|
Dự thảo mới
Số lần truy cập
|
Dự thảo luật
Dự thảo Luật Giao thông đường bộ (Trình UBTVQH 24/7/2008)
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10; Quốc hội ban hành Luật giao thông đường bộ (sửa đổi) Các tài liệu tham khảo
Những ý kiến đóng góp
Quy hoạch các công trình trên trục đường giao thông phải đồng bộ để tránh nạn đào đường Cần nghiêm cấm khoan xẻ đường trái phép, đặt chướng ngại vật. Làm rõ những lực lượng đào, khoan, xẻ đường trái phép, để chướng ngại vật là lực lượng nào? Tôi thấy chủ yếu là lực lượng giao thông cầu đường, lực lượng của ngành cấp, thoát nước, lực lượng của ngành bưu điện, lực lượng của ngành công trình đô thị. Họ liên tục thi công trên các trục đường, nguyên nhân là do chúng ta quy hoạch và đầu tư không đồng bộ, giữa các ngành chưa phối hợp trong thi công. Đầu tiên là lực lượng thi công đường, rồi đến đào xới để đặt cống, đào xới đặt ống thoát nước. Đến bưu điện đào xới để đặt cáp, đến công trình đô thị đào xới lên để trồng cây, trồng hoa để chiếu sáng, họ liên tục thi công năm này đến năm nọ, khi các công trình đường xuống cấp, lại tiếp tục thi công sửa chữa. Đây là một trong những nguyên nhân gây lãng phí lớn, gây ách tắc giao thông, tai nạn giao thông, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt của dân cư ở hai bên trục đường.
Quy định hợp lý tỷ lệ đất giao thông đô thị Khoản 3 Điều 40 của Dự thảo Luật quy định tỷ lệ đất giao thông đô thị so với đất đô thị phải đảm bảo từ 16% - 26% để đáp ứng yêu cầu phát triển lâu dài của giao thông đô thị. Tôi cho rằng, quy định cần dành quỹ đất thích hợp để phát triển giao thông đô thị là hết sức cần thiết. Rất nhiều quốc gia đã coi phát triển giao thông là một trong những nền tảng cơ bản thúc đẩy phát triển kinh tế. Tuy nhiên, quy định như trong Dự thảo Luật có lẽ cũng chỉ phù hợp với sự phát triển giao thông ở các đô thị mới. Các đô thị hiện đại gần như không có quỹ đất, hoặc nếu có cũng khó quy hoạch và rất tốn kém. Vì vậy, để bảo đảm thuận tiện cho việc phát triển quy hoạch giao thông đô thị và đảm bảo tính khả thi của luật, tôi đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc kỹ vấn đề này và quy định rõ tỷ lệ quỹ đất dành cho giao thông loại đô thị hiện đại và loại đô thị mới ngay trong Luật để dễ thực hiện.
Về việc xác định đúng người gây ra tai nạn Đề nghị giải thích thêm vấn đề chất kích thích khác sao cho phù hợp. Tôi đề nghị nghiên cứu dụng cụ đo nồng độ cồn có được bảo đảm và chính xác không? Ban soạn thảo nghiên cứu thêm, ví dụ trên một chuyến xe có từ 2 người trở lên, khi gây ra tai nạn, người lái xe có nồng độ cồn cao trong máu quá quy định, hoặc chưa có bằng lái thường thỏa thuận với người khác trên xe có điều kiện nhận tội thay, làm thế nào để xác định đúng người gây ra tai nạn?
Về quy định riêng cho xe đạp điện và xe máy điện Tôi đề nghị có những quy định dành riêng cho xe đạp điện và xe máy điện, vì hiện nay phương tiện giao thông này đang phát triển rất nhanh và tốc độ của một số loại xe này lên đến 50-60km/h. Hơn nữa, khi xe vận hành lại không có tiếng động cơ nên xem ra rất nguy hiểm, theo tôi nên đưa vào Luật để có những quy định cụ thể.
Chủ xe và người thuê xe tự lái Ban soạn thảo cần nghiên cứu nội dung điều chỉnh loại hình kinh doanh cho thuê xe ô tô tự lái, chủ yếu là loại xe 4 chỗ, 7 chỗ và 9 chỗ hiện nay. Loại hình này hiện nay rất phổ biến ở các tỉnh, thành phố và rất tiện lợi, nhưng chưa có điều luật nào quy định về đăng ký, quản lý, quyền lợi và trách nhiệm pháp luật đối với chủ xe và người thuê xe tự lái. Vì vậy, nên nghiên cứu bổ sung vấn đề này cho cập nhật với thực tiễn.
Một số ý kiến cụ thể Sau khi xem toàn văn dự thảo Luật Giao thông đường bộ, tuy không có ý kiến tham gia đóng góp vào những vấn đề cơ bản của dự thảo, nhưng tôi xin tham gia đóng góp một số ý kiến nhỏ như sau với mong muốn góp một phần để khi Luật Giao thông đường bộ được ban hành sẽ hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót dù là nhỏ nhất.
- Đề nghị xem lại cụm từ “qua lại” được sử dụng tại khoản 6 Điều 3 là chính xác hay thay bằng cụm từ “đi lại” hoặc một cụm từ nào khác mới đảm bảo chính xác (nên tra từ điển).
- Đề nghị sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 3 như sau: “Khổ giới hạn của đường bộ là khoảng trống có kích thước giới hạn về chiều cao, chiều rộng của đường, cầu, bến phà, hầm trên đường bộ để các xe (kể cả hàng hóa xếp trên xe) đi qua được an toàn.”, vì như vậy mới đảm bảo chính xác về ngữ pháp tiếng Việt.
- Đề nghị sửa đổi, bổ sung khoản 12 Điều 3 như sau: “Đường cao tốc là đường dành cho xe cơ giới, có dải phân cách chia đường cho xe chạy hai chiều riêng biệt; không giao nhau cùng mức với một hay nhiều đường khác; được bố trí đầy đủ trang thiết bị phục vụ, bảo đảm giao thông liên tục, an toàn, rút ngắn thời gian hành trình và chỉ cho xe ra, vào ở những điểm nhất định.”, vì nếu quy định như trong dự thảo là đã bỏ qua mất trường hợp “giao nhau cùng mức với một đường khác” (các đường khác rõ ràng là phải từ hai đường khác trở lên, chứ một đường khác thì không thể là các đường khác được).
- Đề nghị xem lại nội dung quy định tại khoản 18 Điều 3, vì giữa phần quy định chung và phần quy định cụ thể về xe thô sơ không có sự đồng nhất với nhau, phần quy định chung có nêu xe thô sơ là các loại xe không di chuyển bằng sức động cơ nhưng tại phần quy định cụ thể lại nêu xe thô sơ gồm cả xe lăn có động cơ dùng cho người khuyết tật.
- Đề nghị xem lại cụm từ “Quy hoạch phát triển giao thông đường bộ” được sử dụng tại khoản 3 Điều 6 đã chính xác chưa hay cụm từ “Quy hoạch phát triển giao thông vận tải đường bộ” mới là chính xác, nếu đúng là chính xác thì đề nghị tách thành điều riêng hoặc đưa vào chỗ khác vì Điều 6 là điều quy định về “Quy hoạch giao thông vận tải đường bộ”. Tương tự với cụm từ “quy hoạch kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ” được sử dụng tại khoản 6 và khoản 7 Điều 6.
- Đề nghị sửa đổi cụm từ “Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh” được sử dụng tại khoản 5 Điều 6 thành cụm từ “Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh)”, vì ở các phần trước chưa có chỗ nào đề cập đến vấn đề này nên ở đây chưa thể viết tắt là “cấp tỉnh” được.
Một số ý kiến cụ thể (tiếp 2) - Đề nghị xem lại việc sử dụng cụm từ “được đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ” tại khoản 3 và cụm từ “kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sau khi xây dựng, nâng cấp, cải tạo” tại khoản 5 Điều 48 sao cho thống nhất với quy định tại khoản 1 Điều 48.
- Đề nghị xem lại cụm từ “đường địa phương” được sử dụng tại Điều 49.
- Đề nghị sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 4 Điều 52 như sau: “Các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp trong việc bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ”. Tương tự đối với cụm từ “nhiệm vụ, quyền hạn” được sử dụng tại khoản 5 và khoản 6 Điều 85.
- Đề nghị thay cụm từ “chính quyền địa phương” được sử dụng tại khoản 5 Điều 52 bằng cụm từ “uỷ ban nhân dân”.
- Đề nghị thống nhất việc sử dụng cụm từ “chất lượng, an toàn kỹ thuật” tại khoản 1, khoản 2 và cụm từ “chất lượng an toàn kỹ thuật” tại khoản 5 Điều 53, tiêu đề Điều 54, khoản 1, khoản 6 Điều 54, khoản 1, khoản 4, khoản 6 Điều 57 (có hay không có dấu phẩy).
- Đề nghị sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 54 như sau: “Bộ trưởng Bộ Công an quy định và tổ chức cấp, thu hồi đăng ký, biển số các loại xe cơ giới, trừ các loại xe cơ giới của quân đội sử dụng vào mục đích quốc phòng; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định và tổ chức cấp, thu hồi đăng ký, biển số các loại xe cơ giới của quân đội sử dụng vào mục đích quốc phòng.”
- Đề nghị xem lại cụm từ “quyết định” được sử dụng tại khoản 1 Điều 55 đã chính xác chưa hay “quy định” mới là chính xác.
- Đề nghị sửa lại cụm từ “Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh” được sử dụng tại khoản 2 Điều 56 thành “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh”.
- Đề nghị nghiên cứu thêm đối với quy định “người điều khiển xe mô tô hai bánh, xe gắn máy chỉ được chở tối đa một người lớn và một trẻ em dưới 14 tuổi” và quy định “người điều khiển xe đạp khi tham gia giao thông chỉ được chở tối đa một người lớn và một trẻ em dưới 7 tuổi”. Vì trong thực tế, người cảnh sát giao thông bằng mắt thường hầu như là không thể phân biệt được trẻ em ngồi trên xe mô tô hai bánh, xe gắn máy là dưới 14 tuổi hay đủ 14 tuổi hay 15 tuổi và trẻ em ngồi trên xe đạp là dưới 7 tuổi hay đủ 7 tuổi hay 8 tuổi mà có thể hai loại đối tượng này không có giấy tờ giấy tờ tuỳ thân được dán ảnh, tức là không có giấy tờ tuỳ thân có tính pháp lý như chứng minh thư nhân dân của người lớn, vậy người cảnh sát giao thông biết căn cứ vào đâu để xác định có vi phạm hay không vi phạm để xử phạt, nếu không có quy định cụ thể hơn thì quy định vẫn chỉ là quy định còn tính khả thi là rất thấp. Trong trường hợp quy định về tốc độ hoặc nồng độ cồn thì người cảnh sát giao thông còn có thiết bị hỗ trợ là máy bắn tốc độ hoặc máy đo nồng độ còn, còn trong trường hợp trên chẳng lẽ lại trang bị cho cảnh sát giao thông máy đo xương, nhưng trong thực tế chưa thấy nói đến việc trang máy này.
Một số ý kiến cụ thể (tiếp 3) - Đề nghị thống nhất việc có sử dụng hay không sử dụng cụm từ “khi tham gia giao thông” sau các cụm từ “người điều khiển xe mô tô hai bánh, xe gắn máy”, “người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy”, “người đang điều khiển xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy”, “người ngồi trên xe mô tô hai bánh, mô tô ba bánh, xe gắn máy”, “người điều khiển xe đạp”, “người ngồi trên xe đạp”, “người điều khiển, người ngồi trên xe đạp máy”, “người điều khiển xe thô sơ khác”, “người đi bộ” quy định tại các Điều 30, 31 và 32.
- Đề nghị sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 31 như sau: “1. Người điều khiển xe đạp khi tham gia giao thông chỉ được chở tối đa một người lớn và một trẻ em dưới 7 tuổi và không được thực hiện các hành vi quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và g khoản 3 Điều 30 của Luật này; người ngồi trên xe đạp khi tham gia giao thông không được thực hiện các hành vi quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 4 Điều 30 của Luật này.”
- Đề nghị xem lại việc sử dụng cụm từ “phải có người lớn dắt” tại khoản 6 Điều 32, vì chưa thực sự chuẩn xác, cần quy định cụ thể hơn. Ví dụ vẫn là người lớn dắt nhưng người đó lại là người khuyết tật hoặc người già yếu - bản thân họ còn phải cần đến sự giúp đỡ của người khác khi đi qua đường - thì làm sao đảm bảo được an toàn khi dắt trẻ em dưới 7 tuổi đi qua đường đô thị.
- Đề nghị bổ sung thêm vào Điều 34 quy định về điều kiện người được phép điều khiển, dẫn dắt súc vật đi trên đường bộ.
- Đề nghị thống nhất việc sử dụng hai cụm từ sau: cụm từ “các hoạt động trên” tại điểm a và cụm từ “các hoạt động động văn hóa, thể thao, diễu hành, lễ hội” tại điểm c của khoản 1 Điều 35.
- Đề nghị sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 36 như sau: “2. Các hoạt động khác trên đường phố phải thực hiện theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 35 của Luật này, trường hợp đặc biệt, việc sử dụng tạm thời một phần lòng đường, hè phố vào mục đích khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định nhưng không được làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn giao thông. 3. Ngoài việc không được thực hiện các hành vi quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g và h khoản 2 Điều 35 của Luật này còn không được thực hiện các hành vi sau đây: a) Đổ rác hoặc phế thải ra đường không đúng nơi quy định; b) Xây, đặt bục, bệ trái phép trên đường; c) Tự ý tháo mở nắp cống trên đường ; d) Các hành vi khác gây cản trở giao thông.”
- Đề nghị xem lại nội dung quy định tại khoản 5 Điều 28 và điểm b khoản 2 Điều 37, vì tại khoản 5 Điều 28 sử dụng cụm từ “đường bộ” trong khi đó tại điểm b khoản 2 Điều 37 lại sử dụng cụm từ “đường bộ và đường đô thị” và tại khoản 5 Điều 28 sử dụng cụm từ “do địa phương quản lý” trong khi đó tại điểm b khoản 2 Điều 37 lại sử dụng cụm từ “thuộc phạm vi quản lý”.
- Đề nghị sửa đổi khoản 1 Điều 38 như sau: “1. Người lái xe và những người liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn phải có trách nhiệm: a) Dừng ngay xe lại; giữ nguyên hiện trường; cấp cứu người bị nạn; ở lại nơi xảy ra tai nạn cho đến khi người của cơ quan công an đến, trừ trường hợp phải đưa người bị nạn đi cấp cứu, nhưng phải có mặt khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu hoặc trường hợp bị thương phải đưa đi cấp cứu hoặc trường hợp vì lý do bị đe dọa đến tính mạng, nhưng phải đến trình báo ngay với cơ quan công an nơi gần nhất; b) Cung cấp thông tin xác thực về vụ tai nạn cho cơ quan có thẩm quyền.”
- Đề nghị sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 38 như sau: “Người điều khiển phương tiện khác khi đi qua nơi xảy ra vụ tai nạn có trách nhiệm chở người bị nạn đi cấp cứu. Các xe được quyền ưu tiên, xe của đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao khi đi qua nơi xảy ra vụ tai nạn không bắt buộc phải thực hiện trách nhiệm chở người bị nạn đi cấp cứu.”
- Đề nghị xem lại việc sử dụng cụm từ “uỷ ban nhân dân địa phương” tại khoản 4 và cụm từ “uỷ ban nhân dân nơi xảy ra tai nạn” tại khoản 5 Điều 38, vì quy định như vậy là chưa rõ ràng, chưa cụ thể, cần quy định rõ là uỷ ban nhân dân cấp nào để tạo điều kiện chủ động đồng thời gắn được trách nhiệm trong thực hiện.
- Đề nghị sửa lại cụm từ “cơ quan Nhà nước” tại khoản 5 Điều 38 thành “cơ quan nhà nước”, vVì tại nạn giao thông nói chung và tai nạn giao thông đường bộ nói riêng là một mặt trái của xã hội nên đề nghị ngoài mục đích - đồng thời cũng là trách nhiệm - cung cấp cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan, cần bổ sung vào khoản 6 Điều 38 các mục đích khác của việc thống kê, tổng hợp, xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về tai nạn giao thông đường bộ, như làm cơ sở để đề ra giải pháp nhằm hạn chế tai nạn giao thông đường bộ...
Một số ý kiến cụ thể (Điều 4) - Đề nghị xem lại việc sử dụng cụm từ “được đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ” tại khoản 3 và cụm từ “kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sau khi xây dựng, nâng cấp, cải tạo” tại khoản 5 Điều 48 sao cho thống nhất với quy định tại khoản 1 Điều 48.
- Đề nghị xem lại cụm từ “đường địa phương” được sử dụng tại Điều 49.
- Đề nghị sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 4 Điều 52 như sau: “Các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp trong việc bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ”. Tương tự đối với cụm từ “nhiệm vụ, quyền hạn” được sử dụng tại khoản 5 và khoản 6 Điều 85.
- Đề nghị thay cụm từ “chính quyền địa phương” được sử dụng tại khoản 5 Điều 52 bằng cụm từ “uỷ ban nhân dân”.
- Đề nghị thống nhất việc sử dụng cụm từ “chất lượng, an toàn kỹ thuật” tại khoản 1, khoản 2 và cụm từ “chất lượng an toàn kỹ thuật” tại khoản 5 Điều 53, tiêu đề Điều 54, khoản 1, khoản 6 Điều 54, khoản 1, khoản 4, khoản 6 Điều 57 (có hay không có dấu phẩy).
- Đề nghị sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 54 như sau: “Bộ trưởng Bộ Công an quy định và tổ chức cấp, thu hồi đăng ký, biển số các loại xe cơ giới, trừ các loại xe cơ giới của quân đội sử dụng vào mục đích quốc phòng; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định và tổ chức cấp, thu hồi đăng ký, biển số các loại xe cơ giới của quân đội sử dụng vào mục đích quốc phòng.”
- Đề nghị xem lại cụm từ “quyết định” được sử dụng tại khoản 1 Điều 55 đã chính xác chưa hay “quy định” mới là chính xác.
- Đề nghị sửa lại cụm từ “Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh” được sử dụng tại khoản 2 Điều 56 thành “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh”.
- Đề nghị nghiên cứu thêm đối với quy định “người điều khiển xe mô tô hai bánh, xe gắn máy chỉ được chở tối đa một người lớn và một trẻ em dưới 14 tuổi” và quy định “người điều khiển xe đạp khi tham gia giao thông chỉ được chở tối đa một người lớn và một trẻ em dưới 7 tuổi”. Vì trong thực tế, người cảnh sát giao thông bằng mắt thường hầu như là không thể phân biệt được trẻ em ngồi trên xe mô tô hai bánh, xe gắn máy là dưới 14 tuổi hay đủ 14 tuổi hay 15 tuổi và trẻ em ngồi trên xe đạp là dưới 7 tuổi hay đủ 7 tuổi hay 8 tuổi mà có thể hai loại đối tượng này không có giấy tờ giấy tờ tuỳ thân được dán ảnh, tức là không có giấy tờ tuỳ thân có tính pháp lý như chứng minh thư nhân dân của người lớn, vậy người cảnh sát giao thông biết căn cứ vào đâu để xác định có vi phạm hay không vi phạm để xử phạt, nếu không có quy định cụ thể hơn thì quy định vẫn chỉ là quy định còn tính khả thi là rất thấp. Trong trường hợp quy định về tốc độ hoặc nồng độ cồn thì người cảnh sát giao thông còn có thiết bị hỗ trợ là máy bắn tốc độ hoặc máy đo nồng độ còn, còn trong trường hợp trên chẳng lẽ lại trang bị cho cảnh sát giao thông máy đo xương, nhưng trong thực tế chưa thấy nói đến việc trang máy này.
|
![]()
Thông qua website này, Quý vị có thể tiếp cận toàn văn các dự thảo, dự án đang được QH, UBTVQH xem xét, thảo luận.
Quý vị có thể đóng góp ý kiến của mình về nội dung của các dự án, dự thảo. Các ý kiến của Quý vị sẽ được tổng hợp và gửi đến các cơ quan có thẩm quyền để nghiên cứu tiếp thu vào việc xây dựng và chỉnh lý dự thảo văn bản.
|






