quan này. Đây là xu hướng phát triển phù hợp với trào lưu chung của các ngân hàng trung ương trên thế giới. Điều này rất có lợi cho Việt Nam trong quá trình hội nhập bởi lẽ sự nỗ lực của Chính phủ trong việc cải cách ngân hàng trung ương để nó phù hợp hơn với chuẩn mực quốc tế bao giờ cũng dễ được các bên đối tác nước ngoài chấp nhận.
• Cần có các quy định theo hướng cải cách mạnh mẽ cơ cấu tổ chức của ngân hàng trung ương bằng cách giảm bớt số lượng các chi nhánh cấp tỉnh, chỉ nên đặt các chi nhánh cấp vùng. Đứng trước yêu cầu tinh giản biên chế bộ máy và nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng trung ương như hiện nay thì rõ ràng đây là giải pháp lựa chọn hợp lí và rất cần thiết. Hơn nữa, so với các tiêu chuẩn chung của một ngân hàng trung ương theo thông lệ quốc tế thì việc duy trì bộ máy quá cồng kềnh và mang tính hành chính sẽ không thích hợp với quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam. Đây cũng là điều được khuyến nghị thường xuyên bởi các chuyên gia nước ngoài đối với Việt Nam trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật ngân hàng.
• Cần thiết kế các quy định theo hướng nâng cao tính độc lập về tổ chức và hoạt động của ngân hàng trung ương trong mối quan hệ với Chính phủ, các tổ chức chính trị – xã hội, các nhóm lợi ích chính trị khác. Thực tế cho thấy do vị trí pháp lí đặc biệt của mình, các quyết định của ngân hàng trung ương thường ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của Chính phủ, các tổ chức chính trị – xã hội và các nhóm lợi ích khác, kể cả giới doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Vì thế, các chủ thể này luôn có xu hướng tìm cách tác động bằng cách này hay cách khác đến các quyết định và chính sách cụ thể của ngân hàng trung ương, chẳng hạn như chính sách tiền tệ quốc gia, chính sách phát triển hệ thống dịch vụ ngân hàng… Điều này có thể gây ra những thiệt hại cho nền kinh tế và lợi ích chung của toàn xã hội, ví dụ như tình trạng lạm phát, vấn đề việc làm, mức thu nhập và mức sống thực tế của người lao động, thậm chí là sự ảnh hưởng đến các quyết định của nhà đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế thị trường. Các phân tích này cho thấy sự cần thiết phải ban hành những quy định nhằm nâng cao tính độc lập của ngân hàng trung ương trong mối quan hệ với các nhóm lợi ích khác nhau trong xã hội.
  • Người gửi: Nguyễn Quang Tuyến (Nguồn: Vibonline)
  • Email:
  • Ngày gửi: 03:40:31 | 18/09/2009

Về cách tiếp cận của Dự thảo Luật

• Trên thế giới có hai mô hình Ngân hàng Trung ương: (i) Là cơ quan trực thuộc Quốc Hội; và (ii) Là cơ quan trực thuộc Chính Phủ. Tuy nhiên, dù là theo mô hình nào thì về nguyên tắc Ngân hàng trung ương cũng đều phải đảm bảo tính độc lập trong việc thực thi chính sách tiền tệ quốc gia và giám sát an toàn của hệ thống tài chính tín dụng quốc gia vì mục tiêu ổn định xã hội, phát triển kinh tế. Vì vậy, việc thiết kế các quy định của Luật phải đảm bảo tính độc lập cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm đảm bảo cho cơ quan này thực sự là một Ngân hàng Trung ương theo đúng nghĩa.
• Nếu Việt Nam lựa chọn mô hình thứ hai, tức là coi Ngân hàng trung ương là cơ quan của Chính phủ thì cũng cần nhìn nhận cơ quan này như là một thiết chế đặc biệt, không hoàn toàn là một cơ quan hành chính và không nên thiết kế các quy định về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng trung ương giống như một cơ quan hành chính.
• Việc thiết kế các quy định của Luật cần đảm bảo tính tương đồng với thông lệ quốc tế, nghĩa là tăng cường chức năng giám sát của Ngân hàng trung ương đối với hệ thống tổ chức tín dụng thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô của Ngân hàng trung ương và hạn chế việc sử dụng các biện pháp hành chính để can thiệp sâu và hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng.
 

TRUNG TÂM THÔNG TIN, THƯ VIỆN VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ : 35 Ngô Quyền - Hà Nội - Điện thoại: 080.43838 - Fax: 080.46830
Email: cilires@qh.gov.vn
Được xây dựng với sự tài trợ của Quỹ Châu Á và được nâng cấp với sự hỗ trợ của Dự án DANIDA