I. TỔNG QUAN VỀ DỰ THẢO LUẬT
Luật Phòng, chống tham nhũng số 55/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2006, thay thế cho Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2000). Qua gần 7 năm thực hiện cho thấy, Luật là một cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy một số quy định của Luật còn bất cập, công tác phòng, chống tham nhũng còn có những hạn chế nhất định. Chỉ số cảm nhận tham nhũng của nước ta theo xếp hạng của một tổ chức quốc tế chưa có nhiều cải thiện.
Do vậy, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII, Quốc hội đã quyết định đưa dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012.
Dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) được Thanh tra Chính phủ chủ trì soạn thảo, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội chủ trì thẩm tra. Dự án Luật này được Chính phủ trình Quốc hội thảo luận cho ý kiến và biểu quyết thông qua theo quy trình một kỳ họp vào kỳ họp thứ 4 (tháng 10/2012), Quốc hội khóa XIII.
Trước khi trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 4, Chính phủ đã trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) tại phiên họp thứ 11, Quốc hội khoá XIII.
Dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) bao gồm 8 chương và 108 điều (Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 có 92 điều).
II. MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC SỬA ĐỔI
Mục đích của việc sửa đổi Luật Phòng, chống tham nhũng là nhằm:
Một là, khắc phục những hạn chế trong công tác phòng, chống tham nhũng trong thời gian vừa qua;
Hai là, thể chế hoá những chủ trương quan trọng của Đảng trong thời gian gần đây vào Luật Phòng, chống tham nhũng;
Ba là, sửa đổi các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng để đảm bảo sự phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng mà Việt Nam là thành viên.
III. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI
Dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi tập trung vào các nhóm vấn đề chính sau đây:
(i) Nhóm vấn đề chung
1. Phạm vi điều chỉnh;
2. Quyền và nghĩa vụ của công dân trong phòng, chống tham nhũng.
(ii) Nhóm vấn đề về phòng ngừa tham nhũng
1. Quy định về công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị;
2. Quy định về minh bạch tài sản, thu nhập;
3. Quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng.
(iii) Nhóm vấn đề về quản lý công tác phòng, chống tham nhũng
1. Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng;
2. Quản lý Nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng.
(iv) Một số vấn đề khác
1. Quy định về đổi mới phương thức thanh toán;
2. Quy định áp dụng pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo;
3. Quy định giảm nhẹ trách nhiệm kỷ luật hoặc hình sự đối với người liên quan đến tham nhũng;
4. Quy định về đơn vị chuyên trách về chống tham nhũng;
5. Quy định về trách nhiệm của báo chí trong phòng, chống tham nhũng.
IV. MỘT SỐ CHÍNH SÁCH CƠ BẢN
1. Công khai minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức
Vấn đề đặt ra:
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 đã có những quy định về công khai, minh bạch và xem đây là một trong những công cụ để phòng ngừa tham nhũng. Tuy nhiên, trên thực tế, việc công khai, dân chủ ở một số cơ quan, đơn vị trên một số mặt còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong một số lĩnh vực như hoạt động cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản, đầu tư dự án, xây dựng.... Báo cáo của Chính phủ về sơ kết 5 năm triển khai thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng cho thấy qua kiểm tra việc thực hiện các quy định về công khai, minh bạch tại 23.522 cơ quan, đơn vị đã phát hiện và xử lý 1.704 cơ quan, đơn vị có vi phạm quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động.[1]
Chính sách trong dự án Luật:
Dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) bổ sung các lĩnh vực cần đảm bảo công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị như:
- Mua sắm công, xây dựng cơ bản;
- Quản lý dự án đầu tư xây dựng;
- Tài chính và ngân sách nhà nước;
- Quản lý doanh nghiệp nhà nước;
- Lĩnh vực giáo dục;
- Lĩnh vực y tế;
- Quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường;
- Quản lý văn hóa, thông tin và truyền thông;
- Quản lý về nông nghiệp và phát triển nông thôn;
- Thực hiện chính sách an sinh xã hội;
- Thực hiện chính sách dân tộc;
- Hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm toán nhà nước;
- Công tác tổ chức - cán bộ.
2. Công khai, minh bạch về tài sản, thu nhập
Vấn đề đặt ra:
Thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, việc kê khai tài sản của đối tượng phải kê khai dần đi vào nền nếp. Tuy vậy, công tác này vẫn còn nhiều hạn chế, hiệu quả thấp. Bởi vì, việc xác minh để bảo đảm tính trung thực của việc kê khai còn ít, kết quả kê khai chưa được công khai, chưa kiểm soát được tài sản, thu nhập, tiêu dùng của những người có chức vụ, quyền hạn.
Chính sách trong dự án Luật:
- Về đối tượng kê khai tài sản, thu nhập
Đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết Trung ương 3 khóa X và Kết luận Hội nghị Trung ương 5 khóa XI, dự thảo Luật quy định bổ sung thêm một số đối tượng kê khai tài sản, thu nhập trong đó có đối tượng là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam đang công tác trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị (không bao gồm nhóm đối tượng đảng viên là nông dân hoặc đã nghỉ hữu).
Theo phương án khác đưa ra trong Tờ trình về dự án Luật thì đối tượng kê khai bao gồm tất cả những người có chức vụ, quyền hạn theo như quy định tại khoản 3 Điều 1 Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành (năm 2005).
- Về công khai bản kê khai tài sản, thu nhập
Dự thảo Luật quy định việc công khai bản kê khai tài sản, thu nhập tại nơi người có nghĩa vụ kê khai thường xuyên làm việc, công tác.
Theo Tờ trình số 251/TTr-CP về dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) ngày 03/10/2012, phương án khác được đưa ra là cần quy định việc công khai bản kê khai tài sản, thu nhập tại cả nơi cư trú của người có nghĩa vụ kê khai.
- Về nghĩa vụ giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm
Dự thảo quy định người kê khai tài sản, thu nhập có nghĩa vụ giải trình nguồn gốc phần tài sản tăng thêm, khi tài sản tăng thêm đó từ một trăm triệu đồng trở lên.
Dự thảo Luật cũng quy định xử lý trách nhiệm đối với người có tài sản, thu nhập tăng thêm nhưng không giải trình được hợp lý.
3. Quy định về Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng
Dự thảo Luật xác định Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng là cơ quan của Đảng, không phải là cơ quan nhà nước, cho nên Luật sửa đổi sẽ không quy định về việc thành lập, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của cơ quan này.
[1] Báo cáo số 130/BC-CP của Chính phủ ngày 23/5/2012 sơ kết 5 năm triển khai thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng.