|
Dự thảo mới
Số lần truy cập
|
Dự thảo luật
Dự thảo Luật các tổ chức tín dụng (Sửa đổi)
Cơ quan trình dự thảo: Chính phủ Cơ quan chủ trì soạn thảo: Bộ Tài chính Ủy ban chủ trì thẩm tra: Ủy ban Kinh tế Dự kiến thảo luận cho ý kiến tại: Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XII, tháng 10 - 2009 Dự kiến biểu quyết thông qua tại: Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII, tháng 5 - 2010 Phạm vi điều chỉnh: Luật này quy định về việc thành lập, tổ chức, quản lý, hoạt động,kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc mở, tổ chức, quản lý, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện tại Việt Nam của tổ chức tín dụng nước ngoài và của tổ chức nước ngoài khác hoạt động trên lĩnh vực ngân hàng.
Gợi ý lấy ý kiến
1. Về phạm vi điều chỉnh của Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) Hiện tại có hai loại ý kiến khác nhau về phạm vi điều chỉnh của Luật Các TCTD (sửa đổi). Cụ thể: + Loại ý kiến thứ nhất cho rằng Luật không nên đưa ra khái niệm "hoạt động ngân hàng của tổ chức khác" vì trên thực tế hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có điều kiện + Loại ý kiến thứ hai cho rằng: Luật nên điều chỉnh tổ chức, hoạt động của các TCTD và hoạt động ngân hàng của tổ chức khác vì trên thực tế vẫn có một số tổ chức khác không phải là TCTD thực hiện một số dịch vụ ngân hàng, do vậy, hoạt động này cần chịu sự quản lý, thanh tra, giám sát của NHNN. 2. Về Ngân hàng chính sách + Loại ý kiến thứ nhất cho rằng không nên đưa loại hình ngân hàng chính sách (NHCS) vào phạm vi điều chỉnh của Luật TCTD vì hiện tại các vấn đề liên quan đến thành lập, tổ chức và hoạt động của các ngân hàng chính sách đều thực hiện theo văn bản riêng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ + Loại ý kiến thứ hai cho rằng Luật Các TCTD mới nên đưa loại hình NHCS vào phạm vi điều chỉnh của Luật TCTD để bảo đảm tất cả các loại hình TCTD đều chịu sự điều chỉnh chung của Luật Các TCTD. 3. Về lãi suất trong hoạt động ngân hàng (Điều 91 Dự thảo Luật)
Hiện tại còn hai loại ý kiến khác nhau về lãi suất trong hoạt động ngân hàng, cụ thể: + Loại ý kiến thứ nhất cho rằng cần có quy định trong Dự thảo Luật trao quyền cho tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận mức lãi suất trong các hoạt động ngân hàng, không phụ thuộc vào quy định của Bộ luật dân sự vì bản chất hoạt động kinh doanh ngân hàng của tổ chức tín dụng khác về bản chất với hoạt động cho vay trong quan hệ dân sự thông thường. + Loại ý kiến thứ hai cho rằng các quy định về lãi suất của Bộ luật Dân sự (các Điều 474 và 476) cần áp dụng cho hoạt động ngân hàng vì phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự năm 2005 đã bao trùm các hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng. 4. Các chương trình, dự án tài chính vi mô của các tổ chức phi chính phủ, tổ chức chính trị, chính trị xã hội, tổ chức tín dụng. Hiện tại còn hai loại ý kiến khác nhau về việc chuyển đổi tổ chức, hoạt động của các chương trình, dự án tài chính vi mô của các tổ chức phi chính phủ, tổ chức chính trị, chính trị xã hội, như sau: + Loại ý kiến thứ nhất cho rằng Dự thảo Luật chỉ điều chỉnh đối với các tổ chức hoạt động chủ yếu, thường xuyên là cung ứng các dịch vụ tài chính vi mô. Vì vậy, Luật bắt buộc các tổ chức này phải thành lập, hoạt động theo mô hình tổ chức tín dụng để có thể quản lý chặt chẽ hơn, khi quy mô hoạt động của chúng đã phát triển đến một mức độ nhất định, có thể gây ra những rủi ro cho các thành viên, cộng đồng và xã hội. Đối với các chương trình, dự án tài chính vi mô của các tổ chức phi chính phủ, tổ chức chính trị, chính trị xã hội, tổ chức tín dụng đang thực hiện có quy mô nhỏ (giới hạn trong địa bàn một xã, liên xã) không bắt buộc phải thực hiện chuyển đổi thành tổ chức tín dụng khi Luật này có hiệu lực thi hành. + Loại ý kiến thứ hai cho rằng Dự thảo Luật cần điều chỉnh tất cả các hoạt động tài chính vi mô, kể cả chương trình, dự án tài chính vi mô của các tổ chức phi chính phủ, tổ chức chính trị, chính trị xã hội, tổ chức tín dụng. Vì vậy, khi Luật này có hiệu lực, các chương trình, dự án tài chính vi mô của các tổ chức này phải thực hiện việc chuyển đổi tổ chức và hoạt động phù hợp với các quy định của Luật này.
Các tài liệu tham khảo
Chưa rõ về nhiều nội dung cốt yếu khác Còn nhiều nội dung cơ bản, cốt lõi, quan trọng chưa rõ, chưa biết phải trái thế nào, vì bị bỏ ngỏ hoàn toàn hoặc một phần như:
- Không biết điều kiện thế nào để có thể trở thành cổ đông sáng lập ngân hàng, mà chỉ biết chắc chắn là khác xa so với Luật Doanh nghiệp;
- Không biết mức vốn pháp định sẽ lên xuống, tăng giảm thế nào để thành lập các TCTD mới cũng như để hoạch định chiến lược phát triển của các TCTD cũ;
- Không biết TCTD có được phát hành trái phiếu thông thường như lâu nay vẫn làm hay không, vì Dự luật chỉ nhắc đến “trái phiếu chuyển đổi” và “chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, kỳ phiếu” (các điều 59, 63, 92 và 98); trong khi Luật các TCTD hiện hành quy định rõ việc được phát hành trái phiếu;
- Không biết hợp đồng tín dụng có bắt buộc phải gắn liền với mục đích vay vốn sản xuất kinh doanh như luật hiện hành hay không. Nếu vẫn đòi hỏi, thì không thể bỏ ngỏ hoàn toàn như Dự thảo;
- Không biết “Người thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng” bị cấm vay vốn là ai (điều 127 về Hạn chế cấp tín dụng) vì trên thực tế đang bị hiểu theo quá nhiều cách khác nhau: “Người thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng” đối với chính khoản tín dụng đó, hay là người thuộc phòng nghiệp vụ cấp tín dụng hay là người thuộc chi nhánh của TCTD hay là người trong TCTD hay là người đảm nhiệm công việc này trong tất cả các TCTD;
- Không biết việc “đảo nợ” theo Luật các TCTD hiện hành sẽ bị cấm hay được làm có điều kiện, vì không hề được nhắc đến ở Dự luật mới;
- Không biết tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của TCTD là bao nhiêu (điều 130). Trong khi đó, điều 146 lại quy định rất cụ thể một trong những trường hợp TCTD bị kiểm soát đặc biệt là: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiếu thấp hơn 4%;
- Không rõ tại sao lại “cấm tiệt” việc ngân hàng cho vay đầu tư, kinh doanh cổ phiếu, trong khi để thoái mái suốt nhiều năm và hiện nay đang khống chế tỷ lệ cho vay không quá 20% vốn điều lệ;...
Tất cả những nội dung như trên cần phải được quy định một cách cụ thể, rõ ràng; phải được chỉ rõ là cấm đoán hay được phép. Nên đưa ra các giới hạn, các điều kiện chặt chẽ để khống chế hợp lý, thay vì cấm đoán một cách tràn lan, không thật sự cần thiết, cứ khó quản là cấm. Những vấn đề “nhường”cho văn bản dưới luật, thì cũng phải được đề cập đến về mặt nguyên tắc để có đủ cơ sở pháp lý sau này.
Chưa rõ về phạm vi được phép hoạt động Khoản 2, điều 90 của Dự luật về Phạm vi hoạt động được phép của TCTD quy định: “TCTD không được phép tiến hành bất kỳ hoạt động kinh doanh nào ngoài các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác quy định trong giấy phép do NHNN cấp cho TCTD”. Như vậy, là hoạt động của các TCTD phải đúng với từng từ, từng chữ ghi trong giấy phép thành lập và hoạt động. Không rõ tại sao lại phải quy định quá chặt, quá khắt khe như vậy.
Đồng ý là TCTD không được phép làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm như đối với các doanh nghiệp thông thường khác. Nhưng cũng không thể chấp nhận quy định: TCTD chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép như đối với NHNN và các cơ quan nhà nước. Quy định quá cứng này sẽ làm nảy sinh nhiều vướng mắc, bất hợp lý. Khó có thể đồng tình với lý lẽ: Không thể cho phép các TCTD được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, vì chưa thể đưa ra được hết những điều cấm, do sản phẩm dịch vụ ngân hàng quá nhiều và biến đổi liên tục. Như vậy thì cũng đồng nghĩa với việc sẽ không thể ghi trong giấy phép đầy đủ, cụ thể, chi tiết các hoạt động của TCTD. Và cơ quan quản lý sẽ tất bật “chạy theo” sự vụ sửa đổi, bổ sung giấy phép để giải quyết đòi hỏi yêu cầu kinh doanh hàng ngày của hàng trăm TCTD. Tất nhiên là khó tránh khỏi cơ chế xin cho tất yếu sẽ xảy ra.
Do vậy, cần đưa ra một giải pháp mới, theo hướng: TCTD được thực hiện các hoạt động kinh doanh đã được pháp luật cho phép hoặc không cấm, đồng thời phải được sự cho phép của NHNN trong trường hợp có quy định của pháp luật. Theo đó, nội dung giấy phép hoàn toàn không cần đưa cụ thể mọi nội dung được phép hoạt động, vừa thừa lại vừa thiếu như hiện nay. Ví dụ, sẽ không có ý nghĩa gì khi đưa vào giấy phép những câu chép nguyên văn Luật các TCTD như: “Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế theo quy định của pháp luật”, vì như vậy hoàn toàn không biết TCTD đã được hay chưa được thực hiện dịch vụ này. Do đó giấy phép chỉ cần nêu các đề mục lớn, ví dụ như: “Nhận tiền gửi”, “Cấp tín dụng”, “Cung ứng dịch vụ thanh toán”... còn cụ thể là những gì và được làm như thế nào, thì đã có các quy định của Luật, nghị định, thông tư và các giấy phép “con”.
Chưa rõ về giấy phép thành lập và hoạt động Với rất nhiều điều kiện về vốn, về người sáng lập và quản trị, về hồ sơ, thủ tục chặt chẽ (các điều từ 19-21), nhưng Dự luật mới chỉ giải quyết được một nửa vấn đề là cho phép thành lập TCTD. Còn để đi vào hoạt động, thì TCTD còn phải đáp ứng được ít nhất là 10 nhóm điều kiện khác về vốn, kho tiền, trụ sở, tổ chức, bộ máy, quản lý rủi ro, công nghệ thông tin, quy định quản lý nội bộ... (các điều 24 và 26).
Như vậy sau khi được phép thành lập, TCTD còn phải được NHNN công nhận đã đáp ứng được một loạt các điều kiện khắt khe, phức tạp, thì mới được phép hoạt động. Đó là loại giấy phép “con” không thể thiếu và không hề kém phần quan trọng so với giấy phép “chính”. Điều đó cũng có nghĩa là, thời hạn cấp phép thật sự còn dài hơn nhiều con số “kỷ lục pháp luật” 360 ngày theo điều 22 của Dự luật.
Do đó, thay vì tuyên bố một giấy phép nhưng thực tế lại là hai, thì cần tách giấy phép thành lập và hoạt động của TCTD thành hai loại là giấy phép thành lập và giấy phép hoạt động để bảo đảm sự minh bạch, rõ ràng và thực chất. Giấy phép thành lập chỉ là điều kiện ban đầu, làm cơ sở triển khai các điều kiện xin giấy phép hoạt động. Với việc cấp hai giấy phép này sẽ làm tăng thêm thủ tục hành chính, phức tạp, rắc rối, nhưng như thế mới đúng với bản chất của vấn đề.
Đặc biệt cùng với đó là việc cần thay đổi quy định thu lệ phí cấp phép tại điều 23 theo hai giai đoạn, trong đó phần chủ yếu của lệ phí chỉ phải nộp sau khi đã được cấp giấy phép hoạt động. Còn nếu với quy định cấp chung một giấy phép thành lập và hoạt động như hiện nay, sẽ là điều không thể chấp nhận được, nếu phải nộp lệ phí cấp phép tối thiểu lên tới 30 tỉ đồng (1% của mức vốn pháp định 3.000 tỉ đồng vào năm 2010 theo quy định hiện hành của Chính phủ), sau đó vì một lý do nào đó mà TCTD không đủ điều kiện khai trương hoạt động.
|
![]()
Thông qua website này, Quý vị có thể tiếp cận toàn văn các dự thảo, dự án đang được QH, UBTVQH xem xét, thảo luận.
Quý vị có thể đóng góp ý kiến của mình về nội dung của các dự án, dự thảo. Các ý kiến của Quý vị sẽ được tổng hợp và gửi đến các cơ quan có thẩm quyền để nghiên cứu tiếp thu vào việc xây dựng và chỉnh lý dự thảo văn bản.
|







