Thứ ba, ngày 22/01/2019login
  • Báo cáo thẩm tra dự án Pháp lệnh xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa ánGóp ý

    Cơ quan ban hành: Ủy ban Tư pháp

    Mô tả: Tài liệu phục vụ phiên họp lần thứ 26 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (3/2014)

  • Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014 của Quốc hội, ngày 07 tháng 8 năm 2013, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội (UBTP) đã tổ chức phiên họp toàn thể để thẩm tra dự án Pháp lệnh xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án theo Tờ trình số 130/TTr-TANDTC ngày 19/6/2013 của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) (sau đây gọi chung là dự án Pháp lệnh). Tham dự phiên họp có Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội và đại diện lãnh đạo các cơ quan có liên quan. Ngày 09/8/2013, TANDTC có Công văn số 171/TANDTC-VKHXX gửi Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đề nghị lùi thời gian xem xét, cho ý kiến về dự án Pháp lệnh để có thời gian nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm tra của UBTP và chuẩn bị kỹ hơn, nhằm bảo đảm chất lượng dự thảo của Pháp lệnh khi trình UBTVQH.

    Sau đó, ngày 12/02/2014, TANDTC có Công văn số 23/TANDTC-VKHXX gửi UBTP kèm theo hồ sơ dự án Pháp lệnh nêu trên để thẩm tra trước khi trình UBTVQH theo quy định của pháp luật. Ngày 08/3/2014, UBTP đã tổ chức phiên họp toàn thể (lần 2) để thẩm tra dự án Pháp lệnh. Tham dự phiên họp có Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội, đại diện lãnh đạo Bộ Quốc phòng, đại diện cấp vụ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương và Bộ Tư pháp.
    UBTP nhận thấy, dự thảo Pháp lệnh trình UBTVQH lần này vẫn là dự thảo cũ mà UBTP đã có ý kiến thẩm tra tại phiên họp toàn thể UBTP ngày 07/8/2013, không có nội dung nào được chỉnh sửa mới (vẫn Tờ trình và dự thảo cũ). TANDTC cũng không có báo cáo giải trình lý do giữ nguyên dự thảo Pháp lệnh đã trình lần 1.
    Trên cơ sở các ý kiến của các đại biểu tại các phiên họp thẩm tra ngày 07/8/2013 và ngày 08/3/2014. UBTP kính trình UBTVQH báo cáo thẩm tra như sau:
    1. Về sự cần thiết ban hành Pháp lệnh
    Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tố tụng hành chính và Bộ luật tố tụng dân sự có các quy định về hành vi vi phạm cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án; Quốc hội cũng đã ban hành Luật xử lý vi phạm hành chính (Luật XLVPHC).
    Điều 48 của Luật XLVPHC có quy định thẩm quyền của Tòa án nhân dân được xử phạt hành chính. Tuy nhiên, các hành vi vi phạm hành chính cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án mà Tòa án nhân dân được xử phạt lại chưa được quy định cụ thể, vì vậy tại Nghị quyết số 23 ngày 12/6/2012, Quốc hội giao UBTVQH ban hành Pháp lệnh xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án nhân dân là cần thiết.
    2. Một số vấn đề lớn của dự thảo Pháp lệnh chưa được làm rõ
    2.1 Về tên gọi của Pháp lệnh.
    Nghị quyết số 23/2012/QH13 ngày 12/6/2012 của Quốc hội giao UBTVQH ban hành Pháp lệnh xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án nhân dân. Với tên gọi như vậy, Quốc hội đã xác định rõ mục đích, yêu cầu của việc ban hành Pháp lệnh này là xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án nhân dân.
    Cơ quan chủ trì soạn thảo sửa lại tên Pháp lệnh là “Pháp lệnh xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án”. UBTP cho rằng, việc sửa lại tên Pháp lệnh đã làm thay đổi bản chất hành vi bị xử lý, hình thức trách nhiệm, phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh và trình tự, thủ tục cũng như các chế tài xử lý không đúng với yêu cầu Nghị quyết của Quốc hội.
    2.2.Về hành vi bị xử lý và chế tài xử lý
    Theo tên gọi của dự án Pháp lệnh nêu trong Nghị quyết số 23/2012/QH13 của Quốc hội, thì các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án nhân dân là các hành vi vi phạm hành chính cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật XLVPHC và phải bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Pháp lệnh này. Nhưng với tên gọi “Pháp lệnh xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án” và như lý giải của TANDTC là không xác định hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án là hành vi vi phạm hành chính và bị xử lý hành chính. Vì vậy, dự thảo Pháp lệnh mà TANDTC trình không xác định được chế tài xử lý là loại chế tài nào? (xử lý hành chính, dân sự, hình sự hay kỷ luật?). Đây là một trong những nội dung rất cơ bản mà dự thảo Pháp lệnh chưa xác định đúng, ảnh hưởng đến việc xác lập quạn hệ của Pháp lệnh này với Luật XLVPHC.
    3. Dự thảo Pháp lệnh chưa bảo đảm tính hợp hiến và tính thống nhất của hệ thống pháp luật
    3.1. Về bảo đảm tính hợp hiến
    Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật” (khoản 2 Điều 14). Tuy nhiên, một số quy định cụ thể của dự thảo Pháp lệnh cần được xem xét lại do đã hạn chế quyền cơ bản của công dân (quy định về hành vi bị xử lý, người bị xử lý… mở rộng hơn so với quy định của các đạo luật tố tụng, hạn chế quyền khởi kiện vụ án hành chính của người bị xử phạt…).
    3.2. Nhiều quy định của dự thảo Pháp lệnh không phù hợp, trái các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tố tụng hành chính, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật phá sản, Luật thi hành án dân sự, Luật báo chí, Luật khiếu nại cụ thể:
    - Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Điều 26 của dự thảo Pháp lệnh quy định thẩm quyền của Tòa án bao gồm: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc phá sản, Chánh án Tòa án cấp huyện, Chánh tòa chuyên trách Tòa án cấp tỉnh, Chánh án Tòa án cấp tỉnh, Chánh Tòa phúc thẩm TANDTC, Chánh Tòa chuyên trách TANDTC, Chánh án Tòa án quân sự trung ương, Chánh án TANDTC. Tuy nhiên, đối chiếu với quy định tại Điều 48 của Luật XLVPHC thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc, Chánh án Tòa án quân sự trung ương, Chánh án TANDTC không được giao thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Mặt khác, Chánh án Tòa án quân sự khu vực, Chánh án Tòa án quân khu và tương đương được giao thẩm quyền xử phạt theo quy định tại Điều 48 của Luật XLVPHC thì lại không được cụ thể hóa trong dự thảo Pháp lệnh.
    - Về thẩm quyền tạm giữ người có hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án theo thủ tục hành chính. Theo quy định tại khoản 3 Điều 41 của dự thảo thì người có thẩm quyền xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ người. Tuy nhiên, theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 123 của Luật XLVPHC thì chỉ có Thẩm phán chủ tọa phiên tòa mới có quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính. Như vậy, quy định của dự thảo Pháp lệnh không thống nhất với quy định của Luật XLVPHC và cũng không thống nhất với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự “Người có hành vi vi phạm nội quy phiên tòa thì tùy theo mức vi phạm mà có thể bị chủ tọa phiên tòa quyết định phạt cảnh cáo, phạt tiền, buộc rời khỏi phòng xử án hoặc tam giữ hành chính” (khoản 1 Điều 387), và của Bộ luật tố tụng hình sự “Những người vi phạm trật tự phiên tòa thì tùy theo trường hợp có thể bị chủ tọa phiên tòa cảnh cáo, phạt tiền, buộc rời khỏi phòng xử án hoặc bị bắt giữ” (Điều 198).
    - Về thi hành quyết định xử lý bằng phạt tiền: Điều 45 của dự thảo Pháp lệnh quy định: quyết định xử lý bằng phạt tiền được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Quy định của dự thảo không phù hợp với quy định tại các điều 73 và 78 của Luật XLVPHC và các điều 1 và 2 của Luật thi hành án dân sự, theo đó cơ quan thi hành án dân sự không có trách nhiệm thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền.
    - Một số hành vi bị xử lý quy định tại Điều 16 của dự thảo Pháp lệnh chồng chéo với quy định của nhiều văn bản quy định chi tiết thi hành Luật XLVPHC, cụ thể:
    + Quy định về xử lý hành vi cản trở hoạt động của Tòa án trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản (khoản 7 Điều 16) không phù hợp với khoản 2 Điều 93 của Luật phá sản: “Chính phủ quy định việc xử phạt hành chính và mức xử phạt hành chính trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản”. Căn cứ quy định nêu trên và quy định của Luật XLVPHC, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (các điều từ Điều 53-64 và Điều 70).
    + Quy định về xử lý hành vi đưa tin sai sự thật về việc giải quyết vụ việc của Tòa án (khoản 8 Điều 16 của dự thảo Pháp lệnh) không phù hợp với Điều 9, Điều 28 của Luật báo chí sửa đổi năm 1999. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 159/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản, trong đó có quy định về nội dung thông tin (Điều 8), thẩm quyền xử phạt vi phạm (các điều 31, 32, 33 và 34).
    - Về các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án
    Điều 16 của dự thảo Pháp lệnh quy định các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án. Tuy nhiên, quy định tại Điều này không làm rõ được hành vi nào cản trở hoạt động tố tụng hình sự, hành vi nào cản trở hoạt động tố tụng hành chính và hoạt động tố tụng dân sự, trong đó có những hành vi vi phạm xét về bản chất lại là hành vi vi phạm quy định của pháp luật về an ninh, trật tự - an toàn xã hội. Đặc biệt là chưa làm rõ được các đối tượng thực hiện các hành vi đó (người tham gia tố tụng hình sự, hành chính, dân sự không giống nhau). Do đó, chưa bảo đảm sự phù hợp với các quy định về xử phạt cá nhân có vi phạm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tố tụng hành chính và Bộ luật tố tụng dân sự, cũng như không cụ thể hóa được các quy định của các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên trong dự thảo Pháp lệnh.
    - Chương VII dự thảo Pháp lệnh quy định về khiếu nại, tố cáo nhưng không quy định đương sự được quyền khởi kiện vụ án hành chính mà chỉ được khiếu nại, trong khi đó Luật khiếu nại hiện hành quy định khởi kiện vụ án hành chính (Điều 42); Luật XLVPHC quy định tại Điều 15 về khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính; quy định về thời hạn khiếu nại (Điều 52 dự thảo) chỉ có 15 ngày, trong khi theo quy định tại Điều 9 của Luật khiếu nại thì thời hiệu khiếu nại là 90 ngày[1].
    4. Dự thảo Pháp lệnh có nhiều (26) điều, khoản trùng lặp với quy định trong Luật XLVPHC[2] là trái với quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
    5. Về một số nội dung khác của dự thảo Pháp lệnh
    UBTP nhận thấy nhiều điều, khoản của dự thảo Pháp lệnh cũng như kỹ thuật lập pháp cần tiếp tục được rà soát, chỉnh sửa lại cho phù hợp mới đáp ứng yêu cầu, chất lượng dự án Pháp lệnh.
    6. Đề nghị của UBTP
    Từ những phân tích trên đây, UBTP đề nghị UBTVQH xem xét, giao Cơ quan chủ trì soạn thảo chuẩn bị lại dự án Pháp lệnh để bảo đảm chất lượng, đúng mục đích, yêu cầu nội dung phạm vi điều chỉnh theo Nghị quyết số 23 của Quốc hội, đồng thời bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất trong hệ thống pháp luật, phù hợp với quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
    Kính thưa Ủy ban thường vụ Quốc hội,
    Trên đây là Báo cáo thẩm tra về dự án Pháp lệnh xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án. Ủy ban Tư pháp xin kính trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến ./.
     
    Nơi nhận:
    - UBTVQH;                       
    - Lưu: HC, TP.
    Số epas: 15057
    TM. ỦY BAN TƯ PHÁP
    CHỦ NHIỆM
     
     
    (đã ký)
     
     
     
    Nguyễn Văn Hiện
     
     

    [1] Chính phủ cũng có ý kiến về vấn đề này tại Công văn số 229/CP-PL ngày 08/6/2013
    [2] Có 26 điều, cụ thể như: từ Điều 3 đến Điều 12; các Điều 15 và 26, từ Điều 28 đến Điều 38 và các Điều 40, 41 và 43

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com