Thứ ba, ngày 22/01/2019login
  • Báo cáo tổng kết thực tiễn xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động tố tụng của Tòa ánGóp ý

    Cơ quan ban hành:

    Mô tả: Tài liệu phục vụ phiên họp lần thứ 26 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (3/2014)

  •  
     

     

    Theo sự phân công của Ủy ban thường vụ Quốc hội tại Nghị quyết
    số 428/NQ-UBTVQH13 ngày 29-12-2011 triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII và Nghị quyết số 499/NQ-UBTVQH13 ngày 20-7-2012 triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2013, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, thì Tòa án nhân dân tối cao được phân công chủ trì soạn thảo Pháp lệnh xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án nhân dân. Để có cơ sở cho việc xây dựng dự thảo Pháp lệnh, Tòa án nhân dân tối cao đã tiến hành rà soát, đánh giá, tổng hợp ý kiến của Tòa án các cấp về thực tiễn xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động tố tụng của ngành Tòa án trong 05 năm vừa qua với các nội dung và kết quả cụ thể như sau:

    1. Tình hình xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động tố tụng của Tòa án

    Theo báo cáo của các Tòa án địa phương thì trong 05 năm qua, nhìn chung các Tòa án chưa áp dụng biện pháp xử lý hành chính cụ thể nào đối với các trường hợp có hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án mà chủ yếu là áp dụng biện pháp nhắc nhở; tuy nhiên, các Tòa án cũng phản ánh đã có rất nhiều trường hợp vi phạm, cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án trên thực tế; cụ thể là:
    - Người tham gia tố tụng cố tình không nhận, không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án; tự ý rời bỏ phiên tòa, bỏ về giữa chừng khi làm việc với Tòa án làm cho việc giải quyết phải hoãn nhiều lần; không ký vào các biên bản làm việc do Tòa án lập;
    - Từ chối không khai báo hoặc khai báo không đúng sự thật;
    - Cố ý tẩu tán, hủy hoại hoặc không cung cấp các tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa cho việc giải quyết các vụ án hành chính, các vụ việc dân sự mà Tòa án yêu cầu cung cấp hoặc có quyết định thu thập chứng cứ;
    - Tự ý xé bỏ biên bản sau khi làm việc với Tòa án;
    - Có hành vi lớn tiếng, gây rối làm mất trật tự phiên tòa;
    - Mua chuộc, đe dọa, cưỡng ép để ngăn cản người làm chứng hoặc để họ khai báo gian dối;
    - Đương sự, người thân của đương sự cố ý xuyên tạc, tố cáo Thẩm phán, công chức, viên chức Tòa án sai sự thật làm ảnh hưởng đến uy tín của Thẩm phán, công chức, viên chức Tòa án, ảnh hưởng đến uy tín của ngành Tòa án;
    - Các cơ quan chuyên môn không cử người tham gia Hội đồng định giá tài sản theo yêu cầu của Tòa án; đương sự cản trở hoạt động định giá tài sản, hoạt động xem xét tại chỗ;
    - Cố ý không thực hiện, thực hiện không đúng việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng theo yêu cầu của Tòa án.
    2. Những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn xử lý những hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án
    Theo báo cáo của các Tòa án địa phương thì trong thực tiễn công tác xử lý những hành vi cản trở hoạt động của Tòa án có những khó khăn, vướng mắc sau đây:
    - Ranh giới về mức độ nguy hiểm của hành vi bị xử lý vi phạm hành chính và mức độ phải truy cứu trách nhiệm hình sự chưa được quy định rõ ràng, dễ tạo ra sự tùy tiện ở chủ thể có quyền quyết định hoặc tạo ra sự không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
    - Về cưỡng chế thi hành hình phạt tiền, theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế và có nhiệm vụ tổ chức việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt của mình và của cấp dưới. Có ý kiến cho rằng trên thực tế không có cách nào để biết được người vi phạm đã tự nguyện chấp hành hình thức xử phạt hay chưa để có căn cứ ra quyết định và tổ chức cưỡng chế. 
    - Một số ý kiến cho rằng những khó khăn, vướng mắc chủ yếu là cho đến nay chưa có văn bản quy định cụ thể về việc vi phạm đến mức độ nào thì bị xử phạt hành chính, mức phạt cụ thể đối với từng loại hành vi vi phạm, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử phạt và thi hành quyết định xử phạt như thế nào; giải quyết khiếu nại ra sao.
    - Có ý kiến cho rằng có nhiều chế tài hành chính quy định ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, do các cơ quan quản lý khác nhau soạn thảo, cùng điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội nhất định và các quy định đó không thống nhất, dẫn đến sự chồng chéo, gây khó khăn cho việc lựa chọn văn bản để áp dụng.
    - Về việc thành lập Hội đồng định giá tài sản khi giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, có ý kiến cho rằng việc Tòa án mời các thành viên đến từ các cơ quan khác tham gia cũng là một trong những vấn đề khó khăn, vướng mắc, bởi các thành viên đó có tham gia hay không lại phụ thuộc vào tinh thần trách nhiệm và sự quan tâm của họ đối với công việc. Vấn đề này chưa có biện pháp xử lý.
    - Có ý kiến cho rằng đối với hành vi vi phạm về xử lý vật chứng, niêm phong, chủ thể thực hiện những hành vi này chủ yếu là các công chức, viên chức của các cơ quan tư pháp. Vậy Chánh án, Chủ tọa phiên tòa, có áp dụng biện pháp xử lý hành chính những hành vi vi phạm đó không hay lựa chọn những biện pháp khác để xử lý. Trường hợp người vi phạm là công chức, viên chức của Tòa án thì việc quyết định xử lý hành chính đối với họ có hợp lý không (Cơ quan chủ quản ra quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với nhân viên thuộc cơ quan mình). Trong thực tiễn, đối với những trường hợp này thường chỉ áp dụng các hình thức kỷ luật.
    - Có ý kiến cho rằng hiện nay công tác phối hợp giữa Tòa án và lực lượng cảnh sát hỗ trợ tư pháp vẫn còn những bất cập, nên tại phiên tòa xét xử các vụ án dân sự, nếu Chủ tọa phiên tòa có ban hành các quyết định xử lý hành chính hành vi cản trở hoạt động tố tụng thì cũng không được thi hành kịp thời.
    -  Bộ luật tố tụng dân sự đã dành một Chương (Chương XXXII) để quy định về việc xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự; tuy nhiên, các hành vi vi phạm được liệt kê trong Chương này chưa phản ánh hết các loại hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án cần phải được xử lý, đồng thời các quy định tại Chương này mới chỉ dừng lại ở quy định chung, chưa có quy định cụ thể về thủ tục, thẩm quyền xử phạt, mức tiền phạt đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự.
    - Điều 17 Nghị định số 150/NĐ-CP ngày 12-12-2005 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội mới chỉ có quy định về việc xử phạt hành chính đối với các hành vi cản trở việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, cản trở hoạt động xác minh thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra, cản trở hoạt động thi hành bản án; chưa có quy định về việc xử phạt đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng trong giai đoạn xét xử.
    - Nghị định số 76/2006/NĐ-CP ngày 02-8-2006 quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tư pháp nhưng lại không điều chỉnh những hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động tố tụng của Tòa án.
    - Theo quy định tại Điều 62 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23-7-2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp, thì: “người bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp nếu có hành vi chống người thi hành công vụ, trì hoãn, trốn tránh việc chấp hành hoặc có những hành vi vi phạm khác thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”. Có ý kiến cho rằng quy định này quá chung chung, khó áp dụng hoặc dễ bị áp dụng tùy tiện.
    - Nghị định số 10/2009/NĐ-CP ngày 06-02-2009 quy định về xử phạt hành chính trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản, nhưng chưa quy định hành vi vi phạm hành chính và mức phạt đối với hành vi của chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã không tham gia hoặc không cử người tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản.
    3. Những đề xuất, kiến nghị
    - Một số ý kiến đề nghị cần có quy định cụ thể về các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án; cụ thể là các hành vi sau đây:
    + Người tham gia tố tụng cố tình không nhận, không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, đang làm việc bỏ về giữa chừng làm cho việc giải quyết phải hoãn nhiều lần;
    + Người tham gia tố tụng được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai hoặc nhiều hơn nhưng cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng;
    + Từ chối không khai báo hoặc khai báo không đúng sự thật;
    + Mua chuộc, đe dọa, cưỡng ép để ngăn cản người làm chứng hoặc để họ khai báo gian dối; không chịu ký vào các biên bản làm việc của Tòa án;
    + Các cá nhân, tổ chức cố ý tẩu tán, hủy hoại hoặc không cung cấp các tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa cho việc giải quyết các vụ án mà Tòa án yêu cầu cung cấp hoặc có quyết định thu thập chứng cứ;
    + Hành vi của UBND các cấp không ban hành văn bản trả lời văn bản của Tòa án hỏi về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho một đương sự nào đó có đúng trình tự, thủ tục, nội dung hay không;
    + Các cơ quan chuyên môn không cử người tham gia Hội đồng định giá tài sản theo yêu cầu của Tòa án;
    +  Đương sự hoặc người nhà của đương sự cản trở hoạt động định giá tài sản, hoạt động xem xét tại chỗ;
    + Người bị kiện trong vụ án hành chính cố tình không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án;
    + Hành vi gây mất trật tự của đương sự hoặc của người thân của đương sự (la lối, chửi bới, nằm vạ trong khuôn viên trụ sở Tòa án ...);
    + Luật sư, người đại diện theo ủy quyền hoặc đương sự tỏ thái độ gây hấn với các thành viên Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, thư ký Tòa án hoặc gây hấn với Luật sư hoặc đương sự khác; Luật sư tự ý rời khỏi phòng xử án, không tiếp tục tham gia phiên xét xử;
    + Luật sư hoặc người đại diện theo ủy quyền có thái độ không đúng mực tại phiên tòa;
    + Chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã không tham gia hoặc không cử người tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản;
    - Một số ý kiến đề nghị khi xây dựng Pháp lệnh cần quy định chi tiết những vấn đề sau đây:
    + Trình tự, thủ tục, thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động tố tụng; mức xử phạt cụ thể đối với các hành vi vi phạm;
    + Các hình thức xử lý (cảnh cáo, phạt tiền, có thể tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính);
    + Đối với những trường hợp không chấp hành theo giấy triệu tập đến phiên tòa, đặc biệt là trong các vụ án dân sự thì cho phép Tòa án được ra quyết định áp giải buộc các đương sự phải chấp hành;
    + Nên quy định các quyết định phạt tiền về hành vi vi phạm hành chính trong tố tụng tại Tòa án do cơ quan Thi hành án dân sự cùng cấp thực hiện;
    + Cần quy định rõ trách nhiệm của cơ quan công an làm công tác bảo vệ phiên tòa phải thực hiện các quyết định của Chủ tọa phiên tòa. Trong trường hợp phải xử phạt hành chính và tiến hành tạm giữ hành chính thì cơ quan công an địa phương nơi có trụ sở Tòa án phải tiến hành việc xử phạt hoặc tạm giữ hành chính theo quyết định của Tòa án;
    + Cần cân nhắc quy định cơ quan thi hành quyết định xử phạt hành chính của Tòa án, là Ủy ban nhân dân, Công an hay Cơ quan thi hành án dân sự; quy định cơ quan, tổ chức cưỡng chế thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động tố tụng của Tòa án; trường hợp người bị phạt tự nguyện chấp hành quyết định thì họ sẽ nộp tiền phạt thế nào, nộp vào đâu cũng cần được cân nhắc khi xây dựng Pháp lệnh;
    + Quy định rõ ràng các căn cứ về tính chất, định lượng của hành vi vi phạm ở mức xử lý hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự.
    Trên đây là Báo cáo tổng kết thực tiễn xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động tố tụng của Tòa án nhân dân. Tòa án nhân dân tối cao xin gửi đến Ban soạn thảo Dự án Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án nhân dân để Ban soạn thảo cân nhắc, quyết định những vấn đề cần đưa vào dự thảo Pháp lệnh trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
     
    Nơi nhận:
    - Các thành viên BST và TBT Dự án Pháp lệnh;
    - Ủy ban thường vụ Quốc hội;
    - Ủy ban tư pháp của Quốc hội;
    - Ủy ban Pháp luật của Quốc hội;
    - Văn phòng Chính phủ;
    - Lưu: VP, Viện KHXX (TANDTC).
    KT. CHÁNH ÁN
    PHÓ CHÁNH ÁN
     
     
     
     
    Nguyễn Sơn
     

     

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com