Cần tăng biện pháp răn đe để bảo tồn vốn nhà nước

Đó là ý kiến của các đại biểu tại Phiên họp thường kỳ Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, thảo luận về Dự án Luật đầu tư và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (DN), diễn ra tại TP.HCM mới đây.
Trước tình hình hoạt động không mấy hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước (DNNN), các đại biểu đều cho rằng, cần thiết phải tăng các biện pháp chế tài mạnh mẽ, mang tính răn đe vào trong Luật để bảo đảm nguồn vốn nhà nước được đầu tư một cách hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước (DNNN). 
Đánh giá về các bước chuẩn bị cho Dự án Luật này, ông Nguyễn Văn Hiếu – Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, Dự án Luật đầu tư và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp (DN) được xây dựng dựa trên cơ sở đảm bảo không có xung đột pháp lý giữa Luật này với các bộ luật hiện hành khác. Như vậy sẽ đạt được mục tiêu khắc phục việc DN sử dụng vốn, tài sản để đầu tư vào sản xuất kinh doanh chưa đúng mục tiêu, đầu tư dàn trải. Tuân thủ nguyên tắc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo bình đẳng giữa mọi thành phần kinh tế, thực hiện công khai, minh bạch và giám sát chặt chẽ mọi hoạt động đầu tư và quản lý vốn đã đầu tư của nhà nước tại DN.
Thông qua các cuộc họp lấy ý kiến đóng góp, Ban soạn thảo đã nhận được rất nhiều ý kiến về việc xem lại khái niệm “vốn nhà nước” trong Luật. Theo nhiều đại biểu, khái niệm này trong dự thảo luật vẫn còn mơ hồ, chưa bao hàm hết tất cả những hoạt động của dòng vốn trên thị trường và vấn đề vốn nhà nước góp vào các DN nước ngoài, tư nhân thì bao gồm những loại vốn gì. Từ đó dẫn đến việc ai sẽ là người chịu trách nhiệm, chủ DN, chủ sở hữu vốn nhà nước hay Chính phủ, một khi xảy ra tình trạng thất thoát vốn, sử dụng đồng vốn đầu tư không hiệu quả, đặc biệt là nguồn vốn ODA. 
TS. Trần Du Lịch, Phó Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội TP.HCM nhấn mạnh, vốn ở đây không chỉ là nguồn ngân sách nhà nước mà còn bao hàm cả nguốn vốn trái phiếu chính phủ, vốn vay từ các tổ chức tín dụng nước ngoài, vốn DN tự huy động… vậy thì chúng ta sẽ đánh giá hiệu quả đầu tư, các chỉ số tài chính này như thế nào trong quá trình giao cho DN hoạt động kinh doanh. Trong nhiều năm qua, đa số DNNN sử dụng nguồn vốn lớn để đầu tư nhưng lợi nhuận mang lại để đóng góp vào ngân sách quốc gia hoặc sinh lời chẳng đáng bao nhiêu. Ông Trần Du Lịch cũng đặt vấn đề, Quốc hội sẽ có quyền gì để quản lý nguồn tài sản này hay cũng chỉ thực hiện chức trách giám sát, quản lý một cách chung chung như hiện nay ngay sau khi Luật được thông qua? Quốc hội sẽ được đặt ở đâu khi DN được giao một khoản tài sản khổng lồ để kinh doanh và đầu tư hay chỉ được biết đến kết quả hoạt động thông qua các báo cáo hàng tháng, hàng quý từ Chính phủ? Nếu như giải quyết được những vấn đề này thì cách tiếp cận để hiểu được khái niệm “vốn nhà nước” sẽ dễ dàng hơn.
Cùng quan điểm trên, ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nêu ý kiến, cần phải có một cơ quan làm nhiệm vụ giám sát thật chặt chẽ các khoản đầu tư từ vốn nhà nước của các DN và cần phân định rạch ròi chuyện “nộp ngân sách” hàng năm. Theo đó, định kỳ tại các kỳ họp Quốc hội, các DN buộc phải có báo cáo chi tiết kết quả sử dụng nguồn vốn nhà nước trong DN mình như thế nào, các khoản nộp ngân sách và kiến nghị sử dụng bao nhiêu % trong số tổng lợi nhuận để tái đầu tư bằng một danh mục dự án cụ thể. 
Ông Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết thêm, qua tình hình thực tế cho thấy, ở đa số các DNNN của chúng ta hiện nay yếu nhất vẫn là khâu quản lý, chính vì thế đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong việc sử dụng sai đồng vốn nhà nước, sức cạnh tranh trên thị trường hiện nay vẫn rất yếu. Vì thế, phải xác định rõ trách nhiệm giám sát của Quốc hội tới đâu, đặc biệt đối với vốn nhà nước trong các công ty cổ phần để tránh những hậu quả như thời gian qua. 
“Do chúng ta không hiểu được hết việc Nhà nước làm gì và thị trường làm gì nên đã có sự chồng chéo giữa chức năng sử dụng vốn nhà nước và chủ sở hữu. Nếu để các điều khoản như trong Luật hiện nay thì chúng ta vẫn chỉ giám sát một cách chung chung. Cách tốt nhất là tìm giải pháp xây dựng một khung quản lý an toàn chuẩn. An toàn ở đây phải bao gồm cho an toàn vốn đầu tư, chất lượng sản phẩm, khả năng quản trị của DN và từng đồng tiền sinh lời sau đầu tư. Do đó, hàng năm chúng ta phải buộc các DNNN báo cáo cụ thể trước Quốc hội” - ông Cao Sỹ Kiêm góp ý.
Minh Tú/Báo Đấu Thầu