|
Dự thảo mới
Số lần truy cập
|
Dự thảo luật
Dự thảo Luật bồi thường nhà nước
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10; Quốc hội ban hành Luật bồi thường nhà nước.
Gợi ý lấy ý kiến
1. Tên gọi của Luật 2. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (Các điều 1,3,16,17,18,43,44 và 45) 3. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước (Điều 7) 4. Thời hiệu yêu cầu bồi thường nhà nước (Điều 25) 5. Thẩm quyền xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường (Điều 29, Điều 50) 6. Trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ (Điều 56) Các tài liệu tham khảo
Những ý kiến đóng góp
nguyên tắc giải quyết bồi thường Khoản 5 Điều 6 của dự thảo Luật quy định:"...nếu không thương lượng được thì người bị thiệt hại, thân nhân người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu toà án giải quyết". Vậy, trong trường hợp toà án chính là người thi hành công vụ có lỗi và người bị thiệt hại, thân nhân người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ vẫn tiếp tục yêu cầu toà án giải quyết thì không hoàn toàn hợp lý, dễ dẫn đến việc toà án "vừa đá bóng vừa thổi còi". Theo tôi, trong trường hợp này nên quy định người bị thiệt hạị, thân nhân người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ được quyền yêu cầu toà án cấp trên giải quyết.
Điều 13. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại Về khoản 3 Điều 13 của Dự thảo, đề nghị quy định rõ việc người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại chỉ bồi thường thiệt hại đối với phần lỗi do mình gây ra trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (lỗi thi hành công vụ do có sự chỉ đạo của cấp có thẩm quyền; nhiều người thi hành công vụ gây ra lỗi; việc miễn, giảm trách nhiệm bồi thường đối với trường hợp bất khả kháng, thiên tai, địch họa,...
Phạm vi, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước + Điều 325, 326 Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định "cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định những hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình, được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật". Chính vì vậy, theo tôi nên mở rộng phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực tố tụng hình sự do hành vi trái pháp luật của người tiến hành tố tụng, không nên chỉ bó hẹp ở 3 nội dung như trong Dự thảo. Có như vậy mới đảm bảo nâng cao trách nhiệm của các cơ quan và các cá nhân thực thi pháp luật trong quá trình tiến hành giải quyết các vụ án hình sự, phải đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
+ Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật có giải thích trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình các cơ quan nhà nước còn tham gia vào nhiều quan hệ dân sự, kinh tế và nếu có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho các tổ chức, cá nhân thì cơ quan nhà nước cũng phải có trách nhiệm bồi thường theo những quy định chung của pháp luật dân sự. Ngoài ra, nếu gây thiệt hại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, như việc thực hiện việc trưng mua, trưng dụng tài sản thì Nhà nước sẽ bồi thường theo quy định của Luật trưng mua, trưng dụng tài sải. Điều 4 có quy định việc áp dụng pháp luật trong trường hợp luật này không có quy định cụ thể về việc xác định trách nhiệm bồi thường và thủ tục giải quyết bồi thường đối với các trường hợp thuộc phạm vi trách nhiệm của Nhà nước thì áp dụng các quy định có liên quan của Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự là chưa đầy đủ.
Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Theo Điều 7 của Dự thảo thì để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, ra quyết định bồi thường thì phải dựa trên cơ sở có đơn yêu cầu của cá nhân, của tổ chức bị thiệt hại yêu cầu cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước thực hiện. Như vậy, theo tôi cần bổ sung thêm căn cứ là có đơn yêu cầu của người bị thiệt hại mới đầy đủ các căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Điều 29 và Điều 50 Tôi nhất trí là trong trường hợp người bị thiệt hại không xác định được cơ quan có trách nhiệm bồi thường thì Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, hoặc Viện Kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Tuy nhiên, cần nghiên cứu quy định cụ thể cơ chế về trách nhiệm liên đới, sự phối hợp giữa các cơ quan trong việc bồi thường thiệt hại, trường hợp có nhiều người thi hành công vụ thuộc nhiều cơ quan có liên quan gây ra thiệt hại, như vậy mới đảm bảo công bằng, nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi công vụ ở tất cả các cơ quan, tránh trường hợp đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Đây cũng chính là một trong những hạn chế, bất cập được rút ra sau 5 năm thực hiện Nghị quyết số 388. Về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ, chúng tôi cũng nhất trí với quy định ở Điều 56 về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ, trong đó có trách nhiệm hoàn trả một phần hay toàn bộ khoản tiền mà Nhà nước bỏ ra bồi thường. Tuy nhiên, cần xác định rõ cơ chế hoàn trả trong trường hợp nhiều người thi hành công vụ có liên đới trong việc gây ra thiệt hại, nếu những người đó ở cùng cơ quan thì có thể thực hiện được, nhưng nếu ở các cơ quan khác nhau thì đây cũng là việc rất khó. Ngoài ra, tôi cũng xin tham gia thêm một số nội dung khác, về việc khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, như đã phân tích ở trên thì đây cũng là một lĩnh vực nhạy cảm liên quan đến quyền lợi chính trị của con người. Chính vì vậy, việc khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại cũng phải có đặc thù. Người bị oan trong tố tụng hình sự nhiều khi là cán bộ, công chức, là Đảng viên, là giám đốc, phó giám đốc, những quyền lợi hợp pháp của họ về việc làm, về chức vụ đang làm việc cũng bị xâm hại. Do vậy, cần quy định cả việc khôi phục quyền lợi chính trị bị mất và trách nhiệm phối hợp của các cơ quan có trách nhiệm bồi thường với chính quyền, đoàn thể địa phương nơi tổ chức khôi phục danh dự đối với các cơ quan báo chí.
Phạm vi điều chỉnh Tôi đồng ý là Luật này chỉ nên giới hạn trong hai lĩnh vực hành pháp và tư pháp, mà không điều chỉnh lĩnh vực lập pháp và lập quy. Tuy nhiên, về phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước trong lĩnh vực hoạt động hành chính quy định tại Điều 16 của dự thảo Luật là chưa đầy đủ, trùng lặp mà mâu thuẫn với các quy định khác của các luật có liên quan, điển hình nhất là Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính và nếu Luật này được ban hành thì có đặt ra vấn đề là sửa đổi, bổ sung các luật khác có liên quan, đặc biệt là Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính hay không. Nếu cơ quan soạn thảo chọn giải pháp quy định trong Luật này những loại việc, những trường hợp cụ thể được yêu cầu đòi bồi thường thì ít ra không nên hẹp hơn Điều 11 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Còn những loại việc khác yêu cầu đòi bồi thường được thực hiện theo quy định chung của pháp luật, trước hết là theo pháp luật tố tụng dân sự.
-Mặt khác, dù Luật quy định chỉ có hành vi của người thi hành công vụ, theo tôi là quá hẹp đã bỏ sót nhiều chủ thể theo khái niệm công vụ được quy định tại Điều 2 của Luật cán bộ, công chức, trong đó có các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức dịch vụ công vì trên thực tế các tổ chức này đã gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng. Ví dụ như Trung tâm y tế dự phòng tiêm chủng cho trẻ em bị chết, vì trong Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm có quy định là Nhà nước trong trường hợp này phải bồi thường và trong khá nhiều trường hợp khó có thể xác định người thi hành công vụ nào cụ thể, gây thiệt hại, thậm chí không biết được đấy là tổ chức nào, nhất là người dân càng có ít thông tin, họ chỉ biết chung đấy là Nhà nước. Do đó, khái niệm công vụ trong dự Luật này cần được hiểu bao gồm cả hoạt động của các tổ chức cung cấp dịch vụ công. Bên cạnh đó, việc bồi thường và hoàn trả của cán bộ, công chức chưa được quy định trong dự Luật này, mặc dù Điều 2 dự Luật quy định mỗi cá nhân, tổ chức bị thiệt hại thì được Nhà nước bồi thường.
-Dự Luật chưa thể hiện được việc Nhà nước bồi thường thiệt hại cho cán bộ, công chức, chỉ thấy Nhà nước quan tâm, bảo đảm để cán bộ, công chức bồi thường và hoàn trả cho Nhà nước, còn việc ngược lại thì không thấy. Có lẽ cơ quan soạn thảo cho rằng đây là quan hệ nội bộ của bộ máy nhà nước, nhưng ngay cả trong Luật cán bộ, công chức không có quy định, giả sử nếu cho đây là quan hệ nội bộ của bộ máy nhà nước thì sao Luật khiếu nại, tố cáo có cả Chương III về khiếu nại, giải quyết, khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức, vì sao quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức trái pháp luật lại là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính. Do đó, Luật bồi thường nhà nước nên bổ sung quy định việc Nhà nước bồi thường cho cán bộ, công chức ngay trong luật này, vì Nhà nước bồi thường cho cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật nào, hiện nay chưa thấy, ngoại trừ việc kiện về buộc thôi việc trái pháp luật tại Điểm 19, Điều 11 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Nhưng ngay việc này cũng bị loại ra ngoài Điều 16 của dự thảo và qua thực hiện cho thấy người bị oan trong nhiều trường hợp là cán bộ, công chức, sỹ quan, lực lượng vũ trang, Đảng viên, giám đốc .v.v... những quyền lợi hợp pháp của họ về việc làm, chức vụ đang giữ, bị khai trừ khỏi Đảng, về chế độ bảo hiểm xã hội .v.v.... tất cả đã bị mất, bị gián đoạn khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền xác định họ bị oan, thì giải quyết như thế nào và do cơ quan nào giải quyết.
Quy trình, thủ tục đòi bồi thường nhà nước Tương tự như thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, Luật này quy định chủ yếu là cơ chế bảo đảm hoạt động bồi thường nhà nước, vì thế nên đổi tên gọi của Luật này là Luật thủ tục giải quyết bồi thường nhà nước. Giống như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, thủ tục này theo dự thảo hạn chế quyền khởi kiện của người dân cũng như người bị thiệt hại tại Tòa án hành chính, vì dự luật bắt buộc người bị thiệt hại phải khiếu nại với cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước trước, đến khi nào cơ quan này không thụ lý đơn và không ra quyết định bồi thường nhà nước hoặc đã ra quyết định bồi thường nhà nước, nhưng quyết định đó không có hiệu lực thì người bị thiệt hại mới kiện ra tòa án có thẩm quyền. Điều này mâu thuẫn với quan điểm của cơ quan trình là về thủ tục giải quyết bồi thường nhà nước được tiến hành theo nguyên tắc chung của pháp luật tố tụng dân sự. Qua các nội dung mà dự thảo thể hiện có nhiều người cho rằng đây là quan hệ hành chính mang tính chất mệnh lệnh phục tùng, thể hiện quyền lực nhà nước. Bằng chứng là dự luật đã sử dụng thuật ngữ "cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước" nghe như là chủ thể sử dụng quyền lực nhà nước đứng ra giải quyết và quyết định, chứ không phải là bị đơn hay đồng bị đơn, chưa thể hiện được sự "sòng phẳng" giữa nhà nước với công dân, đặc biệt là người bị thiệt hại trong dự luật này. Đây có lẽ là quan niệm chứ không chỉ là thuật ngữ mang tính chất kỹ thuật, vì dự thảo luật sử dụng thuật ngữ là "nhiệm vụ, quyền hạn" thay vì "nghĩa vụ" và "trách nhiệm".
Nhiều quy định về thủ tục trong dự luật chưa chặt chẽ, đặc biệt là các quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước cũng như các quy định về trách nhiệm của các chủ thể khác, các quy định về trách nhiệm bồi thường, thời hạn xem xét, quyết định việc bồi thường v.v.... Nhưng nếu không thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình thì sao? cơ chế bảo đảm thực hiện không có. Để Luật bồi thường nhà nước có tính khả thi cao và không bị ví von với hình ảnh "con kiến đi kiện củ khoai" thì dự luật này nên đơn giản hóa thủ tục đền bù cho người bị thiệt hại.
Thời hiệu yêu cầu bồi thường nhà nước Tôi đề nghị quy định thời hiệu yêu cầu bồi thường như trong Bộ luật dân sự. Đồng thời, cần quy định đầy đủ cả các trường hợp ngoại lệ khi có các yếu tố khách quan ảnh hưởng thì thời hiệu được tính ra sao? quá thời hiệu thì sao? Điều này sẽ có ý nghĩa áp dụng quan trọng trong thực tiễn.
Xác định mức thiệt hại về vật chất Việc xác định thiệt hại gặp phải nhiều khó khăn, do người bị oan không thể cung cấp đầy đủ chứng từ hóa đơn chứng minh cho yêu cầu bồi thường đối với các chi phí, như chi phí cho việc chữa bệnh do thời gian bị oan xảy ra đã lâu, người bị oan không thể lưu giữ được chứng từ hóa đơn và các chi phí đi lại, điều trị tại ngoại, sau khi được trả tự do. Người bị thiệt hại không biết Nhà nước có quy định về bồi thường thiệt hại để lưu giữ lại các giấy tờ đó không và liệu rằng mình có thắng kiện được hay không? Do đó, trong trường hợp người bị oan không xuất trình được giấy tờ chứng minh các chi phí này trong hồ sơ yêu cầu bồi thường thiệt hại thì cần có quy định bồi thường một khoản chung về chi phí thực tế đối với họ, chứ không nên quy định chung chung như Điều 23 của dự luật.
Yếu tố lỗi Về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước, tôi đề nghị bỏ căn cứ thứ tư về yếu tố lỗi của người thi hành công vụ, vì đây là yếu tố hạn chế quyền yêu cầu được bồi thường của người bị thiệt hại. Lỗi ở đây được hiểu là lỗi suy đoán như trong Luật Thương mại, bởi vì ngay cả giới thương nhân thì việc xác định lỗi đã là khó khăn huống gì người dân bình thường, việc chứng minh lỗi hoàn toàn rất khó, vì lỗi là yếu tố chủ quan và phức tạp, trên thực tế có tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan với nhau. trong trường hợp đó là lỗi liên đới.
|
![]()
Thông qua website này, Quý vị có thể tiếp cận toàn văn các dự thảo, dự án đang được QH, UBTVQH xem xét, thảo luận.
Quý vị có thể đóng góp ý kiến của mình về nội dung của các dự án, dự thảo. Các ý kiến của Quý vị sẽ được tổng hợp và gửi đến các cơ quan có thẩm quyền để nghiên cứu tiếp thu vào việc xây dựng và chỉnh lý dự thảo văn bản.
|






