Thứ tư, ngày 22/10/2014login
  • Lĩnh vực: Tư pháp
  • Cơ quan trình dự thảo: Chính phủ
  • Cơ quan chủ trì soạn thảo: Thanh tra Chính phủ
  • Ủy ban thẩm tra: Ủy ban Tư pháp
  • Thảo luận tại: Kỳ họp thứ 4 - Khóa XIII
  • Thông qua tại: Kỳ họp thứ 4 - Khóa XIII
  • Trạng thái: Đã thông qua

Phạm vi điều chỉnh

Dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) được đổi thành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng do thời gian chuẩn bị của dự án Luật ngắn và chỉ tập trung sửa đổi, bổ sung một số điều thực sự bức xúc đang gây khó khăn, vướng mắc. Luật này quy định về phòng ngừa, phát hiện tham nhũng và xử lý người có hành vi tham nhũng, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong phòng, chống tham nhũng. Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi.

Tóm tắt dự thảo

I. TỔNG QUAN VỀ DỰ THẢO LUẬT

Luật Phòng, chống tham nhũng số 55/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2006, thay thế cho Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2000). Qua gần 7 năm thực hiện cho thấy, Luật là một cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy một số quy định của Luật còn bất cập, công tác phòng, chống tham nhũng còn có những hạn chế nhất định. Chỉ số cảm nhận tham nhũng của nước ta theo xếp hạng của một tổ chức quốc tế chưa có nhiều cải thiện.

Do vậy, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII, Quốc hội đã quyết định đưa dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012.

Dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) được Thanh tra Chính phủ chủ trì soạn thảo, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội chủ trì thẩm tra. Dự án Luật này được Chính phủ trình Quốc hội thảo luận cho ý kiến và biểu quyết thông qua theo quy trình một kỳ họp vào kỳ họp thứ 4 (tháng 10/2012), Quốc hội khóa XIII.

Trước khi trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 4, Chính phủ đã trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) tại phiên họp thứ 11, Quốc hội khoá XIII.

Dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) bao gồm 8 chương và 108 điều (Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 có 92 điều).

II. MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC SỬA ĐỔI

Mục đích của việc sửa đổi Luật Phòng, chống tham nhũng là nhằm:

Một là, khắc phục những hạn chế trong công tác phòng, chống tham nhũng trong thời gian vừa qua;

Hai là, thể chế hoá những chủ trương quan trọng của Đảng trong thời gian gần đây vào Luật Phòng, chống tham nhũng;

Ba là, sửa đổi các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng để đảm bảo sự phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng mà Việt Nam là thành viên.

III. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI

Dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi tập trung vào các nhóm vấn đề chính sau đây:

(i) Nhóm vấn đề chung

1. Phạm vi điều chỉnh;

2. Quyền và nghĩa vụ của công dân trong phòng, chống tham nhũng.

(ii) Nhóm vấn đề về phòng ngừa tham nhũng

1. Quy định về công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị;

2. Quy định về minh bạch tài sản, thu nhập;

3. Quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng.

(iii)  Nhóm vấn đề về quản lý công tác phòng, chống tham nhũng

1. Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng;

2. Quản lý Nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng.

(iv) Một số vấn đề khác

1. Quy định về đổi mới phương thức thanh toán;

2. Quy định áp dụng pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo;

3. Quy định giảm nhẹ trách nhiệm kỷ luật hoặc hình sự đối với người liên quan đến tham nhũng;

4. Quy định về đơn vị chuyên trách về chống tham nhũng;

5. Quy định về trách nhiệm của báo chí trong phòng, chống tham nhũng.

IV. MỘT SỐ CHÍNH SÁCH CƠ BẢN

1. Công khai minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức

Vấn đề đặt ra:

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 đã có những quy định về công khai, minh bạch và xem đây là một trong những công cụ để phòng ngừa tham nhũng. Tuy nhiên, trên thực tế, việc công khai, dân chủ ở một số cơ quan, đơn vị trên một số mặt còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong một số lĩnh vực như hoạt động cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản, đầu tư dự án, xây dựng.... Báo cáo của Chính phủ về sơ kết 5 năm triển khai thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng cho thấy qua kiểm tra việc thực hiện các quy định về công khai, minh bạch tại 23.522 cơ quan, đơn vị đã phát hiện và xử lý 1.704 cơ quan, đơn vị có vi phạm quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động.[1]

Chính sách trong dự án Luật:

Dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) bổ sung các lĩnh vực cần đảm bảo công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị như:

- Mua sắm công, xây dựng cơ bản;

- Quản lý dự án đầu tư xây dựng;

- Tài chính và ngân sách nhà nước;

- Quản lý doanh nghiệp nhà nước;

- Lĩnh vực giáo dục;

- Lĩnh vực y tế;

- Quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường;

- Quản lý văn hóa, thông tin và truyền thông;

- Quản lý về nông nghiệp và phát triển nông thôn;

- Thực hiện chính sách an sinh xã hội;

- Thực hiện chính sách dân tộc;

- Hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm toán nhà nước;

- Công tác tổ chức - cán bộ.

2. Công khai, minh bạch về tài sản, thu nhập

Vấn đề đặt ra:

Thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, việc kê khai tài sản của đối tượng phải kê khai dần đi vào nền nếp. Tuy vậy, công tác này vẫn còn nhiều hạn chế, hiệu quả thấp. Bởi vì, việc xác minh để bảo đảm tính trung thực của việc kê khai còn ít, kết quả kê khai chưa được công khai, chưa kiểm soát được tài sản, thu nhập, tiêu dùng của những người có chức vụ, quyền hạn.

Chính sách trong dự án Luật:

- Về đối tượng kê khai tài sản, thu nhập

Đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết Trung ương 3 khóa X và Kết luận Hội nghị Trung ương 5 khóa XI, dự thảo Luật quy định bổ sung thêm một số đối tượng kê khai tài sản, thu nhập trong đó có đối tượng là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam đang công tác trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị (không bao gồm nhóm đối tượng đảng viên là nông dân hoặc đã nghỉ hữu).

Theo phương án khác đưa ra trong Tờ trình về dự án Luật thì đối tượng kê khai bao gồm tất cả những người có chức vụ, quyền hạn theo như quy định tại khoản 3 Điều 1 Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành (năm 2005).

- Về công khai bản kê khai tài sản, thu nhập

Dự thảo Luật quy định việc công khai bản kê khai tài sản, thu nhập tại nơi người có nghĩa vụ kê khai thường xuyên làm việc, công tác.

Theo Tờ trình số 251/TTr-CP về dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) ngày 03/10/2012, phương án khác được đưa ra là cần quy định việc công khai bản kê khai tài sản, thu nhập tại cả nơi cư trú của người có nghĩa vụ kê khai.

- Về nghĩa vụ giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm

Dự thảo quy định người kê khai tài sản, thu nhập có nghĩa vụ giải trình nguồn gốc phần tài sản tăng thêm, khi tài sản tăng thêm đó từ một trăm triệu đồng trở lên.

Dự thảo Luật cũng quy định xử lý trách nhiệm đối với người có tài sản, thu nhập tăng thêm nhưng không giải trình được hợp lý.

3. Quy định về Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng

Dự thảo Luật xác định Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng là cơ quan của Đảng, không phải là cơ quan nhà nước, cho nên Luật sửa đổi sẽ không quy định về việc thành lập, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của cơ quan này.


[1] Báo cáo số 130/BC-CP của Chính phủ ngày 23/5/2012 sơ kết 5 năm triển khai thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng.

Kết quả biểu quyết của đại biểu quốc hội tại hội trường
Tổng hợp ý kiến:

Các ý kiến đóng góp về dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) thông qua trang web Dự thảo online tập trung vào các vấn đề sau đây:

1. Về đối tượng kê khai tài sản, thu nhập

Điều 48 Dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) quy định bổ sung một số đối tượng có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập, trong đó có đối tượng cán bộ, công chức, viên chức là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam.

Về vấn đề này, có ý kiến cho rằng chỉ nên quy định đối tượng có nghĩa vụ kê khai là đảng viên Đảng cộng sản là những người có quyền, có chức hoặc làm những công việc dễ dẫn đến tham nhũng. Bởi:

- Đa phần cán bộ, đảng viên là những người làm công ăn lương, không  có nhiều tài sản.

- Việc kê khai tài sản, thu nhập cần được quy định tập trung, tránh tình trạng quy định đại trà dễ dẫn đến thực hiện hình thức.

2. Về công khai bản kê khai tài sản, thu nhập

Nhiều ý kiến nhất trí với quy định công khai bản kê khai tài sản, thu nhập. Các ý kiến này cho rằng nếu quy định kê khai mà không công khai không khác gì gạt bỏ sự giám sát của xã hội đối với các hành vi tham nhũng. Tuy nhiên, về phạm vi công khai thì còn có nhiều ý kiến khác nhau.

Có ý kiến cho rằng dự thảo Luật nên bổ sung thêm quy định công khai bản kê khai tài sản, thu nhập tại nơi cư trú của đối tượng kê khai, bởi:

- Người dân ở khu vực cư trú là người nắm khá rõ sinh hoạt, thu nhập và tài sản của đối tượng kê khai tài sản, thu nhập. Những thông tin kê khai tài sản, thu nhập có chính xác với thực tế hay không sẽ được kiểm chứng.  

- Việc công khai tài sản, thu nhập tại nơi cư trú cũng là tạo điều kiện để ai cũng có thể tiếp cận được những thông tin kê khai tài sản, thu nhập. Người dân không truy cập được thông tin hoặc tham gia giám sát việc kê khai tài sản thì tác dụng của việc kê khai tài sản sẽ rất hạn chế.

- Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” yêu cầu: “Kê khai tài sản phải trung thực và được công khai ở nơi công tác và nơi cư trú”.

- Quy định công khai kê khai tài sản, thu nhập ở nhiều nơi sẽ tạo môi trường để hạn chế tối đa sự phát triển, sinh sôi của tham nhũng.

Đồng tình với quan điểm này, có ý kiến còn đề nghị phạm vi công khai cần tuân thủ nguyên tắc, người nào đảm trách phạm vi tới đâu thì công khai tới đó. Cán bộ đang ở cấp phường, xã thì phải công khai cho toàn bộ người dân ở phạm vi đó, nếu ở cấp quận, huyện thì công khai ở phạm vi quận, huyện. Nếu là người đứng đầu quốc gia thì cũng công khai cho cả nước biết.

Ngược lại, một số ý kiến cho rằng công khai kê khai tài sản, thu nhập tại nơi làm việc hay nơi sinh sống là không cần thiết. Thay vào đó, cần có cơ chế để công khai đảm bảo sự giám sát của nhân dân đối với hành vi tham nhũng, làm sao người dân muốn biết thì có thể tìm được ngay các bản kê khai này. Người dân có thể đến chỗ nào đó để kiểm tra thông tin, chứ không phải công khai hết ra cho mọi người cùng biết.

Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng dự thảo Luật quy định các hình thức công khai tài sản, thu nhập tại trụ sở đơn vị đối tượng kê khai thường xuyên làm việc chưa hẳn sẽ được giải quyết được vấn đề công khai tài sản, thu nhập. Điều quan trọng nhất trong việc công khai tài sản, thu nhập không phải là niêm yết tại trụ sở cơ quan hay tại nơi ở, công khai bằng hình thức nào mà là biện pháp nào để đối tượng kê khai phải kê khai chính xác tài sản, thu nhập của mình. Khi không có biện pháp làm sao buộc kê khai đúng thì không nên nghĩ đến chuyện công khai ở đâu.

Ý kiến này phân tích thêm, những người có tài sản bất chính trước khi kê khai thường sẽ tẩu tán tài sản cho người khác đứng tên do ở nước ta hiện nay việc nhờ người khác đứng tên là quá dễ dàng. Tại các nước phát triển, thu nhập đều phải thông qua tài khoản ngân hàng, nên việc điều tra dễ dàng hơn. Tại Việt Nam tài sản, thu nhập khó kiểm soát hơn. Do vậy, để xác minh khối tài sản thật của một người gần như không khả thi. Những phần tài sản đã tẩu tán được trở thành hợp pháp, phần tài sản còn lại được kê khai hợp lý và khi đó vấn đề công khai bằng hình thức nào không có ý nghĩa gì mà chỉ mang tính hình thức.

Do đó, vấn đề lớn nhất là phải kiểm tra được sự trung thực của người kê khai tài sản, thu nhập và có cơ chế để xử lý vấn đề này. Nếu người kê khai biết rằng việc mình kê khai sẽ có người kiểm tra, giám sát chặt chẽ thì việc kê khai sẽ đầy đủ và trung thực hơn.

3. Về trách nhiệm của cơ quan báo chí phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin, tài liệu

Dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) đã quy định để phục vụ cho việc xác minh, làm rõ hành vi tham nhũng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân hoặc Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và tương đương trở lên có thẩm quyền yêu cầu báo chí cung cấp thông tin.

Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng quy định “thông tin, tài liệu phải cung cấp” trong dự thảo cần được làm rõ. Những “thông tin, tài liệu” này là thông tin mà báo chí đưa về vụ việc có dấu hiệu tham nhũng hay nguồn tin mà dựa vào đó báo chí phát hiện vấn đề tham nhũng.

Theo quan điểm này, nếu quy định không khéo sẽ hạn chế cuộc đấu tranh chống tham nhũng, thậm chí triệt tiêu sự tham gia của báo chí. Báo chí hiện nay là một địa chỉ cho người dân trông cậy vào để đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, nhất là khi hiệu quả đấu tranh của các cơ quan chức năng chưa có hiệu quả cao. Nếu bắt buộc báo chí phải cung cấp nguồn tin, có thể sẽ dẫn đến chuyện người tố cáo bị trả thù và như vậy sẽ không có người nào dám tố cáo tham nhũng nữa.

4. Trách nhiệm người đứng đầu liên quan đến tham nhũng

Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành và dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) đều đề cao khái niệm “chế độ trách nhiệm” với một mục riêng về chế độ trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng.

Nhiều quan điểm cho rằng dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) cần quy định các biện pháp cho phép người đứng đầu cơ quan, đơn vị tạm đình chỉ cán bộ, công chức có dấu hiệu tham nhũng hoặc tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác hoặc cho tạm dừng ngay các lợi ích như lương hưu và phụ cấp.

Một số ý kiến còn cho rằng dự thảo Luật nên có những biện pháp mạnh mẽ hơn về trách nhiệm của người đứng đầu bởi hai lý do sau:

Thứ nhất, sau gần bảy năm luật có hiệu lực, quy định về trách nhiệm người đứng đầu dường như chưa phát huy tác dụng, những điều khoản này thiếu rõ ràng và cần phải sửa đổi căn bản. Cần xem xét kỹ càng những vụ việc thua lỗ và có dấu hiệu tham nhũng của các doanh nghiệp Nhà nước mà Thanh tra Chính phủ phát hiện trong thời gian gần đây để làm căn cứ sửa đổi luật.

Thứ hai, quy định như hiện hành dẫn tới diễn giải và áp dụng luật theo hướng cho dù có tham nhũng xảy ra, người đứng đầu ở cơ quan, đơn vị đó cũng không phải chịu trách nhiệm.

Ngoài ra, có ý kiến cho rằng dự thảo Luật cần bổ sung thêm cơ chế giám sát người đứng đầu để tăng cường giám sát, theo dõi một cách độc lập từ các cơ quan bên ngoài đối với người đứng đầu.

5. Về xử lý tài sản, thu nhập tăng thêm không được giải trình hợp lý

Điều 64 dự thảo Luật quy định xử lý trách nhiệm đối với người kê khai tài sản, thu nhập tăng thêm mà không giải trình hợp lý. Tuy nhiên dự thảo Luật không quy định việc xử lý đối với tài sản, thu nhập tăng thêm này.

Có quan điểm cho rằng ngoài việc quy định xử lý kỷ luật đối với người kê khai không giải trình được nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm một cách hợp lý thì còn phải quy định việc xử lý đối với phần tài sản, thu nhập tăng thêm không được giải trình một cách hợp lý đó, thậm chí tài sản đó phải bị tịch thu.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng theo nguyên tắc của Luật Tố tụng hình sự thì trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về Nhà nước. Nhà nước cũng có thể thu hồi tài sản nếu không chứng minh được đó là các tài sản do vi phạm pháp luật mà có.

6. Về cơ quan phòng, chống tham nhũng

Hiện tại, dự thảo không quy định về cơ quan phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên một số ý kiến cho rằng nên thành lập một cơ quan chuyên trách về phòng, chống tham nhũng. Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng nên hoàn toàn có thể áp dụng các Điều 6 và 36 về cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng.

Theo các ý kiến này, cơ quan phòng, chống tham nhũng phải có cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động độc lập.

Xung quanh vấn đề này các chuyên gia đưa ra một số phương án như sau:

- Thành lập một cơ quan phòng, chống tham nhũng độc lập. Người đứng đầu cơ quan phòng, chống tham nhũng có nhiệm kỳ dài hơn nhiệm kỳ của Chính phủ, với khoảng thời gian từ 10 đến 15 năm, được tuyển dụng theo cơ chế thực tài và do Quốc hội bổ nhiệm.

- Thành lập một Ban có bộ máy giúp việc hoàn toàn độc lập nhưng trực tiếp phải do Chủ tịch Quốc hội phụ trách, hoặc do một đồng chí là Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách. Ban có bộ máy giúp việc độc lập, thành viên của Ban không đồng thời là thành viên trong Chính phủ hay cơ quan Tư pháp, để đảm bảo tính độc lập.

- Thành lập Ủy ban đặc trách chống tham nhũng quốc gia, độc lập với cơ quan nhà nước, có quyền hạn và trách nhiệm cao, có hệ thống tập trung thống nhất ở Trung ương và các khu vực. Chủ tịch Ủy ban này do Chủ tịch nước bổ nhiệm và miễn nhiệm sau khi được Quốc hội xem xét, chấp thuận.

*

*        *

Trên đây là tổng hợp các nội dung về dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) thông qua trang web:  Dự thảo Online. Các ý kiến này có thể được tham khảo trực tiếp tại địa chỉ: http://duthaoonline.quochoi.vn

Xin trân trọng cảm ơn!

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com