Thứ năm, ngày 21/02/2019login

Góp ý dự thảo Luật Đất đai sửa đổi: Quy định rõ hơn về giá đất bồi thường

Quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trong dự thảo Luật Đất đai sửa đổi có tiến bộ hơn, quan tâm hơn đến người bị thu hồi đất và bám sát thực tế hơn. Tuy nhiên, vấn đề giá đất bồi thường vẫn cần được xem xét thấu đáo.

Ảnh: Báo điện tử Công Lý
Có thưởng, có phạt
Có 13 điều (từ Điều 72 đến Điều 84) của Dự thảo quy định về bồi thường. Đối với giá đất khi có quyết định thu hồi đất mà chênh lệch với giá đất khi bồi thường thì về cơ bản là được tính theo giá có lợi cho người bị thu hồi đất. Tuy nhiên cũng phân định ra hai trường hợp là: Chậm bồi thường do lỗi của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm gây ra thì người bị thu hồi đất được bồi thường theo giá cao hơn và chậm bồi thường do lỗi của người bị thu hồi đất gây ra thì giá đất để tính bồi thường là giá đất thấp. Quy định này, tạm thời gọi là có thưởng đối với người không có lỗi và có phạt đối với người gây ra lỗi để khuyến khích mọi người tuân theo pháp luật.
Vấn đề này được quy định tại khoản 2 Điều 74 của dự thảo Luật Đất đai sửa đổi như sau: “a) Bồi thường chậm do cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường gây ra mà giá đất do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm bồi thường cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi, thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm bồi thường, nếu giá đất do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi”.
“b) Bồi thường chậm do người có đất bị thu hồi đất gây ra mà giá đất do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm bồi thường, nếu giá đất tại thời điểm bồi thường cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi”.
Tuy nhiên, nghiên cứu quy định tại khoản 2 Điều 74 của dự thảo Luật Đất đai sửa đổi thì có vấn đề đặt ra là: giá đất do UBND cấp tỉnh quy định mà cao hơn hoặc thấp hơn với giá đất tại thời điểm bồi thường thì việc bồi thường có thưởng, có phạt. Vậy thì giá đất tại thời điểm bồi thường là giá nào? Giá đất do UBND cấp tỉnh quy định hay là giá thực tế ở địa phương do nhân dân trao đổi đất đai mà được gọi là giá thị trường.
Đảm bảo sự thống nhất giá bồi thường
Cũng về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, nhưng tại Điều 77 của dự thảo Luật Đất đai sửa đổi lại quy định giá đất bồi thường có khác với quy định tại khoản 2 Điều 74 đã trích dẫn ở trên. Cụ thể, khoản 1 Điều 77 của dự thảo Luật Đất đai sửa đổi quy định như sau: “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở… khi Nhà nước thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở, thì được bồi thường bằng giao đất ở mới, nhà ở tại khu tái định cư hoặc bồi thường bằng tiền theo đề nghị của người có đất bị thu hồi và phù hợp với giá thực tế ở địa phương”.
Để bảo đảm sự thống nhất giá đất bồi thường quy định trong Luật Đất đai sửa đổi, cần sửa đổi khoản 2 Điều 74 dự thảo Luật. Cụ thể là, bổ sung cụm từ  “thực tế ở địa phương”. Cụm từ này nối tiếp sau cụm từ “giá đất” trong điểm a và trong điểm b khoản 2 Điều 74 của dự thảo Luật Đất đai sửa đổi. Sau khi bổ sung cụm từ giá đất thực tế ở địa phương, nội dung các điểm a, điểm b khoản 2 Điều 74 là:  a) Bồi thường chậm do cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường gây ra mà giá đất do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm bồi thường cao hơn giá đất thực tế ở địa phương tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm bồi thường, nếu giá đất do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất thực tế ở địa phương tại thời điểm có quyết định thu hồi, thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi. b) Bồi thường chậm do người có đất bị thu hồi gây ra mà giá đất do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất thực tế ở địa phương tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm bồi thường, nếu giá đất tại thời điểm bồi thường cao hơn giá đất thực tế ở địa phương tại thời điểm có quyết định thu hồi đất thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.
Điều 78 của dự thảo Luật Đất đai sửa đổi, khoản 1 quy định như sau: “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở, khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 73 của Luật này thì được bồi thường về đất đối với trường hợp sử dụng đất có thời hạn thì mức bồi thường về đất được xác định theo thời hạn sử dụng đất còn lại”. Quy định này áp dụng đối với đất phi nông nghiệp không phải là đất ở, mà đất phi nông nghiệp không phải là đất ở bao gồm: Đất xây dựng trụ sở cơ quan, đất tôn giáo, đất làm nghĩa trang… đất sản xuất kinh doanh, đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp… đất làm nhà nghỉ lán trại cho người lao động trong cơ sở sản xuất… (theo quy định trong khoản 2 Điều 9 của dự thảo Luật Đất đai sửa đổi).
Tuy nhiên, vấn đề mà người dân quan tâm là giá đất bồi thường theo thời hạn sử dụng còn lại là giá đất nào? Theo giá đất do UBND cấp tỉnh quy định hay là giá đất thực tế ở địa phương tại thời điểm bồi thường?
Theo Báo điện tử Công Lý
Đỗ Văn Chỉnh

Luật đất đai (sửa đổi)

Loại dự thảo : Dự thảo luật

Cơ quan trình dự thảo : Chính phủ

Cơ quan chủ trì soạn thảo : Bộ Tài nguyên và Môi trường

Ủy ban thẩm tra : Ủy ban Kinh tế

Trạng thái : Đã thông qua

 

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com