Thứ ba, ngày 22/01/2019login
  • (Dự thảo)
    TỜ TRÌNH
    Nghị quyết về Thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ,
    quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội
    tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
     
    Kính gửi: Ủy ban thường vụ Quốc hội
     
    Căn cứ Nghị quyết số 893/NQ-UBTVQH13 ngày 13 tháng 3 năm 2015 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Kế hoạch sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản bảo đảm thi hành Luật Tổ chức Quốc hội, Ban Công tác đại biểu được giao chủ trì soạn thảo “Nghị quyết về thành lập và quy định nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội”. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Ban Công tác đại biểu đã thành lập Ban soạn thảo, Tổ biên tập; tiến hành tổng kết tình hình tổ chức và hoạt động Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân; rà soát các văn bản pháp luật khác có liên quan; tổ chức 1 số hội nghị, hội thảo xin ý kiến của các cơ quan, tổ chức hữu quan để xây dựng Tờ trình, dự thảo Nghị quyết và các báo cáo, tài liệu khác theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Ban Công tác đại biểu đã gửi dự thảo Nghị quyết để xin ý kiến Chính phủ. Ngày 10 tháng 10 năm 2015, Chính phủ đã có văn bản tham gia vào dự thảo Nghị quyết.
    Nay, Ban Công tác đại biểu xin kính trình Ủy ban thường vụ Quốc hội các nội dung chủ yếu như sau:
    I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT
    Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân (sau đây gọi chung là Văn phòng) là cơ quan giúp việc của Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, được thành lập theo Nghị quyết số 545/2007/UBTVQH12 ngày 11/12/2007 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Qua gần 8 năm hoạt động, Văn phòng đã có những đóng góp quan trọng trong công tác tham mưu và tổ chức phục vụ hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Tuy nhiên, xuất phát từ chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội thì cơ quan tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội cũng cần được tổ chức lại để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao các hoạt động của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội.
     Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 đã quy định: “Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội là cơ quan tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của các đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tại địa phương".
    Như vậy, việc Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết về thành lập và quy định nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu, tổ chức của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội để kịp thời triển khai thực hiện Luật tổ chức Quốc hội là cần thiết.
    II. QUAN ĐIỂM, MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
    Việc xây dựng Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về thành lập và quy định nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội cần quán triệt quan điểm, mục đích, yêu cầu sau:
    1. Thể chế hóa chủ trương của Đảng về đổi mới tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội, về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; cụ thể hóa các quy định của Luật tổ chức Quốc hội;
    2. Xây dựng Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội là cơ quan tham mưu, giúp việc và phục vụ cho đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả, thống nhất; khắc phục được những hạn chế, bất cập hiện nay, kế thừa và phát triển những mặt tích cực, ưu điểm quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Văn phòng tham mưu, giúp việc đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội.
    III. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ THẢO NGHỊ QUYẾT
    Dự thảo Nghị quyết gồm 9 điều, quy định về những nội dung cơ bản sau:
    1. Về việc thành lập Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội (Điều 1)
    Quy định việc thành lập Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội trên cơ sở tách Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân hiện nay. Bằng Nghị quyết này, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội sẽ được thành lập ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
    2. Về vị trí và chức năng của Văn phòng (Điều 2)
    Quy định Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội là cơ quan tương đương cấp Sở để tạo điều kiện cho Văn phòng thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong công tác tham mưu, giúp việc, tổ chức phục vụ các hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội trong tình hình mới.
    3. Nhiệm vụ và quyền hạn của Văn phòng (Điều 3)
    Trên cơ sở nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội được quy định trong Luật Tổ chức Quốc hội, Dự thảo Nghị quyết quy định 3 nhóm nhiệm vụ của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, đó là:
    - Nhóm nhiệm vụ tham mưu, tổng hợp giúp cho hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội về: xây dựng pháp luật, giám sát, tiếp xúc cử tri, tiếp công dân và xây dựng chương trình công tác, báo cáo, ...;
    - Nhóm nhiệm vụ đảm bảo điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội về hành chính, tổ chức, quản trị;
    - Nhóm các nhiệm vụ khác của Văn phòng.
    4. Về cơ cấu, tổ chức, biên chế của Văn phòng (Điều 5)
    Dự thảo Nghị quyết được thể hiện theo hướng: Văn phòng có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, hợp lý, đủ điều kiện hoàn thành nhiệm vụ được giao.Về số lượng lãnh đạo Văn phòng có Chánh Văn phòng, 01 Phó Chánh Văn phòng, riêng Văn phòng Đoàn Hà Nội và Đoàn thành phố Hồ Chí Minh có thể có 02 Phó Chánh Văn phòng; trong Văn phòng có 02 phòng chuyên môn; biên chế của Văn phòng nằm trong tổng biên chế công chức của địa phương do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sau khi trao đổi thống nhất với Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội và có 3 mức (không quá 8 người, không quá 10 người, không quá 12 người) theo số lượng đại biểu Quốc hội từng Đoàn.
    5. Về kinh phí hoạt động của Văn phòng (Điều 7)
    Dự thảo Nghị quyết kế thừa quy định ở Nghị quyết số 416/NQ-UBTVQH11 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 11 và Nghị quyết số 545/2007/NQ-UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 12, kinh phí hoạt động của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội được bố trí trong kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội do Văn phòng Quốc hội cấp.
    6. Về hiệu lực thi hành (Điều 9)
    Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày 01/01 /2016 theo Luật tổ chức Quốc hội.
    IV. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XIN Ý KIẾN ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
    Trong quá trình soạn thảo, Ban Công tác đại biểu nhận đã nghiêm túc nghiên cứu, tiếp thu nhiều ý kiến đóng góp để hoàn chỉnh dự thảo Nghị quyết. Đến nay, một số vấn đề còn có ý kiến khác nhau, Ban Công tác đại biểu báo cáo và xin ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
    1. Về tên gọi của Nghị quyết
    Nghị quyết số 893/NQ-UBTVQH13 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Kế hoạch sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản để triển khai thực hiện Luật tổ chức Quốc hội đã đặt tên là Nghị quyết thành lập và quy định nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên, một số ý kiến đề nghị nên bổ sung vào tên gọi từ "chức năng" trước từ “nhiệm vụ”.
    Qua nghiên cứu nhận thấy, thông thường các văn bản về việc thành lập một cơ quan đều quy định về chức năng của cơ quan đó và thể hiện luôn ở tên gọi của văn bản; tên gọi của Nghị quyết số 416 và Nghị quyết số 545 cũng có từ ''chức năng''. Vì vậy, Ban Công tác đại biểu báo cáo, đề nghị tên của Nghị quyết là Nghị quyết thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội.
    2. Về chức năng, nhiệm vụ tham mưu của Văn phòng
    Về vấn đề này có hai loại ý kiến. Đa số ý kiến đề nghị cần quy định chức năng, nhiệm vụ tham mưu của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội;
    Có ý kiến khác đề nghị không nên quy định nội dung tham mưu của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội; chỉ nên quy định Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội là cơ quan giúp việc, phục vụ hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội.
    Ban Công tác đại biểu nhận thấy: vai trò, trách nhiệm tham mưu của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội đã được quy định tại khoản 4, Điều 43 của Luật tổ chức Quốc hội “Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội là cơ quan tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của các đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tại địa phương". Trên thực tế, việc tham mưu của Văn phòng là cần thiết, ngày càng quan trọng trong giai đoạn hiện nay, cần được quy định trong Nghị quyết để Văn phòng có trách nhiệm cao, chủ động hơn trong công tác tham mưu, đề xuất, không chỉ làm công việc phục vụ hoạt động của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội. Vì vậy, dự thảo Nghị quyết xác định chức năng tham mưu của Văn phòng (tại Điều 2), đồng thời quy định cụ thể hơn các nhiệm vụ tham mưu của Văn phòng (tại Điều 3).
    3. Về số phòng, tên gọi và chức năng của phòng thuộc Văn phòng
    Hầu hết ý kiến đều thống nhất Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội có 2 phòng là phù hợp. Về tên gọi của mỗi phòng, có 02 loại ý kiến khác nhau:
    - Loại ý kiến thứ nhất: Văn phòng có Phòng Tổng hợp và Phòng Hành chính - Tổ chức - Quản trị.
    - Loại ý kiến thứ hai: Văn phòng có Phòng Tổng hợp và Phòng Hành chính - Dân nguyện.
    Ban Công tác đại biểu thấy rằng: Nên xây dựng Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội theo phương án 1 là Văn phòng có Phòng Tổng hợp và và Phòng Hành chính - Tổ chức - Quản trị. Trong đó, Phòng Tổng hợp Phòng có trách nhiệm tham mưu, thực hiện các nhóm nhiệm vụ giúp đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tham gia xây dựng dự án Luật, pháp lệnh, nghị quyết; hoạt động giám sát; tiếp xúc cử tri; tiếp công dân và làm công tác tổng hợp, xây dựng chương trình, báo cáo của Đoàn. Phòng Hành chính - tổ chức - quản trị đảm nhiệm nhóm công việc về hành chính, tổ chức, quản trị, tài vụ, lái xe, bảo vệ,...
     4. Về biên chế và số lượng biên chế của Văn phòng
    Dự thảo Nghị quyết quy định: biên chế của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội trong tổng biên chế công chức của địa phương do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sau khi trao đổi thống nhất với Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội quyết định.
    Về số lượng biên chế, hiện có hai loại ý kiến:
    - Loại ý kiến thứ nhất: đề nghị quy định trần biên chế cho các Văn phòng, tránh tình trạng các địa phương tùy nghi quyết định biên chế, không bảo đảm nhất quán chủ trương là xây dựng một Văn phòng tinh gọn, hiệu quả.
    - Loại ý kiến thứ hai: cho rằng không nên quy định số lượng biên chế cụ thể, để địa phương quyết định trong tổng biên chế công chức của địa phương được cấp có thẩm quyền giao.
    Ban Công tác đại biểu cho rằng, việc quy định trần biên chế là cần thiết, tạo sự thống nhất tương đối khi bố trí biên chế ở các địa phương. Căn cứ để đưa ra mức trần biên chế là dựa vào việc xem xét biên chế, số người đang làm việc ở Văn phòng từ Tổng kết tình hình tổ chức, hoạt động của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND hiện nay [1]; đồng thời có nghiên cứu, kế thừa quy định của Nghị quyết số 416 về việc xác định 3 mức biên chế Văn phòng tương ứng với số lượng đại biểu Quốc hội các Đoàn. Dự thảo Nghị quyết quy định: Đoàn đại biểu Quốc hội có dưới 10 đại biểu, biên chế Văn phòng không quá 8 người, Đoàn có từ 10 đến dưới 20 đại biểu, biên chế Văn phòng không quá 10 người; Đoàn có từ 20 đại biểu trở lên, biên chế Văn phòng không quá 12 người.
    5. Về kinh phí hoạt động của Văn phòng
    Hiện đang có hai loại ý kiến khác nhau về vấn đề này:
    - Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, cần quy định: kinh phí hoạt động của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội được bố trí trong kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội.
    - Loại ý kiến thứ hai đề nghị quy định: kinh phí hoạt động thường xuyên của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội do ngân sách địa phương bảo đảm để gắn kết với việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định về biên chế công chức của Văn phòng Đoàn ở địa phương. (Văn bản số 487/CP-TCCV ngày 10 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ).
    Ban Công tác đại biểu thấy rằng: cả hai loại ý kiến trên đều có thể thực hiện trên thực tế, đều có những ưu điểm hay hạn chế nhất định. Tuy nhiên, xem xét một cách toàn diện, Ban đã chọn theo loại ý kiến thứ nhất là: kinh phí hoạt động của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội được bố trí trong kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội với những lý do sau đây:
    - Trên cơ sở quy định của Nghị quyết 416 và Nghị quyết 545: kinh phí hoạt động của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội nằm trong kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, từ lâu Văn phòng Quốc hội vẫn phân bổ kinh phí hoạt động cho Văn phòng Đoàn trong kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội các địa phương, các Văn phòng Đoàn đã tổ chức thực hiện tốt quy định trên, không xảy ra vướng mắc (hiện có 54 tỉnh, thành phố thực hiện mô hình này); đồng thời Văn phòng Quốc hội cũng linh hoạt, cho phép thực hiện mô hình như ý kiến của Chính phủ là kinh phí hoạt động của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội do ngân sách địa phương bảo đảm (có 9/63 tỉnh, thành phố thực hiện mô hình này). Mặt khác, theo Nghị quyết 524 có quy định 1 số chế độ chi đặc thù như chi xây dựng luật, chi ăn trưa,…từ nguồn kinh phí tự chủ; khi kinh phí hoạt động của Văn phòng do ngân sách địa phương bảo đảm thì các chế độ chi này khó thực hiện hoặc thực hiện với mức thấp hơn, sẽ ảnh hưởng đến tâm lý công chức, người lao động của Văn phòng.
    - Luật Ngân sách nhà nước, Luật Kế toán và các văn bản quy phạm pháp luật quy định: 1 cơ quan không mở 2 tài khoản tại Kho bạc, không tổ chức 2 hệ thống kế toán. Mặc dù Đoàn đại biểu Quốc hội và Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội là 2 chủ thể khác nhau nhưng để quản lý kinh phí, quản lý tài sản thì hệ thống kế toán chỉ có 1, do Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội đảm nhận. (Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội là đặc thù, các chi phí của Văn phòng là để phục vụ hoạt động của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội; trụ sở Đoàn cũng chung với trụ sở của Văn phòng,… không thể tách biệt được tài sản hay hạch toán riêng chi cho Văn phòng, chi cho Đoàn đại biểu Quốc hội).
    - Điều 99 của Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 đã quy định: Văn phòng Quốc hội "Chịu trách nhiệm bảo đảm cơ sở vật chất và các điều kiện khác cho hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội".
    6. Về hiệu lực thi hành của Nghị quyết
    Để đảm bảo hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội có ý kiến với Chính phủ kịp thời ban hành Nghị định về thành lập Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cùng có hiệu lực từ ngày 01/01/ 2016.
    Nếu Chính phủ chưa có Nghị định thành lập Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Nghị quyết này cần có điều khoản chuyển tiếp để quy định trách nhiệm các cơ quan ở địa phương, nhất là đối với đồng chí Chánh Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND hiện nay trong việc tổ chức thực hiện tách Văn phòng, bố trí sắp xếp công chức, người lao động, tài chính, tài sản... bảo đảm các hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân không bị ảnh hưởng.
     
    Trên đây là Tờ trình dự thảo Nghị quyết về thành lập và quy định nhiệm vụ quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Ban Công tác đại biểu kính trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến.
     
     
    Nơi nhận:
    - Như trên;
    - UBPL (để thẩm tra);
    - Lãnh đạo Ban CTĐB;
    - Lưu Vụ: CTĐB, HC.
    - E-pas: 
                                                                                                                                                   
     TRƯỞNG BAN
     
     
              
     
     
    Nguyễn Thị Nương

    [1] Số lượng cán bộ chuyên viên trực tiếp phục vụ Đoàn ĐBQH ở địa phương gồm: 01 Chánh Văn phòng hoặc Phó Văn phòng phụ trách công tác ĐBQH; Trưởng phòng, 1-2 Phó Trưởng phòng Công tác ĐBQH; 2 - 4 chuyên viên Phòng công tác ĐBQH;một số công chức làm nhiệm vụ hành chính, quản trị, tài vụ và một số là nhân viên lái xe, tạp vụ…

     

     
THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com