Cụ thể hóa tối đa Luật Mặt trận
- 01/04/2013
Khi bắt tay vào xây dựng Dự án Luật Mặt trận có rất nhiều khó khăn. Đây là lần đầu tiên Mặt trận thực hiện quyền sáng kiến pháp luật (được ghi ở Điều 87 của Hiến pháp năm 1992). Hơn nữa, Luật Mặt trận là một đạo luật lần đầu tiên về Mặt trận Dân tộc thống nhất ở nước ta mà trước đó chưa có ở nước nào khác, kể cả các nước XHCN. Như vậy, cả về lí luận và thực tiễn, chúng ta bắt đầu đi từ vạch xuất phát.
Nhưng với tinh thần phấn khởi, quyết tâm cao của lãnh đạo Mặt trận, nhất là sự chỉ đạo của Đảng Đoàn, Ban Thường trực, đứng đầu là Chủ tịch Lê Quang Đạo, các khó khăn dần dần được sức mạnh của tập thể lãnh đạo Mặt trận, của cả hệ thống Mặt trận từ TƯ tới cơ sở vượt qua, để có được một bản Dự thảo trình Quốc hội năm 1999.
Bản thân tôi lúc đó được Đảng Đoàn, Ban Thường trực giao làm Tổ trưởng Tổ biên tập, cùng với số cán bộ chuyên trách của Ban Dân chủ - Pháp luật và một số vị trong Hội đồng Tư vấn Dân chủ - Pháp luật rất lo lắng. Sau hơn 3 năm, bản Dự thảo lần thứ 7 trình lên Quốc hội đã được thông qua. Đó là điều rất đáng mừng, rất đáng phấn khởi. Những ngày chuẩn bị các loại văn bản để trình kì họp thứ 5, Quốc hội khóa X, tuy có vất vả, lo lắng, có phần hồi hộp nhưng bù lại là sự phấn khởi cao độ của cơ quan UBTƯMTTQ Việt Nam và của cả hệ thống MTTQ Việt Nam khi Quốc hội biểu quyết thông qua với tỉ lệ cao nhất về Dự án Luật MTTQ Việt Nam. Đặc biệt, phải nhấn mạnh về vai trò rất to lớn của cố Chủ tịch Lê Quang Đạo, người đã lãnh đạo Đảng Đoàn, Ban Thường trực để có sự thành công trong quá trình xây dựng Dự án Luật, là người góp phần rất quan trọng và quyết định để Quốc hội thông qua Luật Mặt trận.

(Hội nghị lấy ý kiến đại diện người Việt Nam định cư ở nước ngoài
góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, tại Hà Nội, Ảnh: Hoàng Long)
Luật Mặt trận năm 1999 chỉ là khung pháp lí cơ bản
Luật MTTQ hiện hành là luật "khung”. Như đã nói, chúng ta lần đầu tiên xây dựng Luật Mặt trận, không có tiền lệ, khó khăn nhiều hơn thuận lợi. Nhận thức lúc đó về tổ chức và hoạt động của Mặt trận mới sau 10 năm đổi mới, còn thực tiễn của hoạt động Mặt trận cũng còn rất hạn chế. Chúng ta chưa thể qui định chi tiết các nội dung lớn về vai trò, nhiệm vụ, về quyền và trách nhiệm của MTTQ Việt Nam. Đó hầu hết mới chỉ là "khung” pháp lí cơ bản, chưa thành cơ chế cụ thể, chi tiết để cho hoạt động của Mặt trận đi vào đời sống xã hội. Sau này, khi có Luật rồi, phải hướng dẫn thì mới có thể thực hiện được, như hướng dẫn ở Nghị định 50/CP của Chính phủ về một số điều liên quan đến thẩm quyền của Chính phủ đối với Luật Mặt trận này. Tuy nhiên, từ đó đến nay, việc hướng dẫn vẫn chưa toàn diện, những vấn đề về mặt tư pháp, lập pháp cũng chưa triển khai hết được.
Cần cụ thể hóa tối đa luật hiện hành
Bởi vậy với Dự án Luật Mặt trận sửa đổi đang được UBTƯMTTQ Việt Nam đưa ra lấy ý kiến, theo tôi, nên tập trung vào các vấn đề lớn sau:
Mặt trận tham gia tập hợp, xây dựng, đoàn kết các tầng lớp nhân dân là một quyền và trách nhiệm hết sức quan trọng mà trước đây trong Luật hiện hành chúng ta chưa cụ thể hóa được.
MTTQ Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Có hai vấn đề quan trọng là tham gia xây dựng, củng cố chính quyền nhân dân và đưa chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào đời sống xã hội. Đối với vấn đề thứ nhất, đó là quyền, trách nhiệm tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân. Trong đó, cụ thể hóa cơ chế Mặt trận tham gia xây dựng bộ máy nhà nước, Mặt trận tham gia xây dựng pháp luật, tham gia tố tụng; hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức, viên chức; cơ chế phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam đối với các dự thảo, chủ trương, đường lối của Đảng. Đối với vấn đề thứ hai, cần cụ thể cơ chế để thực hiện tốt việc đưa chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào đời sống xã hội.
Về hoạt động đối ngoại nhân dân, công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài, Luật Mặt trận hiện hành mới ghi được một số nguyên tắc, nội dung cơ bản của hoạt động đối ngoại nhân dân. Lần này, sửa đổi bổ sung thì Mặt trận phải cụ thể thành các cơ chế chính sách. Một vấn đề nữa là cần phải cụ thể hóa về cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân. Và có cơ chế bảo đảm các điều kiện để Mặt trận hoạt động có hiệu quả. Nếu có đưa thêm vấn đề về tổ chức và hoạt động của Mặt trận ở Điều lệ vào Dự thảo Luật Mặt trận sửa đổi kì này, cần phải bổ sung cơ chế về tổ chức và hoạt động của ban công tác Mặt trận, cơ chế về cộng tác viên của Mặt trận, cơ chế về tổ chức và hoạt động của các hội đồng tư vấn Mặt trận.
Đây là những vấn đề mà thời kì trước chúng ta nhận thức còn chưa đầy đủ, chưa đến độ "chín” để đưa vào Luật. Nhưng qua hơn 10 năm tổng kết Luật Mặt trận, chúng ta phải kiến nghị đưa các cơ chế này vào trong Dự thảo Luật lần này. Đưa được những điều này vào trong Luật cũng để thấy được chủ trương, đường lối, quan điểm mà Đảng đã đề ra cho Mặt trận. Mặt trận quyết tâm thực hiện, tức là Mặt trận đã gần dân hơn!
Không nên "bó” quyền hạn của Mặt trận
Tôi thấy cần phải bổ sung thêm vai trò của Mặt trận "là đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân” vào trong Luật sửa đổi lần này. Bởi vì, Cương lĩnh của Đảng 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011), Đại hội XI của Đảng đã khẳng định: "Mặt trận có vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân”. Trước đây, ngay từ Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng cũng đã chỉ ra rằng, Mặt trận và các tổ chức thành viên phải chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân. Cho nên, từ đó đến nay chúng ta đã tổ chức thực hiện có hiệu quả rất nhiều các hoạt động về chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Tức là cả về mặt lí luận và thực tiễn chúng ta đều đã đủ độ "chín”, có đủ điều kiện để đưa vào Dự thảo Luật lần này.
Về quyền và trách nhiệm giám sát, có ý kiến cho rằng Mặt trận chỉ nên giám sát những cơ chế chính sách có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước, liên quan đến hoạt động của MTTQ Việt Nam. Theo tôi, ghi như thế là chúng ta đã hạn chế quyền của Mặt trận mà trong Hiến pháp đã ghi tại Điều 9: "Mặt trận giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước”. Hiến pháp không có "bó” phạm vi giám sát của Mặt trận, thế tại sao chúng ta lại tự bó quyền của chúng ta mà Hiến pháp đã ghi? Theo tôi, lần này chúng ta nên sửa thành: "Mặt trận giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức, viên chức nhà nước, kể cả giám sát các hoạt động kinh tế của các thành phần kinh tế”. Trên thực tiễn chúng ta đã làm, nhân dân đã giám sát. Ví dụ, gần đây nhất là chúng ta đã giám sát vụ đất đai Tiên Lãng (Hải Phòng). Trong vụ việc này liên quan đến những vấn đề đất đai, liên quan đến quyền lợi của người dân, liên quan đến vấn đề về kinh tế, xã hội mà chúng ta giám sát được, tại sao lại tự hạn chế mình?
Về phản biện xã hội, Cương lĩnh của Đảng, các nghị quyết của Đảng đã chỉ ra, Nghị quyết Đại hội X còn nói rõ hơn. Chúng ta đang thực hiện Nghị quyết XI, tôi thấy lần này phải đưa vào Luật Mặt trận về quyền và trách nhiệm phản biện xã hội. Cần đề cập cụ thể hơn về phạm vi đối tượng phản biện xã hội, các chủ thể có quyền phản biện, nội dung phản biện, mục đích của phản biện, nguyên tắc của phản biện. Tóm lại, kỳ này nên cụ thể hóa cơ chế, chính sách về giám sát, về phản biện…
Làm sao có Luật là thực hiện được ngay, không cần phải chờ hướng dẫn
Cuối cùng mong muốn của chúng ta là cố gắng cụ thể hóa tối đa để khi Dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Mặt trận được Quốc hội chấp nhận và thông qua là có thể thực hiện được ngay. Tuy nhiên, nếu còn phải hướng dẫn ở một số vấn đề nào đó thì cơ quan nhà nước hữu quan, Mặt trận Trung ương sẽ phải hướng dẫn sau khi Luật có hiệu lực thi hành. Nhưng nên hạn chế đến mức thấp nhất phải hướng dẫn. Theo kinh nghiệm 14 năm thực hiện Luật Mặt trận, mới chỉ có một Nghị định 50 của Chính phủ hướng dẫn. Vì vậy sửa đổi, bổ sung kỳ này, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cố gắng đạt đến hướng mà Quốc hội đã nói nhiều, cũng như Mặt trận mong mỏi, đó là làm sao cứ xem vào Luật là có thể làm được.
