Thứ ba, ngày 22/01/2019login
  • Kính gửi:  Ủy ban thường vụ Quốc hội

    Theo ý kiến Kết luận của Chủ tịch Quốc hội tại công văn thông báo số 1162/TTKQH – GS ngày 16/10/2017 về việc giao Ban Công tác đại biểu chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan nghiên cứu xây dựng và ban hành quy chế hướng dẫn tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân, ngày 03/01/2018, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 465/NQ-UBTVQH14 thành lập Ban Soạn thảo xây dựng Quy chế hướng dẫn tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân.
    Thực hiện nhiệm vụ được giao, Ban soạn thảo đã chủ động phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức nghiên cứu, xây dựng Nghị quyết về Quy chế hướng dẫn tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân trên cơ sở các báo cáo tổng kết tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân từ đầu nhiệm kỳ đến nay; báo cáo đánh giá, tác động và ý kiến đóng góp của Thường trực Hội đồng nhân dân 63 tỉnh, thành phố.
    Ban soạn thảo kính trình Ủy ban thường vụ Quốc hội nội dung cơ bản của Nghị quyết về việc ban hành Quy chế hướng dẫn tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân như sau:
    I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT
    Từ đầu nhiệm kỳ 2016 – 2021 đến nay, Hội đồng nhân dân các cấp đã có nhiều cố gắng trong đổi mới cả về tổ chức và phương thức hoạt động để Hội đồng nhân dân thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân. Tuy nhiên, trong thực tiễn thi hành các văn bản pháp luật có liên quan như: Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân còn có những nội dung quy định chung chung, chưa cụ thể, chưa rõ ràng hoặc có những nội dung chưa được Luật quy định, do vậy còn gây khó khăn trong quá trình triển khai, tổ chức thực hiện như: cách thức, trình tự thực hiện một số hoạt động tại kỳ họp Hội đồng nhân dân, phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân; Hoạt động giám sát của Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân; việc bầu chức danh Ủy viên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện là người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện; việc sử dụng con dấu của các Ban của Hội đồng nhân dân; việc tổ chức hoạt động thư ký kỳ họp Hội đồng nhân dân; hay các quy định về tổ chức các đoàn giám sát, …
    Qua các Hội nghị Thường trực Hội đồng nhân dân từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Thường trực Hội đồng nhân dân nhiều tỉnh, thành phố đã đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội sớm ban hành văn bản hướng dẫn quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân. Xuất phát từ thực tế nêu trên, việc nghiên cứu, ban hành Quy chế hướng dẫn tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân là thật sự cần thiết, nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay về hướng dẫn triển khai thực hiện các văn bản pháp luật liên quan đến quá trình tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân, nhằm tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân.
    II. CƠ SỞ PHÁP LÝ, MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
    1. Cơ sở pháp lý
    Căn cứ Điểm d, Khoản 2, Điều 16 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Điều 143 Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Ủy ban thường vụ Quốc hội có thẩm quyền ban hành Nghị quyết hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân.
    2. Mục đích, yêu cầu của việc xây dựng dự thảo Quy chế
    - Thứ nhất, bảo đảm đúng Hiến pháp, các văn bản pháp luật về tổ chức Hội đồng nhân dân, tính kế thừa và phát triển Nghị quyết số 735/NQ-UBTVQH11 ngày 2/4/2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân trước đây; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân;
    - Thứ hai, Chủ yếu quy định về trình tự, thủ tục để làm căn cứ thực hiện các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân.
    - Thứ ba, Rà soát những quy định trong Hướng dẫn số 1138/HD – UBTVQH13 ngày 03/6/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định một số nội dung về việc tổ chức kỳ họp thứ nhất Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 nếu còn phù hợp, mang tính ổn định thì quy định vào nội dung Nghị quyết để thuận lợi cho việc áp dụng, thực hiện.
    III. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ THẢO QUY CHẾ
    Dự thảo Quy chế gồm 3 chương, 48 điều. cụ thể như sau:
    - Chương 1: Hội đồng nhân dân (từ Điều 1 đến Điều 17).
    Chương này được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu, áp dụng theo Nghị quyết về nội quy kỳ họp của Quốc hội, Quy chế hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, có tính đến yếu tố phù hợp với điều kiện thực tế và phạm vi hoạt động của Hội đồng nhân dân. Chương này quy định về một số nội dung liên quan đến kỳ họp Hội đồng nhân dân; trình tự thủ tục thực hiện nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân.
    - Chương 2: Thường trực Hội đồng nhân dân (từ Điều 18 đến Điều 25).
    Chương này tập trung quy định một số nội dung liên quan đến hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, thẩm quyền của Thường trực Hội đồng nhân dân trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh giữa hai kỳ họp của Hội đồng nhân dân và một số vấn đề liên quan đến tổ chức, nhân sự của Ban của Hội đồng nhân dân, một số điều kiện đảm bảo hoạt động cho Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân.
    - Chương 3:  Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân (từ Điều 26 đến Điều 48).
    Chương này được xây dựng trên cơ sở có nghiên cứu, áp dụng Nghị quyết 334/2017/UBTVQH14 ngày 11/01/2017 ban hành Quy chế tổ chức thực hiện một số hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Đồng thời, có tính đến điều kiện thực tế để phù hợp với phạm vi, tính chất  hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp. Chương này quy định một số nội dung liên quan đến hoạt động chất vấn tại kỳ họp Hội đồng nhân dân, hoạt động chất vấn, giải trình tại phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân, hoạt động giám sát chuyên đề của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân và hoạt động giám sát của Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân.
        IV. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN XIN Ý KIẾN
    Trên cơ sở tổng kết, báo cáo đánh giá tác động và nghiên cứu các ý kiến đề nghị, Ban soạn thảo báo cáo, xin ý kiến Ủy ban thường vụ Quốc hội những nội dung cơ bản của dự thảo Quy chế như sau:
    1. Về tên gọi và thời điểm ban hành Nghị quyết
    Ban soạn thảo báo cáo và xin ý kiến Ủy ban thường vụ Quốc hội về vấn đề này.
    a) Trong quá trình nghiên cứu, xin ý kiến của các địa phương và các đồng chí thành viên trong Ban soạn thảo, đa số các ý kiến cho rằng, do tính chất, nội dung hoạt động của Hội đồng nhân dân mỗi cấp có nhiều đặc điểm khác nhau nên dự thảo Nghị quyết chỉ hướng dẫn một số nội dung, tập trung vào trình tự thủ tục và những vướng mắc liên quan đến tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân được các địa phương đề nghị hướng dẫn trong quá trình thực hiện Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Vì vậy, đề nghị tên của Dự thảo Nghị quyết là: “Nghị quyết hướng dẫn một số nội dung về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân”.
    b) Hiện nay, Bộ Nội vụ đang triển khai tổng kết 3 năm thực hiện Luật Tổ chức chính quyền địa phương đồng thời xây dựng dự án sửa đổi Luật để phù hợp với thực tiễn và thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 của BCH trung ương Đảng khoá XII. Theo dự kiến sẽ trình Quốc hội xem xét thông qua vào năm 2020 để phục vụ cho hoạt động của chính quyền địa phương nhiệm kỳ 2021-2026. Do vậy, có ý kiến đề nghị chưa nên ban hành Nghị quyết vào thời điểm này.
    Qua nghiên cứu, Ban soạn thảo nhận thấy, Nghị quyết về Quy chế hướng dẫn tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân là cơ sở pháp lý cần thiết để tạo điều kiện cho Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện tốt hơn nữa chức năng, nhiệm vụ của mình. Đồng thời, Dự thảo Quy chế chỉ tập trung quy định về trình tự, thủ tục hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp mà hiện nay trong thực tế của Hội đồng nhân dân các địa phương cần có hướng dẫn. Do vậy, kể cả khi Luật Tổ chức chính quyền địa phương được sửa đổi, bổ sung về một số vấn đề như bổ sung thành viên tham gia Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã... thì Nghị quyết vẫn phù hợp và đảm bảo tính khả thi để áp dụng trong thực tiễn trước mắt và lâu dài.
    2. Về trình tự xem xét, giải quyết những vấn đề phát sinh giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân của Thường trực Hội đồng nhân dân
    Ban soạn thảo báo cáo và xin ý kiến Ủy ban thường vụ Quốc hội về vấn đề này.
    Vấn đề này, hiện nay có hai loại ý kiến như sau:
    Loại ý kiến thứ thứ nhất cho rằng: Trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân sẽ xem xét, giải quyết những vấn đề phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, cộng đồng thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân được Hội đồng nhân dân giao cho Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét, giải quyết. Trình tự để Thường trực Hội đồng nhân dân được giải quyết các vấn đề phát sinh giữa hai kỳ họp nên được quy định tại Dự thảo Quy chế.
    Loại ý kiến thứ hai cho rằng: Thường trực Hội đồng nhân dân chỉ có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 104 Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các quy định của pháp luật, trong trường hợp phát sinh thì tổ chức kỳ họp Hội đồng nhân dân bất thường để xem xét, quyết định, không nên giao cho Thường trực Hội đồng nhân dân giải quyết các vấn đề phát sinh giữa 2 kỳ họp Hội đồng nhân dân thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng nhân dân.
    Về vấn đề này, Ban soạn thảo xin báo cáo như sau:
    Qua các ý kiến nêu trên, sau khi xem xét, phân tích, Ban soạn thảo nhận thấy để bảo đảm việc giải quyết các vấn đề phát sinh giữa hai kỳ họp của Hội đồng nhân dân được kịp thời, nhằm tránh tốn kém, lãng phí do tổ chức hội họp, gọn nhẹ các thủ tục hành chính, đồng thời thực tế thời gian qua, Hội đồng nhân dân ở nhiều địa phương đã có nghị quyết giao cho Thường trực Hội đồng nhân dân giải quyết một số vấn đề phát sinh về đầu tư công, về thu hồi đất cho dự án ... liên quan đến thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh mà thuộc thẩm quyền xem xét, giải quyết của Hội đồng nhân dân cần triển khai sớm, kịp thời trong thời gian giữa hai kỳ họp và báo cáo lại Hội đồng nhân dân tại kỳ họp gần nhất . Điều này cũng phù hợp với tinh thần công văn số 191/UBTVQH14 ngày 19/10/2017 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
    Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, Ban soạn thảo báo cáo và xin ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc quy định nội dung về trình tự xem xét giải quyết những vấn đề phát sinh giữa 2 kỳ họp Hội đồng nhân dân của Thường trực Hội đồng nhân dân tại Điều 18 của dự thảo Quy chế.
    3. Về việc bầu Ủy viên Ủy ban nhân dân
    Hiện nay có hai loại ý kiến khác nhau:
    - Loại ý kiến thứ nhất cho rằng: Hướng dẫn 1138/HD – UBTVQH13 ngày 03/6/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định một số nội dung về việc tổ chức kỳ họp thứ nhất Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, trong đó có nội dung quy định về việc bầu Ủy viên Ủy ban nhân dân; Điều 8, Điều 9, Điểu 10 Luật Tổ chức chính quyền địa phương, quy định Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân; các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương, nhiệm kỳ Ủy ban nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân. Do đó, sau khi nhân sự được bầu là Ủy viên Ủy ban nhân dân trúng cử mới được Chủ tịch Ủy ban nhân dân ra quyết định bổ nhiệm là người đứng đầu cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân trừ Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách công an, quy định như vậy là phù hợp, tránh hình thức trong việc bầu Ủy viên Ủy ban nhân dân.
    - Loại ý kiến thứ hai cho rằng: Theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương về cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân thì Ủy viên Ủy ban nhân dân là người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân do vậy đề nghị cần bổ nhiệm người đứng đầu cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân trước khi trình Hội đồng nhân dân bầu Ủy viên Ủy ban nhân dân.
    Ban soạn thảo nhận thấy thời hạn giữ chức danh Ủy viên Ủy ban nhân dân là theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân, còn đối với người đứng đầu cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân là bổ nhiệm có thời hạn 5 năm theo quyết định số 27/2003/QĐ – TTg ngày 19/2/2003 của Thủ tướng Chính phủ. Theo Hướng dẫn số 1138/HD – UBTVQH13 khi bắt đầu nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân thì phải phải bầu Ủy viên Ủy ban nhân dân trước khi Chủ tịch Ủy ban nhân dân bổ nhiệm chức danh người đứng đầu cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân. Tuy nhiên có trường hợp chỉ còn dưới 2 năm công tác thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân không thể ra quyết định bổ nhiệm được vì theo quy định tại Khoản 3 Điều 10 Quyết định 27/2003/QĐ-TTg ngày 19/2/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo thì đối với cán bộ, công chức lãnh đạo còn dưới 2 năm công tác trước khi đến tuổi nghỉ hưu, do cấp có thẩm quyền xem xét quyết định kéo dài thời gian giữ chức vụ lãnh đạo đến thời điểm đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định. Do vậy, Ban soạn thảo đề xuất 2 phương án:
    - Phương án 1: Căn cứ vào kết quả bầu của Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện ra quyết định bổ nhiệm Ủy viên Ủy ban nhân dân vào chức danh người đứng đầu cơ quan chuyên môn tương ứng thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp (trừ Ủy viên phụ trách công an và Ủy viên phụ trách quân sự) đối với người còn từ 2 năm công tác trở lên.
    Trường hợp còn dưới 2 năm công tác thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện ban hành quyết định kéo dài thời hạn giữ chức danh người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cho đến khi đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định.
    - Phương án 2: Trước khi được bầu là Ủy viên Ủy ban nhân dân, người được giới thiệu bầu là người đứng đầu cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách công an. Nếu thực hiện theo phương án này thì cần bổ sung quy định trường hợp Hội đồng nhân dân không bầu được người đứng đầu cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân làm Ủy viên Ủy ban nhân dân tại Khoản 3, Điều 17 dự thảo Quy chế.
    Trong quá trình tổ chức xin ý kiến của Thường trực Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố, có 34 ý kiến đồng ý với Phương án 1; có 18 ý kiến lựa chọn Phương án 2.
    Căn cứ ý kiến đề xuất của các địa phương, Ban soạn thảo đề nghị lựa chọn theo theo phương án 1. Phương án này là sự kế thừa Hướng dẫn số 1138/HD – UBTVQH13 ngày 3/6/2018 của Ủy ban thường vụ Quốc và cũng phù hợp với Quy định 105-QĐ/TW ngày 19/12/2017 của Bộ Chính trị về phân cấp quản lý cán bộ và bổ  nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử.
    4. Về công tác thư ký kỳ họp.
    Luật Tổ chức chính quyền địa phương hiện hành không quy định về công tác thư ký kỳ họp Hội đồng nhân dân. Ngày 03/6/2016, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Hướng dẫn số 1138/HD – UBTVQH13 về một số nội dung tại kỳ họp thứ nhất Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021, quy định trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác thư ký được giao cho Văn phòng Hội đồng nhân dân (đối với cấp tỉnh); Văn phòng HĐND và UBND (đối với cấp huyện) và Ủy ban nhân dân cấp xã (đối với cấp xã). Tuy nhiên, Hướng dẫn 1138/HD – UBTVQH13 chỉ áp dụng cho kỳ họp thứ nhất của nhiệm kỳ, không có giá trị pháp lý để áp dụng cho các kỳ họp sau.
    Qua theo dõi thực tế phân công nhiệm vụ thư ký tại một số địa phương cho thấy: có Hội đồng nhân dân phân công đại biểu Hội đồng nhân dân làm công tác thư ký kỳ họp, có Hội đồng nhân dân giao cho Văn phòng Hội đồng nhân dân chịu trách nhiệm trong công tác thư ký kỳ họp. Do vậy, để đảm bảo sự phù hợp đối với Hội đồng nhân dân cả ba cấp, đóng góp vào sự thành công chất lượng, hiệu quả của kỳ họp Hội đồng nhân dân, cũng như bảo đảm để tính chủ động quyết định cho địa phương. Điều 6 của dự thảo Quy chế quy định Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định thành phần, số lượng, danh sách tổ thư ký để phục vụ kỳ họp Hội đồng nhân dân và báo cáo Hội đồng nhân dân tại phiên họp trù bị (nếu có) hoặc tại phiên khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân.
    5. Về việc sử dụng con dấu của Hội đồng nhân dân.
    Theo Nghị định số 99/2016/NĐ – CP của Chính phủ ngày 01/7/2016 về quản lý và sử dụng con dấu thì Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân không có con dấu riêng. Do vậy, Dự thảo Quy chế quy định theo hướng Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân được sử dụng con dấu của Hội đồng nhân dân để xác định tính pháp lý các văn bản do Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân ban hành. Quy định này cũng tương tự với quy định tại Nghị quyết 753/2005/NQ – UBTVQH11, đồng thời cũng phù hợp với quy định về điều kiện sử dụng con dấu quy định tại Điều 5, Nghị định số 99/2016/NĐ – CP.
    Đối với các văn bản do Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân phát hành thì chữ ký của Tổ trưởng, Tổ phó Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân là cơ sở xác nhận tính pháp lý của các hoạt động của Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân.
    *
    *      *
    Trên đây là Tờ trình về Dự thảo Quy chế hướng dẫn tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân. Ban soạn thảo xin kính trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến.
     

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com