Thứ ba, ngày 22/01/2019login
  • Báo cáo tổng kết 05 năm thi hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạngGóp ý

    Cơ quan ban hành: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

    Mô tả: Tài liệu trong hồ sơ đề nghị xây dựng Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng (sửa đổi) được đăng tải lấy ý kiến nhân dân trên cổng thông tin điện tử của Chính phủ.

  •  Thực hiện Chỉ thị số 14/CT-TW ngày 19/7/2017 của Ban Bí thư về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố (UBND tỉnh) tiến hành tổng kết 05 năm thi hành Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29/06/2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh). Trên cơ sở báo cáo tổng kết của 63 tỉnh, thành phố; 06 Bộ, ngành và qua đánh giátình hình thi hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội báo cáo như sau:
    I. KẾT QUẢ TRIỂN KHAI THI HÀNH PHÁP LỆNH
    1. Tình hình triển khai Pháp lệnh
    1.1. Công tác xây dựng, hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh
    Triển khai thực hiệnPháp lệnh, Chính phủ đã ban hành 02 Nghị định; Thủ tướng Chính phủ ban hành 04 Quyết định và 03 Chỉ thị hướng dẫn thi hành Pháp lệnh; các Bộ, ngành ban hành theo thẩm quyền 12 Thông tư, Thông tư liên tịch và nhiều Chỉ thị, Quyết định để triển khai thi hành Pháp lệnh (Danh mục cụ thể kèm theo).
     Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành theo thẩm quyền và phối hợp với các Bộ, ngành ban hành 06 Thông tư, Thông tư liên tịch hướng dẫn trình tự thủ tục xác nhận và thực hiện chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Các Bộ, ngành như:Bộ Tài chính, Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Bộ Giáo dục vàĐào tạo, Bộ Nội vụ,… theo chức năng và thẩm quyền của mình, đã ban hành Thông tư hướng dẫn về trình tự thủ tục, chế độ quản lýnhà nước về xác nhận và thực hiện ưu đãi liên quan đến người có công với cách mạng.
    Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2012  và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”  cùng với các văn bản hướng dẫn thực hiện đã tạo lập hành lang pháp lý và công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu về lĩnh vực ưu đãi người có công với cách mạng. Chính sách người có công ngày càng được hoàn thiện theo hướng ưu đãi cao hơn và toàn diện hơn đối với các đối tượng người có công. Cụ thể như: bổ sung chế độ trợ cấp người phục vụ đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng; mở rộng chế độ trợ cấp hàng tháng và trợ cấp tuất; nâng mức chuẩn trợ cấp; bổ sung chế độ bảo hiểm y tế cho một số diện thân nhân người có công với cách mạng; quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn xác nhận liệt sỹ, thương binh và bệnh binh cho phù hợp với thực tiễn; chuyển đổi chế độ điều dưỡng luân phiên từ5 năm một lần sang 2 năm một lần; bổ sung quy định nhà nước hỗ trợ nhà ở, giáo dục - đào tạo, chế độ thờ cúng liệt sĩ,… 
    1.2. Công tác tuyên truyền, phổ biến Pháp lệnh
    Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về ưu đãi người có công được thường xuyên đẩy mạnh dưới nhiều hình thức khá phong phú, đa dạng trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương, địa phương và thông qua các cuộc sinh hoạt, tổ chức các sự kiện, hoạt động của các cơ quan, đoàn thể, hội quần chúng,...
    Nhiều chương trình tuyên truyền có nội dung hết sức cảm động, mang tính nhân văn sâu sắc như: "Đi tìm đồng đội", "Trở về từ ký ức"của Đài truyền hình Việt Nam; cuộc thi viết về “Ký ức người lính” do Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân tổ chức; chuyên đề giải đáp chính sách ưu đãi người có công của Đài tiếng nói Việt Nam; cuộc thi viết về đề tài thương binh liệt sĩ do Hội nhạc sĩ Việt Nam tổ chức;cuộc thi viết nhân kỉ niệm 70 năm ngày Thương binh Liệt sĩ do Hội nhà báo Việt Nam tổ chức…Hàng năm, Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Báo Nhân dân, các cơ quan liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức Hội nghị biểu dương người có công với cách mạng nhằm tuyên truyền về truyền thống đấu tranh cách mạng oanh liệt, hào hùng của dân tộc; đề cao sự cống hiến, hy sinh to lớn của những người,những gia đình có công trong các cuộc kháng chiến trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
    Các nội dung và hình thức tuyên truyền, truyền thông đã góp phần để nhân dân nói chung và gia đình, thân nhân người có công nắm vững, hiểu rõ và thực hiện đúngđường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kịp thời cổ vũ, biểu dương các điển hình tiên tiến trong các phong trào thi đua yêu nước; góp phần động viên các tầng lớp nhân dân tích cực lao động sản xuất, hăng hái tham gia các phong trào hành động cách mạng trong phát triển kinh tế, các hoạt động từ thiện xã hội, chăm lo cho người nghèo, đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn,...
    1.3. Công tác kiện toàn bộ máy thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về người có công với cách mạng
    Triển khai thi hành Pháp lệnh trong bối cảnh đượcđẩy mạnh đồng bộ với thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011-2020 theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng các Bộ, ngành liên quan, Ủy ban nhân dâncác cấp triển khai thực hiện quyết liệt với mục tiêu đặt trọng tâm cải cách hành chính lĩnh vực người có công mà trọng tâm là cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công. Cụ thể: 
    Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật,luôn quán triệt yêu cầu cải cách hành chính mà khâu đột phá là cải cách thủ tục hành chính;theo đó,lĩnh vực người có công đã bãi bỏ 01 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 21 thủ tục hành chính trên tổng số 43 thủ tục hành chính, chiếm tỷ lệ 50%thủ tục hành chính hiện hành. Tập trung vào các vấn đề như: chính sách ưu đãi tronggiáo dục - đào tạo;giải quyết hồ sơ tồn đọng đề nghị xác nhận người có công; cấp Bằng Tổ quốc ghi công; giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân,… Gắn liền với cắt giảm thủ tục hành chính, Bộ đã tích cực chỉ đạo ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nhà nước như: số hóa hồ sơ người có công;phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Tổng công ty Bưu điện Việt Nam xây dựng Cổng thông tin điện tử về liệt sĩ, mộ liệt sĩ và nghĩa trang liệt sĩ để cung cấp thông tin phục vụ việc tìm kiếm mộ liệt sĩ trong cả nước.
    Rà soát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế hiện có của cơ quan quản lý lĩnh vực người có công của ngành, trên cơ sở đó đã điều chỉnh tổ chức, sắp xếp lại theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Tại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Người có công giảm 25% số phòng, giảm 10%số cán bộ công chức, viên chức.
    Đội ngũ cán bộ công chức, viên chức từng bước được đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng cả về phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn.
    Dịch vụ hành chính công tại các cơ quan thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nhất là các trung tâm, các cơ sở điều dưỡng, nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh và người có công đã được cải thiện, cơ bảnđáp ứng sự hài lòng của đối tượng chính sách.
    Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ,… theo chức năng và thẩm quyền,xây dựng, ban hành hoặc trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về ưu đãi liên quan đến người có công với cách mạng, trình tự thủ tục triển khai Pháp lệnh đã chú trọng cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính nhất là trong hoạt động xác nhận, thực hiện ưu đãi, bố trí nguồn lực tài chính công, giám định y khoa, tuyển sinh, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, bảo hiểm y tế,…Công tác phối hợp thực thi chính sách ưu đãi liên quan đến người có công với cách mạng giữa các Bộ, ngành với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ngày càng gắn kết chặt chẽ, đồng bộ và hiệu quả.
    Ở địa phương, tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác người có công với cách mạng thường xuyên được củng cố, kiện toàn, phân công trách nhiệm rõ ràng. Ở cấp huyện đã bố trí từ 1- 2 cán bộ làm công tác người có công và ở cấp xã đều bố trí cán bộ chuyên trách công tác Lao động - Thương binh và Xã hội, nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện chính sách ưu đãi người có công. Nhiều địa phương đã tiến hành số hóa hồ sơ người có công; một số nơi thực hiện nguyên tắc chi trả trợ cấp ưu đãi “tận tay, đúng kỳ, đủ số” cho người có công qua hệ thống chi trả bưu điện, bước đầu được các đối tượng người có công và thân nhân đồng tình ủng hộ.
    2. Tình hình thực hiện Pháp lệnh
    2.1. Công tác xác nhận người có công
    Đến nay cả nước đã xác nhận được trên 9,2 triệu người có công. Trong đó, số người có công đang hưởng chế độ ưu đãi hàng tháng gần 1,4 triệu người.
    Công tác xác nhận người có công được triển khai theo đúng quy trình, quy định của pháp luật; có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng, huy động trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Theo đó, toàn quốc đã xác nhận hơn 900 liệt sĩ, gần 3500 thương binh. Trước tình hình số lượng lớn hồ sơ tồn đọng đề nghị xác nhận người có công với cách mạng;thực hiện Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị quyết của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Quyết định số 408/QĐ-LĐTBXH ngày 20/03/2017 về quy trình giải quyết hồ sơ tồn đọng đề nghị xác nhận người có công thông quacác bước đảm bảo đúng quy định của pháp luật; quy trình triển khai chặt chẽ, công khai, dân chủ, lắng nghe ý kiến tối đa của cán bộ đảng viên và nhân dân, nhất là các bậc lão thành cách mạng, lãnh đạo địa phương qua các thời kỳ và các cụ cao niên ở địa bàn dân cư cũng như công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. Kết quả trong năm 2017 và 2018 đã xác nhận và trình Thủ tướng Chính phủ cấp Bằng Tổ quốc ghi công đối với trên 1.600 liệt sĩ, trên 2.500 thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; qua đó về căn bản hồ sơ tồn đọng ở cấp tỉnh, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng đã được giải quyết, góp phần tích cực động viên, tri ân các gia đình có công với cách mạng được dư luận xã hội đồng tình, ủng hộ.
    2.2. Thực hiện các chế độ ưu đãi.
    2.2.1. Trợ cấp, phụ cấp
    Từnăm 2004 đến nay, thực hiện cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công, chế độ trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đã qua 10 lần điều chỉnh, từng bước khắc phục những hạn chế về mức, về nguyên tắc và phương thức điều chỉnh độc lập với chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội, phù hợp với điều kiện của ngân sách nhà nước, góp phần từng bước cải thiện nâng cao đời sống của người có công. Đến nay (năm 2018), mức chuẩn để xác định mức trợ cấp ưu đãi người có công là 1.515.000 đồng (cao hơn mức lương cơ sở là 1.390.000 đồngcủa cán bộ, công chức hiện nay).
    Tính đến ngày 31/12/2017, số người có công đang hưởng trợ cấp hàng thánglà gần 1,4 triệu và hơn 500.000 thân nhân người có công đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng với tổng kinh phí khoảng 29.000 tỷ đồng/năm. Tổng kinh phí thực hiện Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng hàng năm khoảng 31.000 tỷ đồng(bao gồm trợ cấp 1 lần, trợ cấp hàng tháng, bảo hiểm y tế, công tác mộ, nghĩa trang liệt sĩ, đền ơn đáp nghĩa,...).
    Chế độ trợ cấp ưu đãi đối với người có công trong những năm qua được thực hiện đúng theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng và bám sát lộ trình cải cách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công. Mặc dù nguồn tài chính quốc gia còn hạn hẹp nhưng Nhà nước vẫn dành sự ưu tiên đặc biệt, bố trí nguồn ngân sách đầy đủ, kịp thời.Tuy nhiên, để góp phần làm tốt hơn nữa công tác chăm lo đời sống cho người có công với cách mạng, các mức trợ cấp vẫn cần tiếp tục được nghiên cứu, điều chỉnh cho phù hợp trong thực tiễn.
    2.2.2. Ưu đãi về nhà ở         
    Thực hiện Nghị quyết số 494/NQ-UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ngày 26/4/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg về hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở. Theo đó, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 09/2013/TT-BXD ngày 01/7/2013 hướng dẫn thực hiện Quyết định này, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 98/2013/TT-BTC ngày 24/7/2013 hướng dẫn việc quản lý, cấp phát và thanh, quyết toán vốn hỗ trợ nhà ở.
    Việc triển khai thực hiện Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, với tổng số 393.707 hộ cần được hỗ trợ (trong đó:xây dựng mới 184.695 hộ, sửa chữa 209.012 hộ), tổng kinh phí cần hỗ trợlà 10.653.422 triệu đồng.
    Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, đến nay đã có 244.000/393.707 hộ (chiếm tỷ lệ 62%)được triển khai; số còn lại phấn đấu cơ bản giải quyết xong trong năm 2018 và đầu năm 2019.
    Chính sách hỗ trợ về nhà ở cho người có công với cách mạng theo Nghị quyết số 494/NQ-UBTVQH13 và Quyết định số 22/2013/QĐ-TTgđược cán bộ, đảng viên, nhân dân và toàn xã hội đồng thuận, hoan nghênh và đã triển khai đạt kết quả nhất định.Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc như:
    - Một số địa phương triển khai chậm, còn lúng túng hoặc nể nang trong việc xét chọn đối tượng hỗ trợ dẫn đến số lượng đối tượng tăng khá lớn so với kết quả của Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội năm 2012. Không ít địa phương, khi bổ sung đối tượngbáo cáo không kịp thời, thậm chí bổ sung sau khi có kết luận của Thủ tướng Chính phủ nên gặp không ít khó khăn trong việc tổng hợp số liệu chung do đó, cũng bị động trong việc tính toán, cân đối nguồn kinh phí hỗ trợ.
    - Thời gian thực hiện hỗ trợ kéo dài; việc cấp kinh phí còn chậm; thêm vào đó là bị ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt xảy ra ở một số nơi. Một số địa phương đã tự ứng kinh phí và một số gia đình người có công (theo báo cáo của các địa phương có khoảng 14.000 hộ) đã vay mượn để xây dựng, sửa chữa nhà, dẫn đến việc theo dõi, kiểm tra, giám sát tình hình, tiến độ thực hiện gặp không ít khó khăn.
    -  Định mức kinh phí choviệc xây dựngmới hoặc sửa chữa nhà chưa tính đến yếu tố vùng, miền và ban hành từ năm 2013 đến nay không còn phù hợp, trượt giá cũng làm ảnh hưởng không ít đến tiến độ triển khai thực hiện.
    - Một số địa phương triển khai chậm dù Trung ươngđã phân bổ đủ nguồn kinh phí cho Chương trình này.
    2.2.3. Ưu đãi giáo dục - đào tạo
    Tổng số người có công và thân nhân đang hưởng trợ cấp ưu đãi giáo dục (tính đến 31/12/2017) là 77.151 người (biểu số 03).
    Chế độ ưu đãi trong giáo dục- đào tạo đối với con người có công 05 năm qua đã có sự quan tâm thiết thực, triển khai có hiệu quả. Tuy nhiên, chế độ trợ cấp ưu đãi còn thấp, thủ tục hỗ trợ còn rườm rà, vẫn còn tình trạng trùng lắp trong quản lý, ban hành văn bản và thực hiện hỗ trợ ưu đãi trong giáo dục.
    2.2.4. Cấp thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT)
    Pháp lệnh quy định: Nhà nước mua bảo hiểm y tế và khám, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ (bao gồm cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con từ 6 tuổi đến 18 tuổi hoặc trên 18 tuổi nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng trở lên; người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; người phục vụ Bà mẹ Việt Nam anh hùng; người phục vụ thương binh, bệnh binh; người hưởng chính sách nhưthương binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên). 
    Hiện có trên 800.000 đối tượng người có công được Nhà nước mua bảo hiểm y tế (ngoài thân nhân người có công đã được Nhà nước mua bảo hiểm y tế theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế) với kinh phí khoảng gần 400 tỷ đồng/năm.Đồng thời, Pháp lệnh cũng bổ sung về trách nhiệm của cơ quan y tế trong việc hướng dẫn chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ, bảo hiểm y tế đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ.
     Chế độ BHYT đối với người có công được quan tâm với phương châm người có công được ưu tiên cao nhất, được chăm sóc đầy đủ, kịp thời nhất. Theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế, người có công được thanh toán 100% chi phí khám chữa bệnh còn thân nhân người có công được thanh toán 95%. Việc thực hiện chế độ bảo hiểm y tế đối với người có công cơ bản được triển khai khá tốt, đáp ứng được nguyện vọng của đối tượng, hầu như không phát sinh những thắc mắc về hình thức và mức hỗ trợ khi đối tượng đi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế.
    2.2.5. Giải quyết việc làm
    Bên cạnh trợ cấp một lần và thường xuyên, người có công với cách mạng và thân nhân còn được ưu đãi trên nhiều mặt của đời sống xã hội, trong đó có ưu đãi giải quyết việc làm. Thực hiện Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 28/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho con liệt sĩ, con thương binh nặng, con bệnh binh nặng.Theo báo cáo của các địa phương, đến nay, đã có khoảng 49.000 người có công và con của họ được hỗ trợ đào tạo nghề ở trình độ sơ cấp, dưới 3 tháng, trong đó có trên 24.000 người được đào tạo nghề nông nghiệp và 25.000 người được đào tạo nghề phi nông nghiệp.Bộ Quốc phòng đã tiếp nhận trên 2.700 người là con của thương binh, con bệnh binh nặng vào làm việc tại các doanh nghiệp quốc phòng, trong đó có 338 cháu là con của thương binh, con bệnh binh nặng đang điều dưỡng tại các trung tâm điều dưỡng thương binh.
    2.2.6. Thực hiện chế độ điều dưỡng
    Từ ngày 01/01/2013, chế độ điều dưỡng luân phiên đối với người có công đã được giảm từ 5 năm sang 2 năm một lần nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người có công với cách mạng.
    Hiện nay cả nước có 65 cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng. Về cơ bản đáp ứng yêu cầu chăm sóc, điều dưỡng người có công nhất là đối với thương binh nặng, song cần tiếp tục quy hoạch, rà soát, tinh gọn mạng lưới cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công trên toàn quốc.
    2.3. Xây dựng, quản lý các công trình ghi công liệt sĩ và quy tập hài cốt liệt sĩ, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ
    Cả nước có trên 3.200 nghĩa trang liệt sĩ và trên 3.000 các công trình ghi công liệt sĩ. Bên cạnh việc đầu tư ngân sách địa phương và xã hội hóa, hàng năm, Nhà nước đều bố trí một phần kinh phí để tu bổ, nâng cấp mộ liệt sĩ, nghĩa trang liệt sĩ, các công trình ghi công liệt sĩ.
    Hiện nay, còn khoảng gần 200.000 hài cốt liệt sĩ chưa được quy tập vàgần300.000 hài cốt liệt sĩ đã được quy tập nhưng chưa đầy đủthông tin. Ngày 14/01/2013, Thủ tướng Chính phủđã ban hành Quyết định số 150/QĐ-TTg phê duyệt Đề án xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin, giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan thường trực và Quyết định số 1237/QĐ-TTg ngày 27/7/2013 phê duyệt Đề án tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ từ nay đến năm 2020 và các năm tiếp theo, giao Bộ Quốc phòng là cơ quan thường trực. 
    - Đối với công tác xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin đạt được một số kết quả bước đầu:
    + Bằng phương pháp thực chứng, như: Thông qua thông tin về đồng đội, đơn vị, thân nhân và thông tin về quy tập,…đã xác định được trên 2.200 danh tính liệt sĩ.
    + Bằng phương pháp giám định ADN: Các cơ sở giám định ADN thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và các tổ chức giám định phục vụ công tác xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin được tập trung đầu tư, nâng cấp, nâng cao năng lực thực hiện với đội ngũ được đào tạo căn bản.Đã thực hiện lấy trên 15.000 mẫu hài cốt liệt sĩ và trên 4.400 mẫu thân nhân, xác định được trên 3.600 danh tính liệt sĩ. Những trường hợp đã phân tích ADN đều được lưu lại kết quả để phục vụ công tác xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin.
    Như vậy, bằng hai phương pháp trên, những năm qua đã xác định được trên 5.800 danh tính liệt sĩ, báo tin tới thân nhân liệt sĩ, đồng thời tổ chức gắn bia ghi tên trên bia mộ liệt sĩ.
    - Đối với công tác tổ chức tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ: Từ năm 2005 đến nay đã tìm kiếm, quy tập được trên 70.000 hài cốt liệt sĩ, trong đó ở Lào: trên 16.000 hài cốt liệt sĩ; ở Campuchia: trên 15.000 hài cốt liệt sĩ; trong nước: gần 39.000 hài cốt liệt sĩ. Công tác giải mã ký hiệu, phiên hiệu đơn vị quân đội đã cơ bản hoàn thành; được chuẩn hóa và tích hợp trên phần mềm điện tử, tổng số 28.164 đơn vị (cấp đại đội và tương đương) được giải mã với 212.731 dòng thông tin giải mã, 116.150 phiếu cung cấp thông tin giải mã, 185.264 thông tin giải mã và 32.638 thông tin về liệt sĩ.
    2.4. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các Bộ, ngành, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, các tổ chức và cộng đồng xã hội tích cực hưởng ứng, trở thành nét đẹp truyền thống của dân tộc.
    Thực hiện Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, hoạt động của Quỹ Đền ơn đáp nghĩa các cấp được duy trì khá tốt; vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp được phát huy tích cực; sự nhiệt tình, hưởng ứng đóng gópcủacán bộ, công nhân viên chức, người lao động ở các cơ quan, đơn vị, cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm và xã hội.
    Bằng các nguồn xã hội hóa, thông qua những hình thức phong phú, thiết thực, tổng Quỹ Đền ơn đáp nghĩa cả nước đã bổ sung thêm được gần 5.200 tỷ đồng, trong đó: 
    - Cấp Trung ương: gần 19 tỷ đồng.
    - Cấp địa phương: gần 5.100 tỷ đồng.
    Việc quản lý, sử dụng Quỹ được thực hiện theo Nghị định số 45/2006/NĐ-CP ngày 28/4/2006 của Chỉnh phủban hành Điều lệ quản lý và sử dụng Quỹ Đền ơn đáp nghĩa đảm bảo chặt chẽ, đúng mục đích, đúng đối tượng, công khai, minh bạch. 
    Cả nước đã chi 10.726 tỷ đồng để hỗ trợ cho 85.412 hộ gia đình người có côngxây dựng mới 44.652 căn nhà và sửa chữa 40.760 căn nhà tình nghĩa; tặng 63.523 sổ tiết kiệm cho gia đình chính sách với tổng số tiền gần 290 tỷ đồng và hỗ trợ một số trường hợp đặc biệt khó khăn. Những kết quả trên đây đã góp phần tích cực động viên, khích lệ tinh thần, đồng thời giúp một bộ phận gia đình người có công với cách mạng cải thiện cuộc sống.
    Mặc dù vậy, do ngày càng có thêm nhiều loại quỹ được hình thành và huy động theo hình thức xã hội hóa; nên trên thực tế, nguồn lực của xã hội tham gia đóng góp trực tiếp vào Quỹ Đền ơn đáp nghĩa những năm gần đây không ổn định và có giảm hơn những năm trước.
    2.5. Công tác thanh tra, kiểm tra ở lĩnh vực người có công
    Công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng được tiến hành thường xuyên, rộng rãi ở các Bộ, ngành, địa phương. Hàng năm, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Quốc phòng và các cơ quan liên quan tổ chức kiểm tra, thanh tra thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng tại các địa phương, đồng thời chỉ đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố thườngxuyên rà soát, kiểm tra tình hình thực hiện pháp luật ưu đãi người có công trên địa bàn. Trong 5 năm, qua thanh traBộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã kiểm tra, phát hiện hồ sơ có sai phạm để trục lợi chính sách, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền đình chỉ trợ cấp và thu hồi số tiền hưởng saihàng trăm tỷ đồng.
    Tuy nhiên,việc thi hành kết luận thanh tra tại các địa phương gặp nhiều khó khăn vướng mắc trong việc thu hồi số tiền trợ cấp đã hưởng sai đối với các đối tượng bị đình chỉ, cắt trợ cấp do đa phần đối tượng thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng nay đã chết hoặc đang mắc bệnh hiểm nghèo,…không có khả năng hoàn trả hoặc thu hồi số tiền đã hưởng sai của ngân sách Nhà nước.
    3. Tác động của Pháp lệnh đối với chính trị - kinh tế - xã hội
    Từ thực tiễn cho thấy việc tổ chức triển khai thực hiện Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng đã có nhiều tác động sâu sắc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tập trung nhất là:
    - Thực hiện Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng trong thời gian qua là tiếp tục thể hiện đạo lý và truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ người trồng cây" của dân tộc;thể hiện trách nhiệm và sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với những người, những gia đình đã cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân;từ đó đã tạo được sự đồng thuận sâu rộng, động viên được trách nhiệm và tình cảm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, tích cực góp phần tham gia chăm sóc người có công với cách mạng, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa" tiếp tục được đẩy mạnh. 
    - Pháp lệnh hiện hành đã mở rộng điều kiện, tiêu chuẩn xác nhận người có công với cách mạng, bổ sung nhiều chế độ, chính sách ưu đãi nhằm góp phần ổn định và từng bước cải thiện đời sống của người có công với cách mạng và thân nhân; thể hiện rõ hơn tính công bằng và tiến bộ xã hội, được xã hội và các đối tượng có công với cách mạng đồng tình, ủng hộ; giải quyết một phần quan trọng tâm tư và những nguyện vọng chính đáng của người có công với cách mạng và thân nhân.
    -  Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và của toàn xã hội, thông qua thực hiện Pháp lệnh, bằng những chính sách, những việc làm hết sức cụ thể, thiết thực, đời sống của người có công với cách mạng nhìn chung ngày càng được ổn định, từng bước cải thiện và cao hơn bình quân ở khu vực dân cư, đã động viên, khích lệ và tạo động lực để người có công với cách mạng và gia đình tiếp tục gìn giữ, phát huy truyền thống cách mạng, không ngừng nỗ lực vươn lên trong xây dựng cuộc sống gia đình, xây dựng địa phương, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ quê hương; niềm tin đối với Đảng, đối với chế độ xã hội chủ nghĩa ngày càng được củng cố và tăng cường; góp phần ổn định chính trị - xã hội ở từng địa phương cũng như cả nước.
    - Thông qua quá trình thực hiện Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng với các hoạt động thiết thực góp phần chăm sóc người có công với cách mạng; đã có tác động lớn trong việc tiếp tục giáo dục truyền thống, phát huy nghĩa cử cao đẹp của dân tộc và ý thức trách nhiệm cho các thế hệ, đặc biệt là thế hệ trẻ của đất nước đối với những người, những gia đình đã cống hiến, hy sinh để đất nước được như ngày hôm nay.Mặt khác, đã huy động được nhiều nguồn lực của toàn xã hội cả về tinh thần và vật chất,góp phần chăm sóc đời sống người có công với cách mạng và điều đó càng có ý nghĩa hơntrong lúc đất nước nói chung và điều kiện ngân sách của Nhà nước nói riêng còn không ít khó khăn.
    II. KHÓ KHĂN, HẠN CHẾTRONG QUÁ TRÌNH THI HÀNH PHÁP LỆNH VÀ NGUYÊN NHÂN
    1. Một số khó khăn, hạn chế
    Quá trình thực hiện Pháp lệnh, bên cạnh kết quả đạt được, trên thực tế xuất hiện những vướng mắc, bất cập, ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm của xã hội nói chung và người có công với cách mạng nói riêng, trọng tâm là các nhóm vấn đề sau:
    1.1. Về tiêu chí, khái niệm, điều kiện, tiêu chuẩn để xem xét, công nhận người có công với cách mạng:
    - Một số khái niệm, thuật ngữ và tiêu chí như: người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến, tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ hoặc phục vụ nhiệm vụ quốc phòng - an ninh,... chưa được giải thích, làm rõ.
     - Chưa phân định rõ điều kiện, tiêu chuẩn để xét công nhận là người có công với cách mạng giữa thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc với thời kỳ đất nước hoà bình.
    Trên thực tế, những vấn đề trên đang còn có những luồng ý kiến khác nhau,cách hiểu khác nhau nên quá trình triển khai và thực hiệnthiếu nhất quán, lúng túng trong tổ chức thực hiện, còn bỏ sót một số chính sách.
    1.2. Về chế độ ưu đãi người có công với cách mạng
     - Một số chế độ ưu đãi đang thực hiện đối với người có công với cách mạng chưa thật sự đảm bảo hài hoà giữa các đối tượng như: chưa có chế độ bảo hiểm y tế đối với thân nhân của người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945, người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 còn sống (trong khi thân nhân của thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên đã được hưởng ưu đãi).
    - Một số chế độ chưa thật hợp lý như: thân nhân có từ 4 liệt sĩ trở lên cũng chỉ được hưởng tối đa 3 định suất; ngược lại có trường hợp một người có công với cách mạng cùng một lúc được hưởng nhiều định suất (trợ cấp người phục vụ).
    - Để phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay, một số chế độ cần được bổ sung quy định cụ thể phù hợp để đảm bảo công bằng trong mặt bằng chính sách ưu đãi, như: chế độ đối với thân nhân của Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; người có công giúp đỡ cách mạng đã từ trần nhưng chưa được hưởng chế độ ưu đãi hoặc vợ (chồng) liệt sĩ lấy chồng (vợ) khác,...
    Những vấn đề trên đang gây tâm tư trong các đối tượng người có công với cách mạng, được cử tri và đại biểu Quốc hội quan tâm.
    1.3. Pháp lệnh chưa quy định rõ thẩm quyền hướng dẫn về thủ tục xác nhận người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945 (cán bộ lão thành cách mạng), người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 (cán bộ tiền khởi nghĩa); chưa quy định điều kiện, tiêu chuẩn, thẩm quyền, thủ tục xác nhận người tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc bị địch bắt tù, đày sau năm 1975.
    1.4. Việc xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin cũng như việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý Nhà nước đối với người có công với cách mạng tuy có nhiều cố gắng triển khai và đã đạt được một số kết quả nhất định; song, nhìn chung tiến độ vẫn còn chậm, chưa gắn kết giữa công tác tìm kiếm, quy tập với công tác xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, nguồn lực và điều kiện để triển khai các nhiệm vụ này trên thực tế chưa đáp ứng được yêu cầu.
    1.5. Việc giải quyết hồ sơ đề nghị xác nhận người có công với cách mạng đang tồn đọng ở các địa phương trong một thời gian khá lâu, với khối lượng khá lớn, là một nhiệm vụ rất nặng nề, phức tạp đòi hỏi phải có sự vận dụng linh hoạt, phù hợp với điều kiện lịch sử của từng thời kỳ cách mạng và cần khẩn trương đẩy mạnh; tuy nhiên trên thực tế, vẫn còn có những ý kiến khác nhau về cơ sở pháp lý để triển khai nhiệm vụ này.
    1.6. Một số tác động tiêu cực trong quá trình triển khai chính sách, pháp luật về ưu đãi người có công chưa được thanh tra, kiểm tra và xử lý kịp thời như man khai hồ sơ, trục lợi chính sách, người hưởng chính sách như thương binh và người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học,...
    Đây là những vấn đề còn khó, đòi hỏi phải có sự huy động trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã hội, cần thiết phải có hành lang pháp lý đủ mạnh để triển khai thực hiện.
    1.7.Có những quy định chưa được các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn như: 
    -Tổ chức và hoạt động của Quỹ Đền ơn đáp nghĩa; 
    - Điều kiện, tiêu chuẩn, quy chế, chuyên môn, kỹ thuật bảo đảm việc xác nhận, giám định sức khỏe đối với người hoạt động kháng chiến hoặc con đẻ bị nhiễm chất độc hóa học; chế độ ưu tiên, ưu đãi trong sản xuất, kinh doanh công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp; xử lý vi phạm ở lĩnh vực người có công,… Một số quy định hướng dẫn hoặc quy định chi tiết vẫn còn thiếu như: Xác nhận và giải quyết chế độ đối với người hoạt động kháng chiến được khen tặng thưởng Huân, Huy chương; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày.
    1.8. Hệ thống văn bản hướng dẫn còn chồng chéo, vướng mắc
    - Hướng dẫn xác nhận người có công hiện nay cơ bản có 3 Bộ cùng ban hành Thông tư hướng dẫn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an dẫn đến xuất hiện một số vướng mắc (Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Thông tư số 202/2013/TT-BQP của Bộ Quốc phòng, Thông tư số 61/2013/TT-BCA của Bộ Công an).
    - Ưu đãi giáo dục - đào tạo được hướng dẫn tại 02 văn bản: Ngành Giáo dụcvà Đào tạo thực hiện chế độ miễn giảm học phí, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội vẫn thực hiện chế độ trợ cấp ưu đãi giáo dục - đào tạo hàng tháng và trợ cấp mỗi năm một lần (Thông tư số 35/2015/TT-BLĐTBXH).
    1.9. Việc chuyển hưởng trợ cấp đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học được triển khai trong thực tiễn song chưa được Pháp lệnh ghi nhận
    - Theo quy định của Pháp lệnh (Khoản 4, Điều 3 Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13): người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học được công nhận và đang hưởng chế độ trước ngày 01/9/2012 đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo mức suy giảm khả năng lao động dưới 81% thì tiếp tục hưởng chế độ cho đến ngày 31/12/2012 và được chuyển sang hưởng trợ cấp theo mức của người có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 41% đến 60% kể từ ngày 01/01/2013.
    - Xuất phát từ mong muốn có sự thống nhất trong việc áp dụng chế độ trợ cấp giữa thương binh và những người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học nên tại Khoản 6, Điều 42 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 của Chính phủ quy định:Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học được công nhận và đang hưởng chế độ trước ngày 01/9/2012 nếu đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo mức suy giảm khả năng lao động dưới 81% và trong biên bản giám định y khoa đã xác định tỷ lệ suy giảm khả năng lao động thì chuyển hưởng trợ cấp hàng tháng theo các mức tương ứngtừ 21% - 40% (936.000đồng/tháng, giảm 474.00  đồng/tháng từ 01/01/2013so với điều chỉnh theo Pháp lệnh);từ 41% - 60% (1.410.000đồng/tháng); từ 61% - 80% (1.976.000đồng/tháng, tăng 566.000đồng/tháng từ 01/01/2013 so với điều chỉnh theo Pháp lệnh).Như vậy, có nhóm đối tượng được điều chỉnh tăng trợ cấp (hưởng mức 61%-80%) và có nhóm đối tượng điều chỉnh giảm trợ cấp (hưởng mức 21%-40%) không đúng với quy định của Pháp lệnh điều chỉnh về một mức 41%-60%.Do đó, ngày 04/02/2016 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 10/NQ-CP điều chỉnh Khoản 6 Điều 42 của Nghị định số 31/2013/NĐ-CP như sau: Chuyển nhóm đối tượng người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học được công nhận và đang hưởng trợ cấp trước ngày 01/9/2012 theo mức suy giảm khả năng lao động từ 21% đến 40% sang hưởng trợ cấp của người suy giảm khả năng lao động từ 41% đến 60% và được truy lĩnh phần chênh lệch trợ cấp từ ngày 01/01/2013 theo quy định của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2012.
    Tuy nhiên, để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, phù hợp thực tiễn trong việc thực hiện chính sách đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học trong thời gian qua, nội dung chuyển hưởng trợ cấp này cần được sửa đổi, bổ sung trong dự thảo Pháp lệnh mới.
    2. Nguyên nhân
    2.1. Công tác hoạch định, bổ sung ban hành chính sách đối với người có công còn nhiều bất cập. Nhiều vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn nhưng chưa được nghiên cứu điều chỉnh, bổ sung kịp thời.
    2.2. Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành trong việc ban hành chính sách có lúc, có việc còn chưa chặt chẽ, thiếu thống nhất, đồng bộ dẫn đến hệ thống văn bản còn chồng chéo, khó thực hiện.
    2.3. Một bộ phận không nhỏ trong đội ngũ cán bộ,công chức, viên chức làm chính sách thương binh liệt sĩ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ cả về năng lực và phẩm chất; thậm chí một bộ phận thoái hóa biến chất tiếp tay cho nạn khai man, giả mạo hồ sơ, trục lợi chính sách ưu đãi người có công, gây bất bình trong xã hội.
    III. MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG LỚN SỬA ĐỔI PHÁP LỆNH 
    1. Mục đích
    Sửa đổi để thay thế Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng nhằm tháo gỡ các vấn đề còn vướng mắc trong quá trình thực hiện Pháp lệnh; đáp ứng những yêu cầu đặt ra từ thực tiễn; tiếp tục thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, đồng thời tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ, minh bạch, thống nhất, đảm bảo công bằng, hợp lý, tạo sự đồng thuận cao của xã hội trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công.
    2. Định hướng
     - Tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt và cụ thể hoá chủ trương của Đảng và Nhà nước về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng đối với mọi tầng lớp trong xã hội; bảo đảm phù hợp với các quy định của Hiến pháp và tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật trong tổ chức thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng;
    - Phân định rõ và đề cao hơn nữa trách nhiệm của các cơ quan chức năng; đồng thờinâng cao hiệu quả, hiệu lực, năng lực quản lý Nhà nước đối với công tác người có công với cách mạng;
    - Sửa đổi, bổ sung một số chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng nhằm: bảo đảm công bằng, hợp lý, hài hoà giữa các diện đối tượng người có công, phù hợp với tình hình kinh tế- xã hội của đất nước; không mở rộng diện đối tượng; chuẩn hóa điều kiện, tiêu chuẩn công nhận người có công phù hợp với đặc điểm của từng giai đoạn cách mạng; đảm bảo quyền lợi của người có công đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi trường hợp tiêu cực hoặc lợi dụng chính sách ưu đãi người có công để trục lợi cá nhân.
    - Tập trung chăm sóc tốt hơn đời sống các diện đối tượng người có công đã được quy định;tiếp tục đẩy mạnh huy động nguồn lực của toàn xã hội nhằm chăm sóc ngày càng tốt hơn đời sống của người có công với cách mạng và thân nhân của họ.
    Trên đây là báo cáo Tổng kết 05 năm thi hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng và định hướng sửa đổi, bổ sung, xây dựng Pháp lệnh thay thế./.
THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com