Thứ ba, ngày 22/01/2019login
  • Tờ trình về dự án Pháp lệnh xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa ánGóp ý

    Cơ quan ban hành:

    Mô tả: Tài liệu phục vụ phiên họp lần thứ 26 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (3/2014)

  •  

     

    Kính trình: Uỷ ban thường vụ Quốc hội

    Thực hiện Nghị quyết số 23/2012/QH13 ngày 12-6-2012 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2013, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIII; Nghị quyết số 499/NQ-UBTVQH13 ngày 20-7-2012 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2013, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIII, Toà án nhân dân tối cao đã phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng dự án Pháp lệnh xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh). Thay mặt Ban soạn thảo, Toà án nhân dân tối cao xin kính trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
    I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH PHÁP LỆNH
    Hoạt động tố tụng của Toà án bao gồm tiếp nhận đơn, lập hồ sơ vụ việc, thu thập chứng cứ, giao, nhận, cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng, mở phiên toà xét xử vụ án... Việc Toà án tiến hành các hoạt động tố tụng để giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền có được bảo đảm về thời hạn, chất lượng, hiệu quả hay không cũng phụ thuộc vào sự hợp tác của đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan. Trên thực tế không phải lúc nào các hoạt động tố tụng của Toà án cũng được thuận lợi, được sự hợp tác tích cực từ đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức mà nhiều trường hợp Toà án gặp phải sự cản trở, chống đối, không hợp tác của đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức như triệu tập nhưng đương sự không đến Toà án, yêu cầu cung cấp cho Toà án tài liệu, chứng cứ nhưng cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ, kịp thời; cản trở việc xác minh, thu thập chứng cứ, gây rối trật tự tại Toà án, tại phiên toà... dẫn đến ảnh hưởng đến thời hạn, chất lượng, hiệu quả giải quyết các vụ việc và uy tín, sự tôn nghiêm của Toà án.
    Thực tiễn xét xử của Toà án trong thời gian qua cũng cho thấy các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án xảy ra nhiều, có xu hướng gia tăng cả trước, trong và sau phiên toà, gây khó khăn, ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ việc của Toà án. Mặc dù pháp luật có quy định về việc xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án, xử lý các hành vi vi phạm nội quy phiên toà. Tuy nhiên, các quy định của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành còn tản mạn và chưa cụ thể, ví dụ như trong lĩnh vực tố tụng hình sự mới chỉ có quy định việc xử lý đối với hành vi gây rối trật tự phiên toà (Điều 198 Bộ luật tố tụng hình sự); trong tố tụng hành chính thì Luật tố tụng hành chính chỉ quy định chung về việc nghiêm cấm mọi hành vi can thiệp, cản trở Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ; trong lĩnh vực tố tụng dân sự thì có một chương của Bộ luật tố tụng dân sự (Chương XXXII) quy định xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự, nhưng lại chưa quy định về thủ tục, thẩm quyền xử phạt, mức tiền phạt đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án mà vấn đề này Quốc hội giao Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định (Điều 390). Ngày 20-6-2012 Quốc hội đã thông qua Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật này quy định thẩm quyền của Toà án trong xử lý vi phạm hành chính nhưng xử lý đối với loại hành vi gì thì lại chưa quy định. Từ thực tế đó dẫn đến thực tiễn Toà án chỉ xử lý một số trường hợp vi phạm nội quy phiên toà, còn hầu hết các trường hợp cản trở hoạt động tố tụng của Toà án không bị xử lý. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm giảm chất lượng giải quyết các vụ việc, dẫn đến tình trạng nhiều vụ việc quá hạn luật định.
    Từ những lý do trên cho thấy việc ban hành một văn bản quy phạm pháp luật quy định về các loại hành vi, hình thức, mức độ xử lý, thẩm quyền xử lý và thi hành quyết định xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án là hết sức cần thiết, tạo cơ sở pháp lý để xử lý nghiêm minh những hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong tố tụng, giáo dục mọi người chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, phòng ngừa những vi phạm có thể xảy ra, nâng cao uy tín của Toà án, bảo đảm sự tôn nghiêm của Toà án, sự tôn trọng của cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với Toà án tạo điều kiện để Toà án giải quyết các vụ việc nhanh chóng, hiệu quả, đúng pháp luật.
    II. QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN
    Thực hiện Nghị quyết số 20/2011/QH13 ngày 26-11-2011 của Quốc hội
    về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XIII;
    Nghị quyết số 428/NQ-UBTVQH13 ngày 29-12-2011 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XIII; Nghị quyết số 23/2012/QH13 ngày 12-6-2012 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2013, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIII; Nghị quyết số 499/NQ-UBTVQH13 ngày 20-7-2012 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2013, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIII, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 49/QĐ-TANDTC ngày 15-8-2012 thành lập Ban soạn thảo và Tổ biên tập Dự án Pháp lệnh xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân.
    Toà án nhân dân tối cao đã tổ chức nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Pháp lệnh xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án; xây dựng Đề cương dự thảo Pháp lệnh, Đề cương dự thảo Tờ trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội về Dự án Pháp lệnh; đã tiến hành tổng kết thực tiễn xử lý vi phạm trong hoạt động tố tụng của Toà án; xây dựng dự thảo Kế hoạch xây dựng Dự án Pháp lệnh, dự thảo Quan điểm chỉ đạo và một số định hướng lớn của việc xây dựng Dự án Pháp lệnh, dự thảo Quy chế hoạt động của Ban soạn thảo và Tổ biên tập Dự án Pháp lệnh; đánh giá tác động và xây dựng Báo cáo đánh giá tác động của Dự án Pháp lệnh; tổ chức nghiên cứu, tham khảo pháp luật của một số nước ngoài; tổ chức các cuộc họp, buổi làm việc của Ban soạn thảo, Tổ biên tập để xây dựng dự thảo Pháp lệnh; đăng tải dự thảo lên Cổng thông tin điện tử Toà án nhân dân tối cao để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến; tổ chức xin ý kiến của Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan và các thành viên Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; tiếp thu ý kiến đóng góp, hoàn thiện dự thảo Pháp lệnh gửi Uỷ ban tư pháp để thẩm tra.
    III. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ CÁC YÊU CẦU CỦA VIỆC SOẠN THẢO PHÁP LỆNH
     Việc soạn thảo dự án Pháp lệnh quán triệt những quan điểm chỉ đạo và yêu cầu sau đây:
    1. Thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp đã được xác định trong các nghị quyết, văn kiện của Đảng, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống vi phạm trong hoạt động tố tụng tại Toà án, nâng cao uy tín của Toà án là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền tư pháp.
    2. Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của Pháp lệnh xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án trong hệ thống pháp luật; bảo đảm tính khả thi của Pháp lệnh xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án.
    3. Quy định đầy đủ và toàn diện các vấn đề cốt yếu (các nguyên tắc, hành vi, hình thức, mức, thẩm quyền, thủ tục xử lý...) về xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhằm khắc phục một cách cơ bản những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm trong hoạt động tố tụng hiện nay.
    4. Kế thừa, trên cơ sở tổng kết, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm hành chính nói chung và trong hoạt động tố tụng của Toà án nói riêng, kinh nghiệm xử lý các hành vi vi phạm từ thực tiễn xét xử của Toà án và tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài, đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn đời sống xã hội của nước ta và của quá trình hội nhập quốc tế.
    5. Bảo đảm các quy định của Pháp lệnh xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
     IV. NỘI DUNG CỦA DỰ THẢO PHÁP LỆNH    
    Dự thảo Pháp lệnh gồm 8 chương, 58 điều; cụ thể như sau:
    1. Chương I - Những quy định chung (gồm có 15 điều, từ Điều 1 đến Điều 15)
    Chương này quy định phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; nguyên tắc xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án; đối tượng và hình thức bị xử lý; những hình thức xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án; trách nhiệm phòng, chống hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án; thời hiệu xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án; thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án; cách tính thời hạn, thời hiệu trong xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng; bồi thường thiệt hại; khiếu nại, tố cáo trong xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án; trách nhiệm quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án và giám sát công tác xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án.
    2. Chương II - Hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án, hình thức, mức xử lý (gồm có 10 điều, từ Điều 16 đến Điều 25)
    Chương này quy định các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án; việc xử lý các hành vi vi phạm trật tự, nội quy phiên toà, không chấp hành yêu cầu triệu tập của Toà án, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín, sức khoẻ của những người tiến hành tố tụng hoặc những người khác thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của Toà án; việc xử lý các hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Toà án, cản trở việc giao, nhận, cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng của Toà án, cản trở cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng theo yêu cầu của Toà án; xử lý hành vi cản trở việc thành lập, tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản theo quy định của Luật phá sản theo yêu cầu của Toà án, xử lý hành vi không tham3. Chương III - Thẩm quyền xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án (gồm có 2 điều, Điều 26 và Điều 27)
    Chương này quy định thẩm quyền của Thẩm phán chủ tọa phiên toà, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc phá sản, Chánh án Tòa án các cấp, Chánh tòa Toà chuyên trách Tòa án cấp tỉnh, Chánh tòa Toà chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao, Chánh tòa Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Toà án quân sự trung ương trong xử lý đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án.
    4. Chương IV - Thủ tục xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án (gồm có 12 điều, từ Điều 28 đến Điều 39)
    Chương này quy định buộc chấm dứt hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án; xử lý không lập biên bản, xử lý có lập biên bản, hồ sơ xử lý; việc lập biên bản về hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án; xác minh tình tiết của việc cản trở hoạt động tố tụng; chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự; chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án; những trường hợp không ra quyết định xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án; thời hạn ra quyết định xử lý; việc ra quyết định xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án và thủ tục xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án bằng hình thức cảnh cáo, phạt tiền.
    5. Chương V - Các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án (gồm có 3 điều, từ Điều 40 đến Điều 42)
    Chương này quy định các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án; việc tạm giữ người có hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án và việc tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để cản trở hoạt động tố tụng của Toà án.
    6. Chương VI - Thi hành quyết định xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án (gồm có 5 điều, từ Điều 43 đến Điều 47)
    Chương này quy định thời hiệu thi hành quyết định xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án; việc thi hành quyết định xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án bằng hình thức cảnh cáo, phạt tiền; thi hành quyết định về việc buộc rời khỏi phòng xử án và thi hành quyết định tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để cản trở hoạt động tố tụng của Toà án.
    7. Chương VII - Khiếu nại, tố cáo trong xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án (gồm có 8 điều, từ Điều 48 đến Điều 55)
    Chương này quy định quyền khiếu nại quyết định trong xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án; quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại; quyền, nghĩa vụ của người bị khiếu nại; thời hiệu khiếu nại; thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại; quyền tố cáo và trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo.
    8. Chương VIII - Điều khoản thi hành (gồm có 2 điều, Điều 56 và Điều 57)
    Chương này quy định hiệu lực thi hành và trách nhiệm hướng dẫn thi hành Pháp lệnh.
    V. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA DỰ THẢO PHÁP LỆNH CÒN CÓ Ý KIẾN KHÁC NHAU
    1. Về tên Pháp lệnh
              Về vấn đề này, có các loại ý kiến khác nhau như sau:
              - Loại ý kiến thứ nhất đề nghị lấy tên Pháp lệnh là “Pháp lệnh xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án” tương tự như tiêu đề Phần thứ tám Bộ luật tố tụng dân sự, vì cản trở hoạt động tố tụng của Toà án là một loại hành vi vi phạm đặc thù nhằm cản trở các hoạt động tố tụng để giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền của Toà án nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, khác với vi phạm hành chính thông thường.
              - Loại ý kiến thứ hai đề nghị lấy tên Pháp lệnh theo Nghị quyết số 23/2012/QH13 ngày 12-6-2012 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2013, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIII là “Pháp lệnh xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án nhân dân”, vì mục đích xây dựng Pháp lệnh này là để xử lý hành chính các hành vi cản trở Toà án thực hiện các nhiệm vụ giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật tố tụng.
              - Loại ý kiến thứ ba đề nghị lấy tên Pháp lệnh là “Pháp lệnh xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng”. Loại ý kiến này đề nghị xây dựng Pháp lệnh để xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của tất cả các cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc bao gồm Toà án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, chứ không chỉ xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân.
              Toà án nhân dân tối cao nhất trí với loại ý kiến thứ nhất như đã thể hiện trong Dự thảo Pháp lệnh.
              2. Về phạm vi điều chỉnh
              Về vấn đề này, có các loại ý kiến khác nhau như sau:
              - Loại ý kiến thứ nhất đề nghị xây dựng Pháp lệnh theo hướng quy định việc xử lý đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng trong quá trình Toà án giải quyết vụ việc (bao gồm cả hành vi cản trở người tham gia tố tụng và những người khác thực hiện nhiệm vụ, yêu cầu của Toà án), vì hoạt động tố tụng của Toà án có thể do Toà án trực tiếp tiến hành, cũng có thể do người khác (Kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch...) thực hiện theo yêu cầu của Toà án. Ý kiến này đề nghị không mở rộng phạm vi quy định xử lý đối với tất cả các giai đoạn tố tụng, mà chỉ áp dụng đối với những vụ việc Toà án đã thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng.
              - Loại ý kiến thứ hai đề nghị mở rộng phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh theo hướng quy định xử lý đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng ở tất cả các giai đoạn tố tụng (điều tra, truy tố, xét xử và cả giai đoạn thi hành án).
              - Loại ý kiến thứ ba đề nghị chỉ quy định việc xử lý đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án và cán bộ, công chức khác của Toà án và Kiểm sát viên tham gia phiên toà khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ liên quan đến việc giải quyết vụ việc mà không quy định việc xử lý đối với các hành vi cản trở những người khác thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của Toà án như cản trở người giám định, người phiên dịch, người tham gia tố tụng đến Toà án, đến phiên toà...
              Dự thảo Pháp lệnh thể hiện theo loại ý kiến thứ nhất.
              3. Về việc xử lý đối với hành vi không chấp hành yêu cầu triệu tập của Toà án
              Về vấn đề này, có hai loại ý kiến khác nhau như sau:
              - Loại ý kiến thứ nhất đề nghị quy định xử lý đối với các trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên toà để tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong tố tụng, phòng ngừa những vi phạm có thể xảy ra, bảo đảm sự tôn nghiêm của Toà án, ảnh hưởng đến uy tín của Toà án cũng như chất lượng, hiệu quả giải quyết các vụ việc của Toà án. Điều này cũng phù hợp với quy định tại Điều 384 Bộ luật tố tụng dân sự “bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn không có mặt tại Toà án hoặc không có mặt tại phiên toà không có lý do chính đáng thì tuỳ từng trường hợp có thể bị Toà án phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền”.
              - Loại ý kiến thứ hai cho rằng việc đương sự vắng mặt tại phiên toà thì họ đã phải chịu hậu quả theo quy định của pháp luật tố tụng (bị coi là từ bỏ quyền khởi kiện và Toà án đình chỉ vụ án - nếu là nguyên đơn, người khởi kiện; hoặc Toà án xét xử vắng mặt - nếu là người bị kiện, bị đơn...). Vì vậy, đề nghị không quy định việc xử lý đối với những trường hợp này.
              Toà án nhân dân tối cao nhất trí với loại ý kiến thứ nhất như đã thể hiện trong Dự thảo Pháp lệnh (Điều 18).
              4. Về việc xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án do cán bộ, công chức thực hiện
              Về vấn đề này có hai loại ý kiến khác nhau như sau:
              Loại ý kiến thứ nhất đề nghị quy định xử lý cả cán bộ, công chức thực hiện hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án bằng Pháp lệnh này, vì việc ban hành Pháp lệnh này là để xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án, tạo cơ sở pháp lý để xử lý nghiêm minh những hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong tố tụng, giáo dục mọi người chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, phòng ngừa những vi phạm có thể xảy ra, nâng cao uy tín của Toà án, bảo đảm sự tôn nghiêm của Toà án, sự tôn trọng của cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với Toà án tạo điều kiện để Toà án giải quyết các vụ việc nhanh chóng, hiệu quả, đúng pháp luật; đồng thời để bảo đảm nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Mặt khác, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Cá nhân, cơ quan, tổ chức không thi hành quyết định của Toà án về việc cung cấp chứng cứ mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang quản lý, lưu giữ thì có thể bị Toà án quyết định phạt cảnh cáo, phạt tiền hoặc cưỡng chế thi hành.
              - Loại ý kiến thứ hai cho rằng việc cán bộ, công chức cản trở Toà án thực hiện nhiệm vụ hoặc không thực hiện theo yêu cầu của Toà án sẽ bị xử lý kỷ luật theo pháp luật về cán bộ, công chức mà không nên điều chỉnh bằng Pháp lệnh này.
              Toà án nhân dân tối cao nhất trí với loại ý kiến thứ nhất như đã thể hiện trong dự thảo Pháp lệnh.
    5. Về khiếu nại trong xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án
    Về vấn đề này, có hai loại ý kiến khác nhau như sau:
    - Loại ý kiến thứ nhất cho rằng các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án là loại hành vi đặc thù liên quan đến hoạt động tố tụng nhằm cản trở việc giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền của Toà án nên việc giải quyết cần phải nhanh chóng, tạo điều kiện cho Toà án giải quyết vụ việc. Nếu việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại theo thủ tục hành chính thông thường sẽ kéo dài vụ việc, không đạt được mục tiêu ban hành Pháp lệnh, không phù hợp với loại vi phạm đặc thù này. Vì vậy, việc giải quyết khiếu nại cần theo trình tự, thủ tục nhanh gọn theo hướng khiếu nại lần đầu do Chánh án Toà án cấp huyện, cấp tỉnh hoặc Chánh toà Toà chuyên trách Toà án nhân dân tối cao, Chánh toà Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao, Chánh án Toà án quân sự trung ương giải quyết. Trường hợp không đồng ý với quyết định giải lần đầu thì có quyền khiếu nại lên Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp hoặc Chánh án Toà án nhân dân tối cao và quyết định của Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp hoặc quyết định của Chánh án Toà án nhân dân tối cao là quyết định cuối cùng. Việc quy định như vậy sẽ bảo đảm việc giải quyết vụ việc của Toà án, không làm ảnh hưởng nhiều đến việc giải quyết vụ việc.
    - Loại ý kiến thứ hai cho rằng cản trở hoạt động tố tụng của Toà án cũng là một trong những hành vi vi phạm hành chính; do đó, người bị xử lý được quyền khiếu nại, khởi kiện theo quy định của pháp luật.
              Toà án nhân dân tối cao nhất trí với loại ý kiến thứ nhất như đã thể hiện trong dự thảo Pháp lệnh (Chương VII).
              Trên đây là những nội dung chính của dự thảo Pháp lệnh xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án. Thay mặt Ban soạn thảo, Toà án nhân dân tối cao xin kính trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
                           
    Nơi nhận:
    - Như trên;
    - Uỷ ban tư pháp của Quốc hội;
    - Uỷ ban pháp luật của Quốc hội;
    - Văn phòng Quốc hội;
    - Văn phòng Chính phủ;
    - Văn phòng Chủ tịch nước;
    - Bộ Tư pháp;
    - Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
    - Bộ Tài chính;
    - Bộ Công an;
    - Thanh tra Chính phủ;
    - Lưu: VP, Viện KHXX (TANDTC).
    CHÁNH ÁN
     
     
     
     
     
     
    Trương Hoà Bình
     

     

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com