Thứ ba, ngày 22/01/2019login
  • Báo cáo của Ủy ban Quốc phòng - An ninh tổng hợp ý kiến tham gia vào dự án Pháp lệnh Cảnh sát cơ độngGóp ý

    Cơ quan ban hành: Ủy ban Quốc phòng & An ninh

    Mô tả: Trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua tại Phiên họp thứ 23, Quốc hội khóa XIII, ngày 23-12-2013

  • Tại phiên họp thứ 20 (ngày 12/8/2013), Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thảo luận, cho ý kiến về dự án Pháp lệnh Cảnh sát cơ động. Căn cứ ý kiến của các thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội và ý kiến của cơ quan thẩm tra, Thường trực Ủy ban Quốc phòng và An ninh xin trân trọng báo cáo tổng hợp ý kiến về dự án Pháp lệnh Cảnh sát cơ động như sau:

    1. Về sự cần thiết ban hành Pháp lệnh Cảnh sát cơ động
    - Đa số ý kiến tán thành với sự cần thiết ban hành Pháp lệnh Cảnh sát cơ động.
    - Một số ý kiến băn khoăn về sự cần thiết ban hành Pháp lệnh vì: Cảnh sát cơ động là một bộ phận cấu thành lực lượng Công an nhân dân, các nội dung thuộc phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh không thuộc thẩm quyền quyết định của Ủy ban thường vụ Quốc hội, mà đã được các luật, pháp lệnh liên quan quy định và giao Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Công an quy định cụ thể; theo báo cáo tổng kết của Bộ Công an thì chưa thấy sự cần thiết ban hành Pháp lệnh vì những vấn đề vướng mắc chủ yếu do văn bản hướng dẫn của Chính phủ và Bộ Công an; nên nghiên cứu đưa một số nội dung cần thiết vào dự thảo Luật Công an nhân dân (sửa đổi). Có ý kiến đề nghị cần chứng minh sự cần thiết thuyết phục hơn nữa.
    - Một số ý kiến đề nghị lùi thời gian thông qua Pháp lệnh đến sau khi Quốc hội thông qua Luật Công an nhân dân.
    2. Về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất trong hệ thống pháp luật
    - Nhiều ý kiến cho rằng, cần rà soát các nội dung có liên quan đã được quy định ở các luật khác, đặc biệt là Luật CAND, Luật An ninh quốc gia, Luật Phòng, chống khủng bố để bảo đảm sự phù hợp và tính thống nhất trong hệ thống pháp luật.
    - Một số ý kiến cho rằng, một số nội dung quy định trong dự thảo Pháp lệnh không phù hợp với quy định của Hiến pháp, pháp luật, nhiều nội dung liên quan đến quyền cơ bản của công dân. Đối với những nội dung liên quan đến quyền cơ bản của công dân cần phải được quy định trong văn bản luật do Quốc hội ban hành. Đối với những nội dung đã được quy định trong luật, pháp lệnh khác thì không quy định lại. Đồng thời cần rà soát, đối chiếu kỹ về thẩm quyền quy định từng nội dung cụ thể.
    3. Về tên gọi Pháp lệnh
    - Đa số ý kiến đề nghị giữ nguyên tên gọi Pháp lệnh Cảnh sát cơ động vì: Thứ nhất, Nghị quyết của Quốc hội giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Cảnh sát cơ động; Thứ  hai, những căn cứ để đổi tên Pháp lệnh trong Báo cáo, Tờ trình của Chính phủ chưa thuyết phục; Thứ ba, tên gọi Cảnh sát cơ động phản ánh đúng tính chất hoạt động của lực lượng, đã trở nên quen thuộc, tạo được hình ảnh tốt và được nhân dân tín nhiệm, tin tưởng; Thứ tư, tên gọi Cảnh sát vũ trang không có lợi.
    - Một số ý kiến đề nghị lấy tên Pháp lệnh là “Pháp lệnh lực lượng tác chiến cơ động”, “Pháp lệnh Cảnh sát dã chiến”, hoặc “Pháp lệnh Cảnh sát bảo vệ và cơ động”...
    - Một số ý kiến đồng ý với tên gọi Pháp lệnh Cảnh sát vũ trang với lý lẽ như trong Tờ trình của Chính phủ.
    4. Về bố cục dự thảo Pháp lệnh
    - Đa số ý kiến nhất trí bố cục dự thảo Pháp lệnh.
    - Một số ý kiến đề nghị không quy định chương riêng về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với Cảnh sát cơ động, mà có thể nghiên cứu chuyển một số nội dung ở Chương này quy định thành 1 - 2 điều tại Chương I (những quy định chung).
    - Có ý kiến đề nghị cân nhắc nội dung quy định tại Điều 17, Điều 18 để bảo đảm thống nhất với quy định của Luật CAND, Luật an ninh quốc gia và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
    - Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về cơ chế phối hợp công tác giữa lực lượng Cảnh sát cơ động với các lực lượng khác, mối quan hệ phối hợp giữa Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động (và các đơn vị trực thuộc Bộ Tư lệnh) với Công an cấp tỉnh (và các đơn vị trực thuộc Công an cấp tỉnh) khi thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh, TTATXH; về cơ chế giám sát đối với lực lượng Cảnh sát cơ động...; bổ sung quy định về công tác đảng, công tác chính trị trong Cảnh sát cơ động tương tự như quy định đối với Quân đội nhân dân.
    5. Phạm vi điều chỉnh
    - Đa số ý kiến cơ bản tán thành với phạm vi điều chỉnh như Tờ trình và dự thảo Pháp lệnh.
    - Có ý kiến đề nghị chỉ nên quy định về công tác Cảnh sát cơ động và một số nội dung đặc thù đối với lực lượng Cảnh sát cơ động mà Luật CAND, các luật, pháp lệnh liên quan chưa quy định; Ý kiến khác đề nghị chỉ điều chỉnh đối với lực lượng Cảnh sát cơ động, Cảnh sát đặc nhiệm, không điều chỉnh đối với Cảnh sát bảo vệ mục tiêu, Cảnh sát huấn luyện và sử dụng động vật nghiệp vụ.
    6. Về vị trí, chức năng của Cảnh sát vũ trang (Điều 3)
    Có ý kiến cho rằng, trong Pháp lệnh quy định Cảnh sát vũ trang là lực lượng nòng cốt, tuy nhiên chưa xác định lực lượng phối hợp. Ý kiến này đề nghị cần cân nhắc quy định về vị trí, chức năng mang tính chất bao quát, toàn diện hơn để huy động và thể hiện được vai trò của các lực lượng phối hợp khác.
    7. Về nguyên tắc hoạt động của Cảnh sát vũ trang (Điều 4)
    - Nhiều ý kiến đề đổi tên Điều này thành “Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Cảnh sát cơ động” và bổ sung các nguyên tắc tổ chức đặc thù của lực lượng này.
    - Có ý kiến đề nghị không quy định nguyên tắc tại khoản 1 vì đây là nguyên tắc chung của lực lượng Công an nhân dân đã được quy định tại Luật CAND; có ý kiến đề nghị thể hiện rõ hơn để bảo đảm nguyên tắc Chủ tịch nước thống lĩnh lực lượng vũ trang, đặt dưới sự quản lý của Chính phủ.
    - Có ý kiến đề nghị cân nhắc nội dung quy định tại khoản 3 vì cho rằng nguyên tắc này chưa toàn diện, phải lấy công tác vận động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị là chính; nguyên tắc này không phù hợp với toàn lực lượng mà chỉ phù hợp với Cảnh sát cơ động. Có ý kiến đề nghị cân nhắc nội dung “chịu sự giám sát của nhân dân” tại khoản 4 vì quy định này không rõ cơ chế giám sát.
    8. Xây dựng Cảnh sát cơ động (Điều 5)
    - Một số ý kiến đề nghị chỉ quy định ưu tiên xây dựng tiến thẳng lên hiện đại và chỉ đối với Cảnh sát cơ động theo đúng chủ trương của Đảng.
    - Có ý kiến cho rằng, quy định “mọi công dân có trách nhiệm tham gia xây dựng Cảnh sát vũ trang” chưa rõ, đề nghị quy định chi tiết, cụ thể công dân tham gia xây dựng lực lượng Cảnh sát vũ trang như thế nào.
    - Có ý kiến này đề nghị quy định tiêu chuẩn lý lịch chính trị, lịch sử bản thân tại khoản 3, coi đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất.
    - Có ý kiến cho rằng quy định về tiêu chuẩn tuyển chọn tại khoản 3 chưa thể hiện rõ phải kết hợp đủ các tiêu chuẩn hay chỉ một trong số các tiêu chuẩn nêu khoản này.
    - Có ý kiến đề nghị tách riêng quy định ở cuối khoản 2 (phối hợp với Cảnh sát vũ trang thực hiện nhiệm vụ khi được yêu cầu) để xây dựng một Điều về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động của Cảnh sát cơ động.
    - Có ý kiến đề nghị cân nhắc nội dung quy định về đối tượng được ưu tiên tuyển chọn theo chế độ nghĩa vụ đối với công dân tham gia lực lượng CAND để bảo đảm phù hợp với quy định của Hiến pháp và Luật CAND.
    9. Về các hành vi nghiêm cấm (Điều 6)
    Có ý kiến đề nghị viết lại điểm b, khoản 2 Điều 6 như sau: “Lôi kéo, xúi giục hoặc nhằm lôi kéo, xúi giục, cản trở chống lại lực lượng Cảnh sát vũ trang làm nhiệm vụ”.
    10. Về nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng Cảnh sát vũ trang (Điều 7)
    - Nhiều ý kiến cho rằng, các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng Cảnh sát cơ động chưa cụ thể, rõ ràng, còn chung chung khó thực hiện, một số nội dung chưa phù hợp Hiến pháp, pháp luật, chưa phù hợp vị trí của lực lượng, có sự chồng chéo nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể khác. Các ý kiến này đề nghị rà soát kỹ các nội dung quy định tại Điều 7 để quy định đầy đủ, rõ ràng các nhiệm vụ, tránh sự chồng chéo, trùng lặp về nhiệm vụ giữa các lực lượng.
    Có ý kiến cho rằng, thẩm quyền quy định nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng là của Bộ trưởng Bộ Công an vì là tổ chức thuộc Bộ Công an. Có ý kiến đề nghị quy định theo hướng chỉ xác định những nhiệm vụ cơ bản, chủ yếu của lực lượng và giao Bộ trưởng Bộ Công an quy định cụ thể.
    - Có ý kiến đề nghị quy định rõ ràng, cụ thể hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát cơ động trong từng lĩnh vực bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH, nhiệm vụ nào do Cảnh sát cơ động chủ trì, nhiệm vụ nào do các lực lượng khác chủ trì, Cảnh sát cơ động tham gia, phối hợp, từ đó xác định rõ cơ chế phối hợp để cán bộ, chiến sĩ lực lượng có thể căn cứ vào quy định của Pháp lệnh mà thực hiện.
    - Khoản 1: Một số ý kiến đề nghị sửa lại để phù hợp với vị trí của lực lượng và nguyên tắc tổ chức, hoạt động theo hướng Cảnh sát cơ động không tham mưu trực tiếp cho Đảng, Nhà nước mà thông qua Bộ Công an.
    - Khoản 2: Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể các biện pháp công tác Cảnh sát cơ động được phép thực hiện.
    - Khoản 3: Có ý kiến đề nghị không quy định nhiệm vụ chống khủng bố để phù hợp với Luật phòng, chống khủng bố, thẩm quyền này đã được giao cho Bộ trưởng Bộ Công an.
    - Khoản 5: Có ý kiến đề nghị rà soát tránh chồng chéo nhiệm vụ với lực lượng Cảnh vệ, nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp.
    - Khoản 11: Có ý kiến đề nghị rà soát bảo đảm thống nhất với pháp luật về huy động, trưng mua, trưng dụng tài sản của cơ quan, cá nhân trong pháp luật liên quan để đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật.
    - Khoản 12: Có ý kiến đề nghị bỏ khoản này vì đã được quy định trong Luật phòng, chống khủng bố.
    - Có ý kiến cho rằng, quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát cơ động như trong dự thảo đã cụ thể và phù hợp.
    11. Về tổ chức của Cảnh sát vũ trang (Điều 8)
    - Đa số ý kiến cho rằng, quy định của dự thảo chưa làm rõ được mô hình tổ chức, cơ cấu, quy mô lực lượng, vị trí của lực lượng và đề nghị giao Bộ trưởng Bộ Công an quy định cụ thể để phù hợp quy định tại Điều 18 Luật Công an nhân dân.
    - Một số ý kiến đề nghị giao Chính phủ quy định tổ chức của lực lượng này như đối với lực lượng Tình báo, Cảnh vệ, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển..., hoặc quy định có tính nguyên tắc và giao Chính phủ quy định cụ thể như đối với lực lượng Cơ yếu.
    - Có ý kiến đề nghị xây dựng mô hình tổ chức theo hướng: Bộ Tư lệnh (tương đương Tổng cục) - các đơn vị thuộc khối cơ quan tham mưu, đơn vị bảo đảm và đơn vị nghiệp vụ và khối đơn vị chiến đấu; ở cấp tỉnh tổ chức cấp phòng như hiện nay.
    - Có ý kiến đề nghị phải thể hiện rõ vai trò của Bộ trưởng Bộ Công an với tư cách là người chỉ huy cao nhất của lực lượng, có thẩm quyền về mặt tổ chức, trang bị, điều hành lực lượng, chịu trách nhiệm trước Nhà nước, Quốc hội về mọi hoạt động của lực lượng.
    - Có ý kiến cho rằng, Cảnh sát cơ động là đơn vị chiến đấu, cần thiết phải có chính trị viên và chính ủy, đề nghị nghiên cứu quy định về chế độ chính ủy, chính trị viên trong tổ chức của lực lượng này.
    12. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Tư lệnh, Phó Tư lệnh Cảnh sát vũ trang (Điều 9)
    - Có ý kiến đề nghị cân nhắc quy định Tư lệnh là người đứng đầu lực lượng Cảnh sát vũ trang, vì phải đặt lực lượng Cảnh sát vũ trang trong cơ cấu của Bộ Công an và chịu sự quản lý, chỉ huy của Bộ trưởng, quy định như dự thảo không rõ vai trò của Bộ trưởng Bộ Công an.
    - Khoản 2: Có ý kiến đề nghị viết lại như sau: “Các Phó Tư lệnh Cảnh sát cơ động giúp Tư lệnh Cảnh sát cơ động thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Tư lệnh Cảnh sát cơ động; khi Tư lệnh Cảnh sát cơ động vắng mặt thì một Phó Tư lệnh được Tư lệnh ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Tư lệnh; chịu trách nhiệm trước pháp luật và Tư lệnh Cảnh sát cơ động về các quyết định của mình”.
    13. Về nhiệm vụ, quyền hạn của người chỉ huy (Điều 10)
    - Một số ý kiến đề nghị không quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chỉ huy trưởng trong dự thảo vì phải căn cứ vào mô hình tổ chức, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị thì mới xác định được vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của người chỉ huy.
    - Có ý kiến cho rằng chức danh Chỉ huy trưởng không cần thiết mà nên giao nhiệm vụ, quyền hạn này cho Giám đốc Công an cấp tỉnh, như vậy cũng phù hợp với quy định về điều động Cảnh sát vũ trang tại Điều 11 dự thảo Pháp lệnh.
    - Có ý kiến cho rằng, Cảnh sát cơ động ở tỉnh chỉ tương đương với cấp phòng, chịu sự chỉ đạo của Giám đốc Công an tỉnh, vì vậy có nên quy định chịu trách nhiệm trước pháp luật hay chịu trách nhiệm trước Giám đốc Công an tỉnh.
    14. Về  điều động Cảnh sát cơ động (Điều 11)
    - Nhiều ý kiến đề nghị quy định về điều động, sử dụng Cảnh sát cơ động phải chặt chẽ, thống nhất theo nguyên tắc chung về điều động và sử dụng lực lượng vũ trang là Chủ tịch nước thống lĩnh lực lượng vũ trang, Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước, Bộ trưởng Bộ Công an trực tiếp quản lý, chỉ huy.
    - Một số ý kiến đề nghị quy định điều động Cảnh sát cơ động theo cơ chế phân cấp như đối với đơn vị Quân đội nhân dân. Trong trường hợp điều động đơn vị Cảnh sát cơ động được trang bị, quản lý, sử dụng tàu bay, phương tiện bay phải có sự phối hợp chặt chẽ với Bộ Quốc phòng.
    - Có ý kiến đề nghị phân định rõ ràng thẩm quyền điều động và cơ chế phối hợp giữa Tư lệnh Cảnh sát vũ trang và Giám đốc Công an cấp tỉnh trong việc điều động lực lượng trên địa bàn. Có ý kiến đề nghị quy định việc điều động mọi đơn vị Cảnh sát vũ trang đều phải được phép của Bộ trưởng Bộ Công an (hoặc đồng chí Thứ trưởng được ủy quyền).
    - Có ý kiến đề nghị xem xét, rà soát đối chiếu các quy định về quyền điều động các đơn vị cảnh sát của Bộ trưởng Bộ Công an và Công an các tỉnh đã được quy định ở một số các luật khác để bảo đảm tính thống nhất của pháp luật.
    15. Sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ của Cảnh sát vũ trang (Điều 12)
    - Một số ý kiến đề nghị quy định cụ thể về việc sử dụng những loại vũ khí không thuộc phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh 16 trong dự thảo Pháp lệnh này. Đối với vũ khí đã được quy định trong Pháp lệnh 16 thì không quy định lại.
    - Nhiều ý kiến đề nghị quy định chỉ Bộ trưởng có quyền quyết định nổ súng và có thể ủy quyền cho Thứ trưởng thường trực.
    - Một số ý kiến đề nghị quy định rõ trường hợp “Tư lệnh Cảnh sát vũ trang, Giám đốc Công an cấp tỉnh quyết định sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, trang thiết bị đặc chủng chuyên dụng… trong các trường hợp xảy ra bạo loạn, khủng bố và trường hợp tập trung đông người trái phép, biểu tình bất hợp pháp đe dọa nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội” ngay trong Pháp lệnh không nên giao Chính phủ quy định.
    - Có ý kiến cho rằng, nên quy định lực lượng Cảnh sát cơ động sử dụng các loại công cụ hỗ trợ là chính, còn vũ khí có tính sát thương phải hạn chế.
    16. Về bảo đảm kinh phí và cơ sở vật chất phục vụ hoạt động của Cảnh sát cơ động (Điều 13)
    Có ý kiến đề nghị quy định rõ kinh phí và quỹ đất, cơ sở vật chất... của Cảnh sát cơ động nằm trong tổng kinh phí, đất và cơ sở vật chất của Bộ Công an.
    17. Trang bị của Cảnh sát vũ trang (Điều 14)
    - Một số ý kiến đề nghị thể hiện rõ chính sách ưu tiên trang bị vũ khí, khí tài, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, trang thiết bị đặc chủng chuyên dụng tiên tiến, hiện đại cho lực lượng Cảnh sát cơ động để đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng cách mạng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
    - Một số ý kiến đề nghị quy định cụ thể các loại vũ khí, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ trong Pháp lệnh. Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể về trang bị máy bay trực thăng và tàu thủy trong Điều này.
    - Một số ý kiến nhất trí việc trang bị tàu bay, tàu thủy cho lực lượng để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
    - Nhiều ý kiến tán thành với việc trang bị máy bay, tàu thuyền cho lực lượng CAND, nhưng đề nghị quy định trang bị cho Bộ Công an, việc quản lý, sử dụng do Bộ trưởng phân công, Cảnh sát cơ động chỉ được sử dụng khi có yêu cầu; hoặc trang bị cho Bộ Công an và giao lực lượng Cảnh sát cơ động quản lý, để sau này không phải trang bị cho nhiều lực lượng trong Bộ Công an.
    - Một số ý kiến không tán thành trang bị tàu bay cho lực lượng Cảnh sát cơ động, đề nghị phối hợp với Bộ Quốc phòng khi có nhu cầu sử dụng để tránh lãng phí.
    - Một số ý kiến băn khoăn, nếu quy định trang bị máy bay, tàu thuyền cho chính lực lượng này liệu đã khả thi chưa? Điều kiện thực tế hiện nay đã có đủ trang bị chưa? Hiện nay Bộ Quốc phòng hệ thống phòng không, không quân đủ mạnh, có thể phối hợp với Bộ Công an khi có yêu cầu, như vậy có cần thiết phải trang bị máy bay, tàu thủy không?
    18. Về trang phục, phù hiệu, giấy chứng nhận của Cảnh sát vũ trang (Điều 15)
    Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể về trang phục, phù hiệu, giấy chứng nhận của lực lượng trong Pháp lệnh.
     
    19. Chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát vũ trang (Điều 17)
    - Có ý kiến cho rằng, các quy định về chế độ, chính sách quy định trong dự thảo Pháp lệnh không rõ và đề nghị chỉ quy định cụ thể những chính sách đặc thù cho lực lượng này trong Pháp lệnh.
    - Có ý kiến cho rằng, chỉ nên quy định bố trí cho sỹ quan Cảnh sát vũ trang công tác tại địa bàn đóng quân độc lập ở vùng sâu, vùng xa, biên giới được bố trí nhà ở công vụ.
    - Có ý kiến không tán thành với quy định bố trí nhà công vụ cho lực lượng Cảnh sát vũ trang vì người chỉ huy phải gắn liền với chiến sĩ trong doanh trại.
    20. Về chương trách nhiệm của các cơ quan nhà nước
    - Có ý kiến cho rằng, các nội dung quy định tại Chương này chưa rõ, mới chỉ dừng lại ở nguyên tắc nhất là trách nhiệm giữa Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và giữa Bộ Công an với địa phương, giữa Bộ Công an với lực lượng Cảnh sát cơ động và với Công an cấp tỉnh, đề nghị quy định rõ và cụ thể trong pháp lệnh.
    - Có ý kiến cho rằng, các nội dung quy định trong Chương IV đã được quy định cụ thể ở các Luật liên quan như Luật tổ chức Chính phủ, Luật Công an, và có Luật tổ chức hội đồng nhân dân, Luật Mặt trận..., đề nghị chỉ quy định theo hướng dẫn chiếu hoặc quy định thực hiện theo pháp luật.
    - Có ý kiến cho rằng, nội dung quy định tại khoản 1 Điều 21 không đúng, vì hiện nay Bộ Quốc phòng được giao chủ trì công tác tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống và khắc phục thảm họa thiên tai.
     
    Trên đây là tổng hợp ý kiến Ủy ban thường vụ Quốc hội và ý kiến thẩm tra dự án Pháp lệnh Cảnh sát cơ động.
     
    THƯỜNG TRỰC ỦY BAN QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
     

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com