Chủ nhật, ngày 21/09/2014login
  •  

    Hà Nội, tháng 4 năm 2013


    MỤC LỤC

    1. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.. 3

    2. Luật nghĩa vụ quân sự (sửa đổi). 5

    3. Luật cảnh vệ...................... 7

    4. Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo. 9

    5. Nghị quyết của Quốc hội về ban hành một số chính sách thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp  10

    6. Nghị quyết của Quốc hội về miễn thi hành án đối với một số khoản thu cho ngân sách nhà nước không có điều kiện thi hành.......................... 12

    7. Nghị quyết của Quốc hội sửa đổi Điều 170 của Luật doanh nghiệp. 17

    8. Pháp lệnh cảnh sát môi trường. 17

    9. Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 928/2010/UBTVQH10 về việc ban hành biểu mức thuế suất thuế tài nguyên. 20


     

    1. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam

    Kết quả triển khai thực hiện luật sĩ quan

    Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2008. Bộ Quốc phòng đã chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xây dựng và ban hành hệ thống văn bản cụ thể hóa các nội dung của Luật (56 văn bản quy phạm pháp luật), có bư­­ớc đi sát với thực tiễn, cơ bản đáp ứng đư­­ợc yêu cầu xây dựng đội ngũ sĩ quan Quân đội.

    Kết quả tổ chức thực hiện

    a) Cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Quân đội đã chấp hành nghiêm túc việc tổ chức quán triệt, học tập cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng, hạ sĩ quan chiến sĩ rong toàn quân và tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trong nhân dân; xây dựng Quy chế công tác cán bộ đảm bảo công khai dân chủ, tạo được niềm tin và nâng cao trách nhiệm của đội ngũ sĩ quan trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao;

    b) Số lượng sĩ quan cơ bản đủ nhu cầu biên chế theo nhóm, ngành sĩ quan và được đào tạo cơ bản, có trình độ học vấn ngày càng cao, từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại;

    c) Hạn tuổi cao nhất của sĩ quan phục vụ tại ngũ theo cấp bậc quân hàm đã được nâng lên, nên đã khắc phục được tình trạng phải kéo dài, giữ được đội ngũ sĩ quan đã trải qua chiến đấu, có kinh nghiệm trong thực tiễn, sĩ quan làm công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học;

    d) Mối quan hệ giữa cấp bậc quân hàm với chức vụ chỉ huy, quản lý tương đối phù hợp với quá trình tích lũy và đào tạo của sĩ quan; thời hạn xét thăng quân hàm, thăng quân hàm trước thời hạn theo quy định của Luật cũng đã góp phần trẻ hóa đội ngũ sĩ quan;

    đ) Công tác xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng, quản lý đội ngũ sĩ quan dự bị được quan tâm đúng mức, cơ bản đã bổ sung và đáp ứng được một phần tổ chức, biên chế của các đơn vị dự bị động viên;

    e) Chế độ tiền lương cơ bản phù hợp với yêu cầu tổ chức, biên chế và hoạt động đặc thù quân sự, bước đầu phản ánh được trình độ, mức độ phức tạp, tính chất, nhiệm vụ, trách nhiệm của xã hội đối với “ngành lao động đặc biệt”, chế độ khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế cho thân nhân của sĩ quan, chế độ an, bồi dưỡng, quyền lợi của sĩ quan thôi phục vụ tại ngũ đã được quan tâm; chế độ phụ cấp trách nhiệm của sĩ quan dự bị được bảo đảm, tạo điều kiện để sĩ quan dự bị xác định trách nhiệm, hoàn thành nhiệm vụ. 

    Những hạn chế, vướng mắc, bất cập

    Một số điều, khoản của Luật Sĩ quan chưa phù hợp và chưa ban hành được văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành hoặc ban hành chưa đồng bộ, kịp thời và thống nhất, cụ thể: 

    a) Hệ thống cấp bậc quân hàm của sĩ quan (Điều 10);

    b) Chức vụ của sĩ quan (Điều 11);

    c) Tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan (Điều 13);

    d) Cấp bậc quân hàm cao nhất đối với chức vụ của sĩ quan (Điều 15);

    đ) Thăng quân hàm trước thời hạn (Điều 18);

    e) Biệt phái sĩ quan;

    g) Thẩm quyền quyết định đối với sĩ quan;

    h) Đào tạo, bồi dưỡng đối với sĩ quan;

    i) Một số nội dung liên quan đến chính sách (Điều 31);

    k) Bổ nhiệm chức vụ, phong, thăng quân hàm sĩ quan dự bị (Điều 41);

    l) Chưa có nội dung nói về khái niệm chức vụ, quân hàm của sĩ quan; điều động, luân chuyển và chuyển đổi chức danh của sĩ quan. 

     

              Đánh giá tác động sơ bộ

              Với quan điểm chỉ sửa đổi, bổ sung những nội dung đang vướng mắc, bức xúc trong quá trình tổ chức thực hiện và những nội dung do yêu cầu nhiệm vụ mới phát sinh thật cần thiết; sửa đổi, bổ sung để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, đồng thời thể hiện rõ tính đặc thù quân sự trong thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ sĩ quan trong Quân đội; sửa đổi, bổ sung để làm rõ hơn nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền lợi và chính sách đối với sĩ quan Quân đội trong tình hình mới.

              Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam đề nghị được sửa đổi, bổ sung 10/51 Điều, bổ sung một số điều mới, bãi bỏ một số khoản, điểm, từ ngữ ở một số điều cho phù hợp với các quy định của văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; tập trung vào một số nội dung chính về nguồn bổ sung sĩ quan tại ngũ, chức vụ, cấp bậc quân hàm của sĩ quan, chế độ chính sách, sau khi khảo sát và tổ chức hội thảo với các đơn vị trong toàn quân tại các khu vực, lấy ý kiến đại diện các Bộ, ngành tham gia soạn thảo, qua thẩm tra của Uỷ ban Quốc phòng - An ninh của Quốc hội. Cụ thể:

    1. Hệ thống cấp bậc quân hàm của sĩ quan (Điều 10).

    Đề nghị bổ sung bậc quân hàm Chuẩn tướng (Đề đốc Hải quân).

    Vì, hiện nay rất nhiều chức vụ đang có cùng một bậc quân hàm (Hệ thống cấp bậc quân hàm của sĩ quan có 3 cấp, 12 bậc phải bố trí vào hơn 6000 chức danh). Khi có bậc quân hàm Chuẩn tướng (Đề đốc Hải quân) thì số giữ chức vụ chủ trì các sư đoàn, các tỉnh, vùng Cảnh sát biển, các cục và tương đương được bố trí cấp bậc quân hàm chuẩn tướng (Đề đốc Hải quân), sẽ tạo sự cân đối giữa cấp bậc và chức vụ, giảm ùn tắc cấp đại tá, hiện nay cơ quan cấp Bộ: Trợ lý, phó trưởng phòng, trưởng phòng, phó cục trưởng và một số cục trưởng cùng có bậc quân hàm cao nhất là đại tá, mặt khác hợp lý hơn về hệ thống chỉ huy và chính sách đãi ngộ.

    Dự kiến chi phí hết khoảng... tỷ đồng một năm.

    1.     Chức vụ của sĩ quan (Điều 11).

    Đề nghị bổ sung các chức vụ còn lại, nhằm giảm thiểu số chức vụ tương đương, để khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong việc quy định bậc quân hàm cho các chức vụ tương đương và vận dụng trong xét đề bạt quân hàm hằng năm.

    3. Tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan (Điều 13).

    Đề nghị nghiên cứu nâng độ tuổi của sĩ quan nữ có bậc quân hàm đại tá và cấp tướng bằng tuổi của sĩ quan nam.

    Dự kiến chi phí hết khoảng... tỷ đồng một năm.

    4. Cấp bậc quân hàm cao nhất đối với chức vụ của sĩ quan (Điều 15).

    Đề nghị điều chỉnh một số chức vụ tại khoản 1 và nghiên cứu đối tượng tại khoản 3 chỉ được hưởng đãi ngộ về vật chất thay cho việc được thăng quân hàm cao hơn một bậc rất khó triển khai thực hiện và không phù hợp về chính sách đãi ngộ;

    Dự kiến chi phí hết khoảng... tỷ đồng một năm.

    5. Thăng quân hàm trước thời hạn (Điều 18).

    Đề nghị:

    - Quy định cho mọi sĩ quan nếu có thành tích xuất sắc trong chiến đấu, công tác, học tập, nghiên cứu khoa học được khen thưởng thì được xét thăng quân hàm trước hạn; còn ở mức khen thưởng nào thì tùy theo từng công việc và từng thời điểm để xem xét cho phù hợp;

    - Quy định cho sĩ quan giữ chức vụ chỉ huy, quản lý nếu hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ thì phải có bậc quân hàm hiện tại thấp hơn 2 bậc so với bậc quân hàm cao nhất quy định đối với chức vụ đang đảm nhiệm thì được xem xét, như vậy sẽ phù hợp và thể hiện quân hàm tương xứng với chức vụ chỉ huy, quản lý.

    Dự kiến chi phí hết khoảng... tỷ đồng một năm.

    6. Một số nội dung liên quan đến chính sách (Điều 31).

    Đề nghị quy định rõ chế độ tiền lương chủ yếu theo lương chức vụ và một phần lương quân hàm; quy định rõ chế độ bảo đảm nhà ở đối với sĩ quan, để đảm bảo công bằng và khuyến khích đội ngũ sĩ quan;

    Dự kiến chi phí hết khoảng... tỷ đồng một năm.

    7. Bổ nhịêm chức vụ, phong, thăng quân hàm sĩ quan dự bị (Điều 41).

    Đề nghị bổ sung thêm nội dung về phong quân hàm sĩ quan dự bị cho đối tượng đào tạo chỉ huy trưởng quân sự xã, phường, thị trấn, vì trong thời gian qua đã triển khai hực hiện.

    8. Bổ sung vào Luật một số điều:

    - Khái niệm về chức vụ và quân hàm, để khẳng định rõ hơn vị thế của chức vụ và quân hàm trong Quân đội nhân dân Việt Nam;

    - Quy định hạn tuổi cao nhất của sĩ quan giữ chức vụ chỉ huy, quản lý;

    - Về luân chuyển và chuyển đổi công tác, vì trong thời gian vừa qua Bộ Chính trị có Nghị quyết về việc luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý (Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 25 tháng 01 năm 2002); Chính phủ có Nghị định quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức (Nghị định số 158/2007/NĐ-CP  ngày 27 tháng 10 năm 2007) và xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của công tác cán bộ đặt ra cần phải được đưa vào Luật về nội dung luân chuyển và chuyển đổi vị trí công tác của sĩ quan để việc triển khai thực hiện được thuận lợi.

              Tóm lại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam cơ bản sẽ cập nhật được những vấn đề mới, giải quyết được những vấn đề bức xúc, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện; Luật Sĩ quan có sự điều chỉnh, bổ sung để phù hợp và nhất quán với các văn bản luật hiện hành, nhưng vẫn thể hiện được tính đặc thù trong tổ chức, xây dựng và thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ sĩ quan Quân đội; đã cụ thể hoá được các chế độ chính sách, quyền lợi cũng như trách nhiệm của sĩ quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới và phù hợp với nền kinh tế đất nước, cũng như xu hướng phát triển chung. 

              Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được Quốc hội thông qua, khi tổ chức triển khai thực hiện, ngân sách nhà nước chi phí hết khoảng… tỷ đồng trong một năm; tuy nhiên, sẽ có tác động tích cực, tạo ra bước tiến mới trong việc xây dựng đội ngũ sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, là lực lượng nòng cốt để xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lư­ợc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

    2. Luật nghĩa vụ quân sự (sửa đổi)

    Vấn đề cần giải quyết và mục tiêu

              1. Vấn đề cần giải quyết

    Luật Nghĩa vụ quân sự được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá V thông qua tại kỳ họp thứ hai ngày 30 tháng 12 năm 1981, đã được sửa đổi, bổ sung ba lần (năm 1990, năm 1994 và năm 2005), hiện nay đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại và yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Cụ thể:

    - Một số nội dung của Luật Nghĩa vụ quân sự hiện hành không còn phù hợp với hệ thống pháp luật của Nhà nước đang từng bước được hoàn thiện đáp ứng với thực tiễn cuộc sống và sự phát triển của xã hội trong công cuộc đổi mới, ảnh hưởng đến tính thống nhất của pháp luật, tạo kẽ hở phát sinh những tiêu cực trong quá trình triển khai thực hiện, gây khó khăn cho địa phương, cơ sở. Các địa phương vùng sâu, vùng xa, thành phố, thị xã đông dân cư việc đăng ký, quản lý chưa hết đối tượng nên có ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân cũng như chính sách công bằng xã hội. Chế tài xử phạt đối với hành vi vi phạm chưa đủ mạnh, tính giáo dục và răn đe chưa cao.

    - Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan, binh sĩ được quy định là mười tám tháng; thời gian phục vụ ngắn phải tổ chức gọi công dân nhập ngũ một năm hai đợt, ảnh hưởng tới nhiệm vụ của các địa phương và đơn vị Quân đội. Mặt khác, thời gian phục vụ của hạ sĩ quan, binh sĩ ngắn đã ảnh hưởng đến chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của Quân đội, nhất là các đơn vị quân chủng, binh chủng; chưa đáp ứng được mục tiêu yêu cầu xây dựng Quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.  

    - Đối tượng tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình quá rộng, công dân được tạm hoãn gọi nhập ngũ hàng năm chiếm tỷ lệ cao so với tổng số công dân trong độ tuổi sẵn sàng nhập ngũ, gây khó khăn cho các địa phương trong quá trình xét gọi nhập ngũ. Mặt khác, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân hiện nay phát triển rất đa dạng với nhiều loại hình đào tạo và nhiều ngành nghề đào tạo chỉ thực hiện xét tuyển (không thi tuyển), nên số lượng công dân tham gia học tập ngày càng tăng đã ảnh hưởng tới chất lượng tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ hàng năm.  

    - Việc quy định quân nhân chuyên nghiệp có thể phục vụ tại ngũ từng thời hạn hoặc dài hạn đến 50 tuổi, đến nay không còn phù hợp với yêu cầu xây dựng Quân đội và các văn bản luật khác. Tuổi phục vụ tại ngũ của quân nhân chuyên nghiệp thấp hơn so với sĩ quan có cùng cấp bậc quân hàm là không phù hợp, gây tốn kém trong đào tạo, chưa tận dụng hết khả năng của quân nhân chuyên nghiệp nhất là ở các quân chủng, binh chủng và đơn vị kỹ thuật của Quân đội.

    - Luật Nghĩa vụ quân sự hiện hành được ban hành từ năm 1981, đã được sửa đổi, bổ sung ba lần, nên hình thức, bố cục văn bản không còn phù hợp với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.

    Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, đảm bảo thống nhất với quy định của pháp luật hiện hành về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thuận lợi trong việc áp dụng; cần thiết phải ban hành Luật Nghĩa vụ quân sự (sửa đổi), thay thế Luật Nghĩa vụ quân sự hiện hành.

    2. Mục tiêu chính sách

    - Tạo nguồn lực để nâng cao chất lượng xây dựng lực lượng thường trực, lực lượng dự bị động viên góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    - Bảo đảm cơ sở pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân; các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến chế độ nghĩa vụ quân sự và các cơ quan chức năng trong quản lý nhà nước đối với việc thực hiện quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc của công dân.

    - Đảm bảo tính thống nhất với quy định của hệ thống pháp luật; hình thức, thể thức theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.

    - Quy định quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự; trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến nghĩa vụ quân sự; góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, xây dựng Nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

    Phương án giải quyết

    1. Phương án thứ nhất

    Xây dựng Luật Nghĩa vụ quân sự (sửa đổi) thay thế Luật hiện hành, vì Luật Nghĩa vụ quân sự năm 1981 đã sửa đổi 03 lần (Luật có 73 điều, đã sửa đổi, bổ sung 31 điều, sửa từ ngữ ở 25 điều khác; trong đó có 06 điều đã sửa đổi, bổ sung hai và ba lần, bãi bỏ 02 điều), thể thức, kỹ thuật trình bày không phù hợp với quy định, khó tra cứu, áp dụng; đã bộc lộ những hạn chế, bất cập so với yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Ưu điểm của phương án này là khắc phục được những hạn chế, bất cập, bảo đảm tính khả thi của pháp luật, phù hợp với quy định của Hiến pháp và đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; đồng thời, tạo điều kiện thuận tiện trong thực hiện công dân thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về nghĩa vụ quân sự, các cơ quan chức năng thực hiện quản lý nhà nước đối với nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc của công dân. Tuy nhiên, để nghiên cứu, xây dựng toàn bộ dự án Luật sẽ cần đầu tư nhiều thời gian và công sức hơn.

    2. Phương án thứ hai

    Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nghĩa vụ quân sự hiện hành như thời hạn phục vụ tại ngũ, chế độ chính sách đối với hạ sĩ quan, binh sĩ; chế độ phục vụ của quân nhân chuyên nghiệp; việc thực hiện đăng ký nghĩa vụ quân sự của công dân; việc hoãn gọi nhập ngũ, miễn làm nghĩa vụ quân sự; xử lý các hành vi vi phạm Luật Nghĩa vụ quân sự. Ưu điểm của phương án này không nhiều, bởi nội dung cần sửa đổi liên quan đến khá nhiều chương, điều. Nhược điểm của phương án này, nếu tiếp tục sửa đổi, bổ sung lần thứ tư sẽ có nhiều nội dung được sửa đổi nhiều lần, nhưng vẫn thiếu đồng bộ, khó nghiên cứu, áp dụng thực hiện; mặt khác quy trình sửa đổi, bổ sung Luật vẫn phải triến hành theo trình tự các bước như xây dựng Luật mới.

    Lựa chọn phương án: Bộ Quốc phòng đề nghị lựa chọn phương án thứ nhất trong xây dựng Dự án Luật.

    Đánh giá tác động

    Khi Luật được xây dựng, ban hành sẽ hoàn thiện cơ sở pháp lý về quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc của công dân theo quy định của Hiến pháp; tạo nguồn lực cho việc xây dựng Quân đội; nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân đặc biệt là trách nhiệm của công dân trong việc thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự; góp phần xây dựng Quân đội đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

    Luật cập nhật những vấn đề mới, giải quyết những vấn đề bức xúc, vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật hiện hành; có điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với quy định của Hiến pháp và đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; đồng thời cụ thể hoá các chế độ, chính sách, quyền lợi cũng như trách nhiệm của công dân; đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và bảo đảm chính sách công bằng xã hội.

    Luật mới được ban hành sẽ cơ bản đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng lực lượng thường trực, lực lượng dự bị động viên góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Kết luận

    Xuất phát từ những nội dung đánh giá tác động sơ bộ nêu trên, việc xây dựng, ban hành Luật Nghĩa vụ quân sự mới thay thế Luật Nghĩa vụ quân sự hiện hành là hết sức cần thiết./.

    3. Luật cảnh vệ

    Các vấn đề tổng thể cần giải quyết

    Ngày 02 tháng 4 năm 2005, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Pháp lệnh Cảnh vệ, đây là văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước quy định về lĩnh vực cảnh vệ. Pháp lệnh Cảnh vệ được ban hành trong thời điểm đó là phù hợp với tình hình an ninh chính trị của đất nước ta, đã phát huy hiệu lực và hiệu quả của công tác cảnh vệ, tạo điều kiện thuận lời để lực lượng Cảnh vệ thực hiện tốt nhiệm vụ được giao; góp phần to lớn vào sự nghiệp bảo vệ Đảng, Nhà nước cũng như công tác đảm bảo an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

    Tuy nhiên, qua 7 năm thực hiện Pháp lệnh Cảnh vệ, cho thấy:

    Việc quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và công dân trong Pháp lệnh Cảnh vệ còn mang tính chung chung; những quy định cụ thể lại được thể hiện tại Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Cảnh vệ (là văn bản mật, không được phổ biến rộng rãi) cho nên chưa phát huy hết sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong việc tham gia thực hiện công tác cảnh vệ.

    Pháp lệnh Cảnh vệ chưa quy định cụ thể về chế độ, chính sách của Nhà nước đối với những cơ quan, tổ chức, cá nhân bị thương tích, tổn hại về sức khỏe hoặc bị thiệt hại về tính mạng, tài sản trong khi tham gia thực hiện công tác cảnh vệ cho nên chưa tạo được động lực để khuyến khích tinh thần trách nhiệm của mọi tổ chức và cá nhân đối với công tác quan trọng này.

    Đặc biệt, trước bối cảnh tình hình an ninh chính trị trên thế giới, khu vực đang diễn biến phức tạp khó lượng, các cuộc khủng bố quốc tế và những vụ sát hại lãnh đạo chủ chốt của các quốc gia ngày càng gia tăng. Ở trong nước, tình hình an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội đang tiềm ẩn những nguy cơ bất ổn có ảnh hưởng xấu tới sự an toàn của các đối tượng cảnh vệ, đòi hỏi cần sớm ban hành Luật Cảnh vệ để nhanh chóng khắc phục những quy định còn bất cập trong Pháp lệnh Cảnh vệ, đồng thời thể chế hóa một số chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với lĩnh vực cảnh vệ, nhằm nâng cao hiệu quả công tác cảnh vệ, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới hiện nay.

    Mục tiêu cần đạt được

    - Quán triệt và cụ thể hóa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về công tác bảo đảm an toàn cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, phù hợp với chủ trương cải cách hành chính, tiến trình hội nhập, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

    - Việc xây dựng Luật Cảnh vệ phải tạo ra được cơ sở pháp lý phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ thực tiễn của công tác cảnh vệ hiện nay và những năm tiếp theo, nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối các cơ quan trọng yếu, cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và các đối tượng Cảnh vệ khác trong mọi tình huống.

    - Việc xây dựng Luật Cảnh vệ được tiến hành trên cơ sở tổng kết thực tiễn trong những năm qua; kế thừa các quy định còn phù hợp, khắc phụ những tồn tại, bất cập, hạn chế; đáp ứng yêu cầu của công tác Cảnh vệ.

    - Tham khảo có chọn lọc pháp luật về Cảnh vệ của một số nước phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

    Phương án có thể giải quyết vấn đề

    Ban hành Luật Cảnh vệ thay thế Pháp lệnh Cảnh vệ số 25/2005/PL-UBTVQH11 ngày 02-4-2005.

    Dự án Luật Cảnh vệ được xây dựng trên cơ sở kế thừa hợp lý các quy định hiện hành về công tác cảnh vệ, đồng thời quy định rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, công dân; quy định cụ thể về chế độ, chính sách của Nhà nước đối với những cơ quan, tổ chức, cá nhân bị thương tích, tổn hại về sức khỏe, thiệt hại về tính mạng, tài sản trong khi tham gia thực hiện công tác cảnh vệ.

    Luật Cảnh vệ quy định về đối tượng cảnh vệ, biện pháp và chế độ cảnh vệ; lực lượng Cảnh vệ; nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng cảnh vệ; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, công dân trong công tác cảnh vệ.

    Luật Cảnh vệ áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cá nhân, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế cư trú hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

    Đánh giá tác động của phương án

    a) Nội dung cơ bản của Luật Cảnh vệ

    - Những quy định chung

    - Đối tượng cảnh vệ

    - Biện pháp và chế độ cảnh vệ

    - Quyền và nghĩa vụ của đối tượng cảnh vệ

    - Lực lượng cảnh vệ

    - Tiêu chuẩn tuyển chọn người vào lực lượng cảnh vệ

    - Xây dựng lực lượng cảnh vệ

    - Nhiệm vụ của lực lượng cảnh vệ

    - Quyền hạn của lực lượng cảnh vệ

    - Trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ

    - Chế độ chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ.

    - Điều khoản thi hành.

    b) Đánh giá tác động sơ bộ của dự án Luật Cảnh vệ

    - Luật Cảnh vệ được ban hành góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý hành chính nhà nước về công tác cảnh vệ, tạo thuận lợi cho mối quan hệ phối hợp giữa các lực lượng, góp phần bảo vệ tuyệt đối an toàn đối tượng cảnh vệ.

    - Luật Cảnh vệ được ban hành tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng Cảnh vệ thực thi nhiệm vụ; đồng thời thể chế hóa những chủ trương, chính sách của Đảng tạo ra một khung pháp lý hoàn chỉnh về công tác cảnh vệ, góp phần thiết thực vào việc bảo vệ an toàn tuyệt đối cho các cơ quan trọng yếu, các cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước trong mọi tình huống, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    4. Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo

    a) Các phương án để lựa chọn:

    - Phương án 1A: Giữ nguyên hiện trạng (không sửa Pháp lệnh).

    - Phương án 1B:  Không sửa Pháp lệnh nhưng sửa Nghị định và ban hành thêm Nghị định mới để hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo.

    - Phương án 1C: Sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo.

    b) Đánh giá tác động của các phương án

    - Tác động của phương án 1A: Không can thiệp (giữ nguyên tình trạng hiện nay và không sửa Pháp lệnh).

    Như vậy, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo không thay đổi sẽ vẫn tồn tại những quy định chưa rõ ràng, thiếu cụ thể; không khắc phục được những bất cập trong quy định hiện hành dẫn đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước không cao, một số quy định của Pháp lệnh không phù hợp với đời sống tôn giáo dẫn đến chưa phát huy được sức mạnh toàn dân tộc, chưa phát huy được sự đoàn kết giữa các tổ chức tôn giáo trong việc cùng nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội; chưa thu hút được người nước ngoài có đạo vào Việt Nam làm ăn sinh sống; gây khó khăn, lúng túng cho cơ quan nhà nước khi thực hiện các quy định của Pháp lệnh về cấp đăng ký hoạt động tôn giáo và công nhận tổ chức tôn giáo.

    - Tác động của phương án 1B

    Sửa đổi và ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh, đây không phải là phương án tối ưu, bởi vì những nội dung đang đặt ra trong quá trình thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo và văn bản hướng dẫn thi hành thì chủ yếu ở trong Pháp lệnh, nếu ban hành Nghị định để hướng dẫn những nội dung mà Pháp lệnh không quy định sẽ trái luật, không bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của việc xây dựng pháp luật.

    - Tác động của phương án 1C: Sửa đổi bổ sung Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo

    Khi dự án Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành thì sẽ có những tác động cơ bản sau đây:

    + Tác động tích cực:

    Thể chế hóa được quan điểm của Đảng về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; khẳng định văn hóa, đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy những giá trị tốt đẹp tiềm tàng trong tôn giáo, phát huy hơn nữa mặt tích cực, những điểm tương đồng của tôn giáo với chủ nghĩa xã hội, truyền thống yêu nước của đồng bào tín đồ các tôn giáo, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

    Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo tôn giáo bằng pháp luật, các tôn giáo phải hoạt động tuân thủ pháp luật. Tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo phải phân biệt được giữa tín ngưỡng tôn giáo lành mạnh, chân chính và lợi dụng tôn giáo.

    Tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, cụ thể cho công tác quản lý nhà nước trong việc thực hiện các nội dung về cấp đăng ký, công nhận tổ chức tôn giáo; sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam và khuyến khích tổ chức, cá nhân tôn giáo trong việc cùng Nhà nước tham gia giải quyết các vấn đề xã hội.

    Khắc phục, sửa đổi một số quy định không còn phù hợp với thực tế của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay là góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước.

    Tạo tâm lí phấn khởi tin tưởng vào chủ chương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước của đồng bào có đạo, yên tâm lao động sản xuất, sống tốt đời đẹp đạo.

    Góp phần đấu tranh trên mặt trận ngoại giao về những vấn đề có liên quan đến tôn giáo, nhân quyền.

    + Tác động tiêu cực:

    Việc triển khai xây dựng Pháp lệnh và thực thi Pháp lệnh sẽ làm tăng chi phí ngân sách nhà nước, các chi phí này bao gồm:

    Chi phí cho việc nghiên cứu, tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm chính sách pháp luật về tôn giáo của một số nước trên thế  giới và khu vực.

    Chi phí trong soạn thảo và thực hiện các văn bản quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh; chi phí cho việc theo dõi, đánh giá hàng năm việc thi hành Pháp lệnh.

    Chi phí tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý nhà nước và chức sắc, nhà tu hành, tín đồ tôn giáo về công tác tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Chi phí đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý đối với cán bộ quản lý nhà nước về tôn giáo.

    Tuy nhiên, nhiều khoản chi phí chỉ phát sinh trong năm đầu khi bắt đầu thực hiện và sẽ giảm trong các năm tiếp theo.

    c) Kết luận và kiến nghị

    - So sánh tác động ảnh hưởng về mặt chi phí - lợi ích giữa phương án sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo với 2 phương án khác (1A, 1B) là giữ nguyên thực trạng hoặc can thiệp bằng giải pháp mà không sửa Pháp lệnh, Bộ Nội vụ nhận thấy việc lựa chọn phương án 1C là cần thiết và tối ưu nhất.

    5. Nghị quyết của Quốc hội về ban hành một số chính sách thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp

    a) Các phương án để lựa chọn:

    - Phương án 1A: Giữ nguyên hiện trạng (không ban hành Nghị quyết).

    - Phương án 1B:  ban hành Nghị quyết.

    b) Đánh giá tác động của các phương án

    - Tác động của phương án 1A: Giữ nguyên hiện trạng (không ban hành Nghị quyết).

    Nếu theo Phương án này thì sẽ không giải quyết được những khó khăn cho doanh nghiệp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.

    - Phương án 1B:  ban hành Nghị quyết.

    Việc ban hành một số chính sách ưu đãi thuế cho doanh nghiệp năm 2013 nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, ổn định sản xuất kinh doanh, ổn định đời sống người lao động, trên cơ sở đảm bảo 05 nguyên tắc:

    Thứ nhất, theo nguyên tắc thị trường, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, không làm lạm phát tăng trở lại; tạo môi trường đầu tư thuận lợi, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường cả trong nước và quốc tế. 

    Thứ hai, hỗ trợ đúng đối tượng, đúng địa chỉ, đúng mục tiêu và kịp thời theo mức độ khó khăn của doanh nghiệp; tuân thủ quy định của pháp luật và các cam kết quốc tế.

    Thứ ba, đảm bảo khả năng cân đối ngân sách; ưu tiên lựa chọn những giải pháp có hiệu quả, có tác động lớn đến hỗ trợ vốn và thanh khoản cho doanh nghiệp nhưng không tác động nhiều đến cân đối ngân sách (khả năng thu ngân sách dự báo còn gặp nhiều khó khăn).

    Thứ tư, phối hợp tốt với việc điều hành chính sách tiền tệ, từng bước hạ lãi suất cho vay và nâng cao khả năng hấp thụ vốn tín dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp.

    Thứ năm, thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp và cơ cấu lại sản xuất kinh doanh, cũng như quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, sắp xếp lại ngành hàng phù hợp với lợi thế cạnh tranh và phù hợp với quy hoạch phát triển ngành.

    Đối tượng, phạm vi điều chỉnh và nội dung của dự án NQ:

    Triển khai Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ, dự án Nghị quyết của Quốc hội quy định cụ thể các nội dung sau:

    Về thuế TNDN

    - Quy định thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 20% áp dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2013 đối với doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ (sử dụng dưới 200 laođộng làm việc toàn bộ thời gian và có doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng).

    - Quy định thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% áp dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2013 đối với thu nhập từ đầu tư - kinh doanh nhà ở xã hội, trong đó nhà ở xã hội được xác định theo quy định của pháp luật về nhà ở.

    - Quy định ưu đãi thuế đối với đầu tư mở rộng lắp đặt dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ sản xuất thuộc lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn ưu đãi theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp để áp dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2013. Thời gian miễn, giảm thuế áp dụng đối với đầu tư mở rộng bằng với thời gian miễn thuế, giảm thuế áp dụng đối với doanh nghiệp thành lập mới cùng địa bàn, lĩnh vực ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

    Về thuế GTGT

    - Giảm 50% số thuế giá trị gia tăng đầu ra từ ngày 01 tháng 7 năm 2013 đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2014 đối với hoạt động đầu tư - kinh doanh (bán, cho thuê, cho thuê mua) nhà ở xã hội.

    - Giảm 30% số thuế giá trị gia tăngđầu ra từ ngày 01 tháng 7 năm 2013 đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2014 đối với hoạt động đầu tư - kinh doanh (bán, cho thuê, cho thuê mua) nhà ở là căn hộ có diện tích sàn dưới 70 m2 và có giá bán dưới 15 triệu đồng/m2.

    Các điều kiện, biện pháp triển khai thi hành Nghị quyết:

    Bối cảnh kinh tế vĩ mô dự báo sẽ còn có những thách thức, còn tiềm ẩn một số yếu tố có thể tiếp tục gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh trong nước. Để kịp thời triển khai thực hiện Dự án Nghị quyết của Quốc hội, đảm bảo các biện pháp miễn, giảm thuế đề xuất được thực hiện hiệu quả và đúng đối tượng, Chính phủ sẽ chỉ đạo các Bộ, ngành có liên quan phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương để tăng cường tuyên truyền, phổ biến chính sách cùng với việc tổ chức thực hiện có hiệu quả các giải pháp, đảm bảo công khai minh bạch; quản lý, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết; kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn và tổ chức thực hiện, đảm bảo chính sách sớm đi vào cuộc sống.

    Đồng thời, để khắc phục và bù đắp được các tác động đến thu ngân sách nhà nước cũng như đảm bảo sự chủ động trong điều hành dự toán ngân sách nhà nước năm 2013 theo Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ sẽ chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp như:

    - Tập trung thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh; tiếp tục đẩy mạnh đơn giản hóa thủ tục hành chính về thuế, hải quan để tạo thuận lợi và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp;

    - Quản lý chặt chẽ nguồn thu để thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thu phát sinh; tăng cường công tác quản lý về thuế và hải quan; kiểm tra các trường hợp miễn, giảm, hoàn thuế; đôn đốc, thu hồi nợ cũ, hạn chế phát sinh nợ thuế mới, ngăn chặn tình trạng chuyển giá, trốn, lậu thuế....;

    - Chủ động trong công tác điều hành huy động vốn để đảm bảo nguồn trong những thời điểm ngân sách nhà nước bị giảm nguồn do thực hiện gia hạn thời hạn nộp thuế. Đồng thời, ngân sách trung ương chủ động điều tiết cho những địa phương có khó khăn về nguồn do thực hiện các chính sách miễn, giảm thuế.

    Kiến nghị lựa chọn Phương án 1B.

    6. Nghị quyết của Quốc hội về miễn thi hành án đối với một số khoản thu cho ngân sách nhà nước không có điều kiện thi hành

    I. Xác định vấn đề tổng quan

    1.1 Bối cảnh xây dựng Nghị quyết

    Theo thống kê của các cơ quan Thi hành án dân sự tính đến ngày 01/7/2009, cả nước còn gần 48 nghìn việc tương ứng với số tiền phải thu cho ngân sách nhà nước không có điều kiện thi hành khoảng gần 700 tỷ đồng, trong đó: án phí trên: 92 tỷ đồng; tiền phạt trên: 368 tỷ đồng; tiền, tài sản tịch thu trên: 227 tỷ đồng. Đối với các loại việc tồn đọng này, mặc dù Chấp hành viên cơ quan Thi hành án dân sự đã tích cực áp dụng mọi biện pháp cần thiết, thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật để đôn đốc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ theo đúng nội dung bản án, quyết định, kể cả thực hiện các biện pháp xét giảm, miễn thi hành án đối với các khoản thu cho ngân sách nhà nước, nhưng cho đến thời điểm hiện tại vẫn không thể thi hành được. Thực trạng này ảnh hưởng đến hiệu lực xét xử của Tòa án và sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời có nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có những nguyên nhân không thể khắc phục được, nếu không có cơ chế thích hợp.

    Để giải quyết được thực trạng này, Chính phủ, Quốc hội đã ban hành  nhiều chính sách để giải quyết như: thực hiện việc miễn, giảm thi hành án dân sự đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước; xã hội hóa một số hoạt động thi hành án dân sự; mở rộng phạm vi kê biên đối với tài sản thuộc sở hữu của người phải thi hành án....Tuy nhiên, vấn đề cũng vẫn chưa được giải quyết một cách triệt để. Do đó, việc xây dựng Nghị quyết của Quốc hội về việc miễn thi hành án đối với một số khoản thu cho ngân sách nhà nước không có điều kiện thi hành nhằm tạo lập cơ chế để giải quyết những vướng mắc trên là cần thiết.

    1.2 Mục tiêu của Nghị quyết

    Cho miễn thi hành đối với một số khoản thu cho ngân sách nhà nước không có điều kiện thi hành tồn đọng trước đây nhằm tiết kiệm kinh phí, nhân lực theo dõi, xác minh đối với những việc này, tạo điều kiện cho cơ quan Thi hành án dân sự tập trung nhân lực, cơ sở vật chất cho việc tổ chức thi hành số việc phát sinh mới hàng năm đang ngày càng tăng và thực hiện nhiệm vụ đôn đốc thi hành án hành chính mới được Quốc hội giao; giảm sự bức xúc của dư luận xã hội đối với công tác thi hành án dân sự.

    II. Phân tích chi phí - lợi ích cho phương án lựa chọn

    2.1. Chi phi cho phương án lựa chọn

    Miễn thi hành án đối với một số khoản thu cho ngân sách nhà nước không có điều kiện thi hành, cơ quan Thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án trước ngày 01/7/2009 vì lý do khách quan, bao gồm: người phải thi hành án không có tài sản; không xác định được nơi cư trú của người phải thi hành án; doanh nghiệp, hợp tác xã phải thi hành án đã ngừng hoạt động nhưng không xác định được địa chỉ của doanh nghiệp và người nhận chuyển giao quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp đó; người phải thi hành án là người nước ngoài đã xuất cảnh, không có tài sản ở Việt Nam để thi hành án và các trường hợp người phải thi hành án đã được miễn chấp hành hình phạt theo Nghị quyết số 33/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội về thi hành Bộ luật Hình sự Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2009.

    Việc thực hiện như đề xuất của Nghị quyết sẽ làm phát sinh những chi phí sau:

    2.1.1. Chi phí đối với Nhà nước (Cơ quan Thi hành án dân sự, Tòa án, Viện Kiểm sát):

    - Chi phí lập danh sách, hồ sơ miễn thi hành án:

    Cơ quan Thi hành án dân sự phải tiến hành rà soát, phân loại các vụ việc đang được tổ chức thi hành để xác định những vụ việc thuộc diện được miễn thi hành án. Tuy nhiên, trên thực tế, việc rà soát và phân loại này về cơ bản đã được cơ quan thi hành án dân sự các cấp thực hiện trong quá trình xây dựng Nghị quyết. Do đó, chi phí này sẽ không phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết.

    - Chi phí gửi danh sách kèm theo hồ sơ từng vụ việc đề nghị miễn thi hành án để Tòa án nhân dân cùng cấp xét miễn thi hành án:

    47.834 việc x 400 đồng/việc[1] = 19.133.600 đồng (1)

    - Chi phí tổ chức phiên họp xét miễn thi hành án

    47.834 việc x ½ ngày x 4 người (gồm có đại diện Viện kiểm sát cùng cấp, đại diện cơ quan Thi hành án dân sự đã đề nghị xét miễn và thẩm phán  chủ trì cuộc họp, thư ký cuộc họp) = 95.668 ngày công[2] (2)

    - Chi phí về văn phòng phẩm trong quá trình giải quyết vụ việc:

    Chi phí giấy viết: 47.384 việc x 5 tờ giấy (Danh sách vụ việc, Hồ sơ vụ việc, Quyết định miễn thi hành án, Biên bản họp, …) = 236.920 tờ giấy A4 (khoảng gần 500 gam giấy A4 500 trang loại giấy Bãi Bằng), tính 55.000/gam, thì tổng cộng số tiền mua cho giấy viết là 500 gam x 55.000/gam (giấy Bãi bằng) = 27.500.000 đồng (3)

    Chi phí mực in: một hộp mực thông thường in được khoảng 1.500 trang giấy (khoảng 3 gam giấy), do đó để in hết 500 gam giấy cần khoảng  170 hộp mực in x 200.000đ/hộp = 34.000.000 đồng (4)

    - Chi phí gửi Quyết định miễn thi hành án, Quyết định không chấp nhận miễn thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự, Viện kiểm sát nhân dân:

    47.834 việc x 400 đồng/việc x 2 (gửi đến 02 địa chỉ) = 38.267.200 đồng (5)

    Cộng các khoản chi phí trên ta có:

    Chi phí về tiền: 19.133.600 đồng (1) + 27.500.000 đồng (3) + 34.000.000 đồng (4) + 38.267.200 đồng (5) = 118.900.800 đồng

    Chi phí về nhân công: 95.668 ngày công (2)

    Như vậy, tổng chi phí về phía Nhà nước sẽ phát sinh khi thực hiện như đề xuất của Nghị quyết sẽ là 118.900.800 đồng và 95.668 ngày công lao động.

    2.1.2. Chi phí đối với doanh nghiệp và người dân: Không có

    2.1.3. Chi phí khác:

    Việc cho miễn thi hành đối với các khoản thu cho ngân sách nhà nước cũng làm cho Nhà nước sẽ mất đi một khoản thu cho ngân sách. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành án dân sự những năm qua cho thấy đây là những khoản không thể thu được tồn đọng từ năm này qua năm khác, nếu không miễn cũng không thể thi hành được.

    2.2. Lợi ích cho phương án lựa chọn

    2.2.1. Lợi ích về kinh tế

    * Lợi ích đối với Nhà nước

    Miễn thi hành án đối với một số khoản thu cho ngân sách Nhà nước không không có điều kiện thi hành sẽ tiết kiệm được những khoản sau:

    Thứ nhất, về chi phí lương và ngày công đi xác minh hàng năm nếu vẫn giữ những việc thi hành các khoản thu cho ngân sách nhà nước không thể thi hành được.

    Theo quy định tại Khoản 1, Điều 44, điểm a, Khoản 2 Điều 73 Luật Thi hành án dân sự, Khoản 5, Điều 6 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự thì mỗi việc bình quân cơ quan Thi hành án dân sự phải xác minh 2 lần/năm, mỗi lần xác minh mất 1 ngày, 2 người (01 Chấp hành viên, 01 Thư ký thi hành án). Ngoài ra tham gia xác minh cùng cơ quan thi hành án đối với từng việc thi hành án còn có đại diện một số cơ quan có liên quan theo quy định (ít nhất 2 người). Chi phí xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án do ngân sách nhà nước chi trả. Do đó, số ngày công đi xác minh việc thi hành các khoản thu cho ngân sách nhà nước không thể thi hành được là:

    47.834 việc x 2 lần xác minh/năm  x 1 ngày x 4 người = 382.672 ngày công lao động (6).

    Thứ hai, chi phí tiền xăng xe đi xác minh

    Tính toán của ngành thi hành án dân sự trong những năm vừa qua về chi phí xác minh thi hành án cho thấy bình quân cơ quan thi hành án phải chi 3 lít xăng cho 1 lần đi xác minh. Nếu tính bình quân 22.000 đồng/lít xăng (giá tại thời điểm lập báo cáo này thì tổng cộng chi phí xăng xe đi xác minh là:

     47.834 việc x 3 lít x 22.000 đồng/l = 3.157.044.000 đồng (7)

              Thứ ba, chi phí văn phòng phẩm dành cho việc xác minh

    Chi phí giấy viết: 47.384 việc x 3 tờ giấy (Thông báo xác minh, Biên bản xác minh, …) = 143.502 tờ giấy A4 (khoảng gần 300 gam giấy A4 500 trang loại giấy Bãi Bằng), tính 55.000/gam, thì tổng cộng số tiền mua cho giấy viết là 300 gam x 55.000/gam (giấy Bãi bằng) = 16.500.000 đồng (8)

    Chi phí mực in: một hộp mực thông thường in được khoảng 1.500 trang giấy (khoảng 3 gam giấy), do đó để in hết 300 gam giấy cần khoảng 100 hộp mực in x 200.000đ/hộp = 20.000.000 đồng (9)

    Thứ tư, chi tiền công tác phí đi xác minh

    Hiện tại, hầu hết các cơ quan Thi hành án dân sự thực hiện việc khoán công tác phí cho cán bộ thi hành án khi đi xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án bình quân 30.000 đồng/người/ngày, tổng cộng là:

    382.672 ngày đi xác minh x 30.000 đồng = 11.480.160.000  đồng (10)

    Cộng các khoản chi phí trên ta có:

    Chi phí về tiền: 3.157.044.000 đồng (7) + 16.500.000 đồng (8) + 20.000.000 đồng (9) + 11.480.160.000  đồng (10)= 14.673.704.000 đồng

    Chi phí về nhân công: 382.672 ngày công lao động.

    Như vậy, tổng chi phí về phía Nhà nước sẽ phát sinh nếu vẫn giữ nguyên một số việc thi hành các khoản thu cho ngân sách nhà nước không thể thi hành được hàng năm sẽ là 14.673.704.000 đồng và 382.672 ngày công lao động. Điều này cũng có nghĩa là nếu Nghị quyết được ban hành và thực hiện, thì hàng năm Nhà nước sẽ tiết kiệm được 14.673.704.000 đồng và 382.672 ngày công lao động. Trong khi đó, nếu thực hiện Nghị quyết, Nhà nước sẽ chỉ phát sinh chi phí theo tính toán ở phần 2.1. 118.900.800 đồng và 95.668 ngày công lao động.

    So sánh với chi phí về kinh tế khi thực hiện Nghị quyết theo tính toán ở trên thì việc thực hiện Nghị quyết sẽ mang lại lợi ích kinh tế cho Nhà nước là 14.673.704.000 đồng - 118.900.800 đồng = 14.554.803.200 đồng và 382.672 ngày công - 95.668 ngày công = 287.004 ngày công lao động.

    Bên cạnh đó, những tính toán trên đây chỉ là những tính toán cho một năm theo dõi trên thực tế. Theo thống kê, tính đến ngày 01/7/2009 thì số việc thi hành các khoản thu cho ngân sách nhà nước không thể thi hành được nhưng cơ quan Thi hành án dân sự vẫn phải tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của đương sự kéo dài từ năm này qua năm khác, cụ thể là: số việc từ 1 năm đến dưới 5 năm là 30.496 việc, số việc từ 5 đến 10 năm là 12.835 việc, số việc trên 10 năm là 4.503. Như vậy, trong khi không thể thu được số tiền người phải thi hành hành, thì Nhà nước vẫn phải chi phí cho việc xác minh, theo dõi điều kiện thi hành án của người phải thi hành án một khoản tiền rất lớn, gây lãng phí cho ngân sách nhà nước mà vẫn không thể thi hành được.

    * Lợi ích đối với doanh nghiệp và người dân:

    Nếu vẫn giữ một số việc thi hành các khoản thu cho ngân sách nhà nước không có điều kiện thi hành, hàng năm khi cơ quan thi hành án tiến hành thủ tục xác minh, người dân doanh nghiệp và xã hội sẽ phải mất những chi phí sau:

    Thứ nhất, phần lớn Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chỉ có 01 biên chế làm công tác tư pháp. Khi cán bộ tư pháp tham gia đi xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, thì trong ngày đó cán bộ Tư pháp sẽ phải vắng mặt tại trụ sở. Do đó, một số lượng không nhỏ người dân/doanh nghiệp tới làm các thủ tục như khai sinh, khai tử và các công việc khác liên quan đến công tác tư pháp sẽ không được giải quyết do cán bộ Tư pháp đi vắng. Điều này gây lãng phí lớn về thời gian, chi phí lợi ích, chi phí đi lại cho người dân, doanh nghiệp.

    Thứ hai, việc cán bộ thi hành án đi xác minh sẽ dẫn đến việc gặp gỡ tiếp xúc với các đối tượng liên quan như ngân hàng, đối tượng phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, …. Điều này cũng làm cho các đối tượng này mất ngày công lao động do phải làm việc với cán bộ thi hành án. Đây cũng chính là chi phí của người dân, doanh nghiệp và xã hội.

    Như vậy, việc thực hiện Nghị quyết cũng đồng nghĩa với việc người dân, doanh nghiệp và xã hội sẽ tiết kiệm được những khoản chi phí trên.

    2.2.2. Lợi ích về việc góp phần làm thay đổi nhận thức của các cơ quan và nhân dân về thi hành án dân sự nói chung và việc thi hành án dân sự “tồn đọng” nói riêng

    Thi hành án dân sự là hoạt động gắn liền với công tác xét xử của Tòa án. Tuy nhiên, thời gian hình thành với tư cách là một lĩnh lực công tác độc lập trong quản lý nhà nước chưa nhiều (tháng 7/1993). Do đó, nhiều vấn đề về lý luận, thực tiễn thi hành án chưa được làm sáng tỏ. Thông qua quá trình lấy ý kiến vào Nghị quyết của các cơ quan, ban ngành hữu quan từ Trung ương đến địa phương, Bộ Tư pháp có điều kiện giải thích, làm rõ và tuyên truyền về các nội dung công tác thi hành án dân sự, giúp các cơ quan và nhân dân nhận thức rõ hơn về công tác thi hành án, nhằm thu hút sự quan tâm, ủng hộ và phối hợp tích cực hơn với cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay và các quyết định khác theo quy định của pháp luật thuộc thẩm quyền tổ chức thi hành của cơ quan Thi hành án dân sự.

    2.2.3. Việc thực hiện Nghị quyết cũng đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa, thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội và những người có nghĩa vụ về tài sản đối với Nhà nước

    Theo quy định của Điều 136 Hiến pháp năm 1992, các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành. Về nguyên tắc, khi bản án, quyết định được Tòa án nhân dân có thẩm quyền – nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên xử, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có nghĩa vụ phải chấp hành. Nếu các quyền và nghĩa vụ không được thực hiện trên thực tế, mà không có giải pháp cụ thể sẽ dân tới “nhờn” luật, tiềm ẩn việc gây bất ổn cho trật tự, an toàn xã hội. Do đó, với việc miễn thi hành án đối với một số khoản thu cho ngân sách nhà nước không có điều kiện thi hành, Quốc hội giao cho Tòa án nhân dân xét, quyết định miễn thi hành nghĩa vụ cho người phải thi hành án theo những nguyên tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục chặt chẽ sẽ giúp đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Bộ máy nhà nước nói chung và đối với cơ quan Thi hành án dân sự nói riêng.

    2.2.4. Lợi ích về việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật

    Thứ nhất, việc thực hiện Nghị quyết đảm bảo tính đồng bộ trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước.

    Theo quy định của Bộ Luật hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2009, có nhiều tội danh được áp dụng hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung. Trong nhiều năm qua, khi xét xử các tội về ma túy, Tòa án thường tuyên phạt ở mức cao nhất, nên không thể thi hành được. Các cơ quan có thẩm quyền đã thống nhất hướng dẫn việc áp dụng hình phạt tiền theo hướng không tuyên phạt mức tối đa là 20 triệu đồng đối với một số tội về ma túy. Do đó, việc cho miễn thi hành đối với các khoản thi hành cho ngân sách nhà nước là các khoản tuyên phạt trong các bản án về ma túy là phù hợp với đường lối xử lý tội phạm về ma túy và phù hợp với thực tiễn.

    Mặt khác theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2009 và Nghị quyết số 33/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội về thi hành Bộ luật Hình sự Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2009, một số tội danh trước đây được coi là tội phạm, nay không coi là tội phạm và được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, nên việc tiếp tục thi hành các khoản tiền thu cho ngân sách nhà nước đã được tuyên trong các bản án, quyết định này là không hợp lý. Do đó, miễn thi hành đối với những khoản tiền này là phù hợp, đảm bảo sự thống nhất trong chính sách hình sự từ ban hành chính sách đến xây dựng luật và tổ chức thi hành luật.

    Thứ hai, quá trình thực hiện Nghị quyết cũng góp phần vào công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự, nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự.

    Thông qua việc thực hiện Nghị quyết, các cơ quan thi hành án dân sự có điều kiện rà soát để có được những thông số chính xác về việc thi hành án dân sự tồn đọng; đồng thời đánh giá đúng và sát thực tiễn thi hành án dân sự. Qua đó làm rõ những ưu, nhược điểm, hạn chế, vướng mắc trong pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật thi hành án dân sự, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp hoàn thiện thể chế; các giải pháp về hoàn thiện cơ chế, biện pháp tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Đồng thời, tạo tiền đề cho việc sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

    7. Nghị quyết của Quốc hội sửa đổi Điều 170 của Luật doanh nghiệp

    a) Vấn đề tổng thể cần giải quyết

    Khoản 2 Điều 170 Luật Doanh nghiệp (được sửa đổi bổ sung tại Điều 3 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản) quy định: “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước khi Luật này có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều này, có quyền thực hiện theo một trong hai cách sau:

    a) Đăng ký lại và tổ chức quản lý, hoạt động theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan; việc đăng ký lại được thực hiện trong thời hạn năm năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực;

    b) Không đăng ký lại; trong trường hợp này, doanh nghiệp chỉ được quyền hoạt động kinh doanh trong phạm vi ngành nghề và thời hạn ghi trong Giấy phép đầu tư và tiếp tục hưởng ưu đãi theo quy định của Chính phủ”.

    Theo quy định nêu trên, kể từ ngày 01/08/2011, những doanh nghiệp chưa thực hiện đăng ký lại đã gặp phải những vướng mắc chủ yếu sau:

    - Không được bổ sung ngành nghề kinh doanh, chỉ được hoạt động kinh doanh trong phạm vi ngành nghề quy định tại Giấy phép đầu tư.

    - Chỉ được hoạt động trong thời hạn quy định tại Giấy phép đầu tư (Giấy phép đầu tư của các doanh nghiệp này quy định thời hạn hoạt động của doanh nghiệp với thời hạn phổ biến là 20 năm). Kết thúc thời hạn ghi trên Giấy phép, các doanh nghiệp này phải chấm dứt hoạt động và giải thể.

    b) Các phương án để lựa chọn:

    - Phương án 1A: Giữ nguyên hiện trạng (không ban hành Nghị quyết).

    - Phương án 1B:  ban hành Nghị quyết.

    c) Đánh giá tác động của các phương án

    - Tác động của phương án 1A: Giữ nguyên hiện trạng (không ban hành Nghị quyết).

    Nếu theo Phương án này thì sẽ không giải quyết được thực trạng, gây ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, suy giảm việc thu hút đầu tư.

    Số liệu thống kê cho thấy, trong 6.000 doanh nghiệp được thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, có khoảng 3.000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa thực hiện đăng ký lại để hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Riêng trong năm 2012, thành phố Hồ Chí Minh có 27 doanh nghiệp có tổng vốn điều lệ 634,4 triệu USD hết thời hạn hoạt động đang đề nghị được đăng ký lại để tiếp tục hoạt động. Nếu không được đăng ký lại, các doanh nghiệp này phải chấm dứt hoạt động và giải thể sau khi kết thúc thời hạn hoạt động ghi trên Giấy phép đầu tư. Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động thu hút đầu tư, làm suy giảm hoạt động sản xuất kinh doanh và giải quyết việc làm cho người lao động. Trong khi đó, việc đăng ký lại chỉ là thủ tục pháp lý để doanh nghiệp thay đổi tổ chức quản lý và hoạt động để hoạt động theo các nguyên tắc quy định tại Luật Doanh nghiệp.

    - Phương án 1B:  ban hành Nghị quyết.

    Nếu theo phương án này sẽ giải quyết được những bất cập hiện hành.

    Kiến nghị lựa chọn Phương án 1B.

     

    8. Pháp lệnh cảnh sát môi trường

    1. Các vấn đề tổng thể cần giải quyết

    - Thứ nhất, tình trạng vi phạm pháp luật về môi trường ở nước ta diễn ra ngày càng phổ biến, phức tạp trên tất cả các địa bàn từ đô thị tới nông thôn. Có thể nhận thấy những vi phạm pháp luật về môi trường nghiêm trọng như: vi phạm quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm tiếp tục diễn ra phức tạp với các hoạt động sản xuất, kinh doanh, buôn bán hàng giả, kém chất lượng, không có kiểm dịch; vi phạm quy định về xử lý chất thải công nghiệp xảy ra tại nhiều địa phương, nhiều khu công nghiệp, nhà máy, cơ sở sản xuất vẫn lén lút xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường hoặc có hệ thống xử lý nước thải nhưng không vận hành thường xuyên; hiện nay, cả nước đã phát triển trên 200 khu công nghiệp nhưng có trên 70% không có hệ thống xử lý nước thải; tình hình nhập khẩu phế thải, phế liệu, rác thải vẫn diễn ra rất nghiêm trọng, hàng năm có hàng ngàn tấn rác được đưa vào nước ta, nguy cơ biến nước ta thành bãi rác của các nước phát triển; tình trạng xâm phạm tài nguyên rừng, khoáng sản và nguồn lợi thủy sản xảy ra nhiều nơi, niều khu vực rừng phòng hộ, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên khu vực miền Trung, Tây Nguyên tiếp tục bị đe doạ do các đối tượng lợi dụng các dự án chuyển đổi mục đích rừng nghèo trồng cây cao su, dự án thuỷ điện vừa và nhỏ, khoán đất lâm nghiệp để khai thác gỗ trái phép v.v…

    - Thứ hai, phương thức, đặc điểm, tính chất, phương thức, thủ đoạn của hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm về môi trường có sự khác biệt hoàn toàn với các loại tội phạm thông thường như đối tượng vi phạm pháp luật về môi trường chủ yếu là doanh nghiệp (các pháp nhân), trong khí đó Bộ luật hình sự Việt Nam lại yêu cầu cá thể hóa trách nhiệm hình sự; nhiều vi phạm có yếu tố nước ngoài như chủ đầu tư, chủ doanh nghiệp là người nước ngoài, nguồn hàng hoá từ nước ngoài đưa về, khi phát hiện vi phạm thì từ chối trách nhiệm với những lý do như “không được biết trước” hay “mới nhận công tác”, chủ doanh nghiệp trốn ra nước ngoài, thậm chí một số vụ việc khi xử lý phải cân nhắc vì yếu tố ngoại giao hoặc việc vi phạm xuất phát từ những sơ hở trong quản lý, thực hiện không đúng chính sách khuyến khích đầu tư của các cơ quan quản lý nhà nước, của chính quyền địa phương...

    - Thứ ba, Bộ luật hình sự hiện nay đã quy định một chương (Chương 17 - Các tội phạm về môi trường) với mục đích xử lý nghiêm các tội phạm môi trường và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, sau 2 lần sửa đổi, bổ sung thì các quy định tại Chương 17 gần như vẫn chưa đi vào cuộc sống. Từ khi được thành lập đến nay, các vụ án mà lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường chuyển cơ quan điều tra đều gặp rất nhiều khó khăn trong việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử. Nguyên nhân là do các quy định của Bộ Luật hình sự còn chung chung, đòi hỏi nhiều điều kiện để khởi tố và đặc biệt, chủ thể của vi phạm pháp luật về môi trường trong thực tế chủ yếu là các cơ quan, doanh nghiệp, nhưng theo quy định của Bộ luật hình sự thì pháp nhân không phải là chủ thể của tội phạm nên rất khó xử lý hình sự được đối với loại tội phạm này.

    - Thứ tư, lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường được thành lập là quyết tâm lớn của Đảng, Chính phủ và Bộ Công an đối với công tác bảo vệ môi trường. Qua 5 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường đã hình thành được hệ thống tổ chức từ trung ương đến địa phương, có đội ngũ cán bộ, chiến sỹ đông đảo, được đào tạo cơ bản, có tâm huyết, nhiệt tình với sự nghiệp bảo vệ môi trường nói chung và hăng hái trong công tác phòng, chống tội phạm nói riêng, được các ngành, các cấp và xã hội ghi nhận.

     Tính đến tháng 11/2011, lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường đã phát hiện, điều tra, khám phá trên 18.400 vụ vi phạm, làm rõ 6.973 tổ chức, 12.427 cá nhân vi phạm, chuyển xử lý hình sự: 533 vụ, 834 đối tượng, xử phạt vi phạm hành chính số tiền 196 tỷ 426 triệu đồng, yêu cầu truy thu phí bảo vệ môi trường trên 150 tỷ đồng. Kết quả công tác của lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường bước đầu đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết các điểm nóng về ô nhiễm môi trường vốn gây bức xúc trong nhân dân; hạn chế đáng kể tình trạng khiếu kiện, khiếu nại kéo dài và cản trở hoạt động của các doanh nghiệp; tạo được sự đồng thuận và tin tưởng trong xã hội, làm chuyển biến mạnh mẽ, nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân. Công tác bảo vệ môi trường trong một số lĩnh vực, ngành nghề được quan tâm, chấn chỉnh, đẩy mạnh như lĩnh vực chất thải y tế, môi trường khu công nghiệp, xuất nhập khẩu, làng nghề; nhiều công trình về bảo vệ môi trường, xử lý chất thải được quan tâm đầu tư; nhiều dự án đầu tư đã được hủy bỏ hoặc di dời vì các yếu tố gây bất lợi cho môi trường; nhiều doanh nghiệp đã quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường, tăng cường vốn cho công tác xử lý chất thải...

    Bên cạnh đó, mặc dù Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự đã quy định thẩm quyền cho lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, nhưng thẩm quyền điều tra chỉ ở mức quyền hạn điều tra của các cơ quan khác của lực lượng Cảnh sát trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, vì vậy,  các hoạt động điều tra bị hạn chế nhiều về mặt thời gian (trong thời hạn 7 ngày phải chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra chuyên trách). Đồng thời, phương tiện kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ công tác điều tra, xử lý tội phạm của lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường vẫn chưa được đầu tư đúng mức, đã ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác này.

    Từ những vấn đề trên, đòi hỏi phải có văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao như Pháp lệnh để trao cho cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về môi trường cơ chế đặc thù riêng (được áp dụng các biện pháp đặc thù, đặc biệt là việc áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật và cơ chế bắt buộc thẩm định về môi trường khi phê duyệt dự án đầu tư hoặc nhập khẩu những mặt hàng độc hại có khả năng gây nguy hiểm đến môi trường) để phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường trong tình hình hiện nay.

    2. Mục tiêu cần đạt được

    - Việc xây dựng dự án Pháp lệnh Cảnh sát môi trường nhằm xây dựng hành lang pháp lý quan trọng cho lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường đấu tranh có hiệu quả với các tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường.

    - Bám sát quan điểm của Đảng, Nhà nước đã được Hiến pháp quy định về phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật về môi trường, nhằm bảo vệ môi trường, tạo điều kiện ổn định, thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế.

    - Tiếp thu và kế thừa những kinh nghiệm, truyền thống về công tác phòng, chống tội phạm nói chung, tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường thời gian vừa qua, bổ sung các vấn đề cần thiết nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công tác này trong thời gian tới. Tham khảo, chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

    - Thể chế hoá và quy định đầy đủ những vấn đề liên quan đến phòng, chống tội phạm về môi trường; tạo cơ sở pháp lý hoàn chỉnh và tương xứng cho việc thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tội phạm; xây dựng lực lượng chuyên trách đấu tranh phòng, chống tội phạm về môi trường.

    3. Các phương án có thể giải quyết vấn đề

    Qua sơ kết việc triển khai thực hiện Nghị định số 72/2012/NĐ-CP ngày 08/7/2010 của Chính phủ quy định về phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường, cơ quan chủ trì soạn thảo đã đưa ra một số phương án, cụ thể là:

    - Phương án 1: sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới Nghị định của Chính phủ quy định về phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường, trong đó bổ sung các quy định về thẩm quyền, trang bị kỹ thuật…

    Thực hiện Phương án này, ưu điểm là có thể xây dựng nhanh một văn bản quy phạm pháp luật quy định về công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; tuy nhiên, nhược điểm là chỉ có thể xây dựng được văn bản dưới hình thức là nghị định của Chính phủ.

    - Phương án 2: xây dưng Pháp lệnh Cảnh sát môi trường.

    Thực hiện Phương án này, ưu điểm là cụ thể hóa được đường lối, chủ trương của Đảng, xây dựng một văn bản có hiệu lực pháp lý cao là pháp lệnh Tuy nhiên, nhược điểm của Phương án này là việc xây dựng văn bản đòi hỏi phải đầu tư nhiều công sức và thời gian.

    Cơ quan chủ trì soạn thảo lựa chọn Phương án 2.

    4. Đánh giá tác động sơ bộ của dự án Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự

    - Pháp lệnh Cảnh sát môi trường được ban hành sẽ góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường.

    - Pháp lệnh Cảnh sát môi trường được ban hành sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng Cảnh sát bảo vệ môi trường hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; xử lý nghiêm minh các tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường, góp phần quan trọng phục vụ công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật nói chung của nước ta trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.

    5. Lấy ý kiến trong quá trình thực hiện RIA sơ bộ

    Cơ quan chủ trì soạn thảo đã nghiên cứu, xây dựng kế hoạch cụ thể để chuẩn bị soạn thảo dự án Pháp lệnh. Đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tiến hành khảo sát thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tại nhiều địa bàn trọng điểm; tiến hành xin ý kiến tham gia của nhiều đơn vị, cơ quan có liên quan. Đa số các ý kiến tham gia đều nhất trí đề nghị xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao là Pháp lệnh Cảnh sát môi trường để có hành lang pháp lý vững chắc, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường ở nước ta.

    9. Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 928/2010/UBTVQH10 về việc ban hành biểu mức thuế suất thuế tài nguyên

    a) Các phương án để lựa chọn:

    - Phương án 1A: Giữ nguyên hiện trạng (không sửa đổi Nghị quyết).

    - Phương án 1B:  sửa đổi Nghị quyết.

    b) Đánh giá tác động của các phương án

    - Tác động của phương án 1A: Giữ nguyên hiện trạng (không ban hành Nghị quyết).

    Nếu theo phương án này thì sẽ không giải quyết được những bất cập của Nghị quyết số 928, dẫn đến việc khai thác tài nguyên tràn lan, ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên đất nước.

    - Phương án 1B:  ban hành Nghị quyết.

    Nếu theo Phương án này thì sẽ góp phần khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời gian tới. Cụ thể:

    Thứ nhất, mặc dù Nghị quyết số 928 đã tăng mức thuế suất thuế tài nguyên so với trước đây, đặc biệt là mặt hàng khoáng sản kim loại và khoáng sản không kim loại nhưng mức thuế suất này vẫn còn thấp, dẫn đến việc khai thác tài nguyên tràn lan, chưa khuyến khích được các doanh nghiệp khai thác tài nguyên tiết kiệm, hiệu quả.

    Thứ hai, thế suất của một số nhóm mặt hàng theo quy định tại Nghị quyết số 928 đã không còn phù hợp với thực tế như thuế suất thuế tài nguyên đối với đất sét sản xuất gạch; thuế suất thuế tài nguyên đối với sản phẩm alumin...

    Kiến nghị theo Phương án 1B.



    [1] Đây là chi phí cước gửi bưu điện tính theo giá tiền 01 con tem

    [2] Đây là thời gian xét theo lý thuyết, trên thực tế, việc xét miễn thi hành án dân sự thường được tổ chức theo đợt, mỗi đợt sẽ xem xét miễn nhiều việc cùng lúc, nên chi phí về thời gian thực tế sẽ giảm được khoảng 30% như đã tính toán.

     

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com