Thứ năm, ngày 23/10/2014login
Lần dự thảo:
Nội dung toàn văn

Dự thảo Luật Giáo dục Quốc phòng - An ninh lần thứ 4 ngày 11/01/2013 được lấy từ tài liệu phục vụ phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội, trình Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIII xem xét, cho ý kiến tại phiên họp thứ 14.


Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 được sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10.

Quốc hội ban hành Luật giáo dục quốc phòng và an ninh.

 

Chương I: NHỮNG  QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định chính sách, nguyên tắc, hình thức, nội dung cơ bản giáo dục quốc phòng và an ninh; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, quyền và trách nhiệm của công dân về giáo dục quốc phòng và an ninh.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Công dân Việt Nam; cơ quan, tổ chức của Việt Nam.

2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có liên quan đến giáo dục quốc phòng và an ninh.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Kiến thức quốc phòng và an ninh là hệ thống các quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về quốc phòng và an ninh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, phòng thủ dân sự, động viên quốc phòng, kinh tế kết hợp với quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh và kỹ năng quân sự.

2. Kỹ năng quân sự là khả năng thực hành những kiến thức cơ bản cần thiết về kỹ thuật, chiến thuật quân sự.

Điều 4. Mục tiêu giáo dục quốc phòng và an ninh

Nhằm giáo dục cho mọi công dân đường lối, nhiệm vụ quốc phòng và an ninh, kỹ năng quân sự cần thiết, để phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống chống ngoại xâm, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tự giác thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

Điều 5. Nguyên tắc giáo dục quốc phòng và an ninh

1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước.

2. Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, trong đó nhà nước giữ vai trò nòng cốt.

3. Kết hợp với giáo dục chính trị tư tưởng, phổ biến, giáo dục pháp luật và gắn với xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện.

4. Kết hợp giáo dục cơ bản tập trung, có trọng tâm, trọng điểm với bồi dưỡng, phổ biến bằng các hình thức phù hợp; giữa lý thuyết và thực hành.

5. Chương trình giáo dục quốc phòng và an ninh phải phù hợp từng đối tượng.

6. Đảm bảo tính kế hoạch, kế thừa, phát triển, khoa học, kịp thời, dễ hiểu, thiết thực và hiệu quả.

Điều 6. Chính sách của Nhà nước về giáo dục quốc phòng và an ninh

1. Nhà nước có chính sách ưu tiên bảo đảm nguồn lực cho giáo dục quốc phòng và an ninh đối với người dân khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng sâu, vùng xa.

2. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân đóng góp kinh phí, công sức, tài sản cho giáo dục quốc phòng và an ninh.

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có đóng góp tích cực trong giáo dục quốc phòng và an ninh được khen thưởng theo quy định của pháp luật.

Điều 7. Quyền và trách nhiệm của công dân về giáo dục quốc phòng và an ninh

Công dân có quyền, trách nhiệm học tập, nghiên cứu để nắm vững kiến thức quốc phòng và an ninh; được hưởng mọi quyền lợi như học tập, nghiên cứu các lĩnh vực khác.

Điều 8. Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 

1. Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh là cơ sở giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh, kỹ năng quân sự cho các đối tượng theo quy định của Luật này.

2. Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh gồm:

a) Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh thuộc nhà trường quân đội; b) Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh thuộc cơ sở giáo dục đại học.

3. Quy hoạch hệ thống trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh phải phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, hệ thống nhà trường quân đội và đáp ứng yêu cầu giáo dục quốc phòng và an ninh cho các đối tượng.

4. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch hệ thống và quy định điều kiện thành lập trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh.

Điều 9. Các hành vi bị cấm

1. Lợi dụng hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh để tuyên truyền xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tiết lộ bí mật nhà nước; xâm phạm lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

2. Sử dụng kinh phí, cơ sở vật chất giáo dục quốc phòng và an ninh sai mục đích hoặc gây ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh; lợi dụng giáo dục quốc phòng và an ninh để trục lợi.

3. Cản trở việc thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh.

 

Chương II: GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG  VÀ AN NINH  TRONG  NHÀ TRƯỜNG

Điều 10. Giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh tiểu học, trung học cơ sở

Giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh tiểu học, trung học cơ sở được thực hiện lồng ghép thông qua nội dung các môn học trong chương trình kết hợp với hoạt động ngoại khóa để hình thành những cơ sở, hiểu biết ban đầu về quốc phòng, an ninh, lực lượng vũ trang nhân dân, truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc; ý thức kỷ luật, tinh thần đoàn kết, yêu Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Điều 11. Giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh trung học phổ thông và tương đương, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp

1. Giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh trung học phổ thông và tương đương, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp là môn học chính khóa.

2. Bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết ban đầu về nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; về truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, của lực lượng vũ trang nhân dân và nghệ thuật quân sự Việt Nam; có kiến thức cơ bản, cần thiết về phòng thủ dân sự và kỹ năng quân sự, sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc.

3. Tổ chức dạy và học theo phân phối chương trình; trong năm học, các cơ sở giáo dục căn cứ vào điều kiện cụ thể, tổ chức cho học sinh nghiên cứu, học tập ngoại khoá với nội dung và hình thức thích hợp.

Điều 12. Giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên cao đẳng nghề, cao đẳng, đại học

1. Giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên cao đẳng nghề, cao đẳng, đại học là môn học chính khóa.

2. Bảo đảm cho sinh viên có kiến thức cơ bản về đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; bổ sung kiến thức về phòng thủ dân sự và kỹ năng quân sự.

3. Tổ chức dạy và học tập trung tại các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh hoặc cơ sở giáo dục đại học; trong chương trình, căn cứ vào điều kiện cụ thể, tổ chức cho sinh viên nghiên cứu học tập ngoại khoá với nội dung và hình thức thích hợp.

Điều 13. Giáo dục quốc phòng và an ninh cho học viên trong các trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội

1. Giáo dục quốc phòng và an ninh cho học viên trong các trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội là môn học chính khóa.

2. Bảo đảm cho học viên nắm vững đường lối của Đảng, quản lý của Nhà nước về quốc phòng, an ninh; nghệ thuật quân sự Việt Nam; tình hình và nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; khu vực phòng thủ; phòng thủ dân sự.

3. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quy định chương trình, nội dung; tổ chức thực hiện chương trình giáo dục quốc phòng và an ninh cho học viên trong các trường của tổ chức chính trị.

4. Trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội căn cứ chương trình khung do Bộ Quốc phòng quy định, xây dựng và thực hiện chương trình, nội dung giáo dục quốc phòng và an ninh đối với học viên trong trường.

 

Chương III: BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH

Điều 14. Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng trong các cơ quan, tổ chức nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội

l. Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng trong các cơ quan, tổ chức nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được thực hiện thống nhất trong phạm vi cả nước. Việc hoàn thành chương trình bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh đối với người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong cơ quan, tổ chức nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội là một trong các tiêu chuẩn bắt buộc.

2. Nội dung, chương trình, hình thức, thời gian bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho từng nhóm đối tượng căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý và yêu cầu nhiệm vụ.

3. Đối tượng bồi dưỡng gồm: 

a) Cán bộ, công chức, viên chức quản lý;

b) Người quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước;

c) Những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); trưởng thôn, bản, ấp, buôn, sóc, khóm, tổ dân phố, cụm dân cư, khu phố (sau đây gọi chung là cấp thôn); tr­ưởng các đoàn thể ở cấp thôn;

d)  Đảng viên không thuộc đối tượng quy định tại điểm a, b, c, khoản 3 Điều này.

4. Chính phủ quy định nhóm đối tượng, thẩm quyền triệu tập, cơ sở bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh đối với các đối tượng quy định tại khoản 3 Điều này.

Điều 15. Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho người quản lý doanh nghiệp ngoài nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập

1. Người quản lý doanh nghiệp ngoài nhà nước sau đây phải tham gia bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh:

a) Doanh nghiệp có quy mô vừa trở lên, có tổ chức bộ máy quản lý nghiệp vụ, có tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

b) Doanh nghiệp hoạt động phục vụ quốc phòng, an ninh;

c) Doanh nghiệp hoạt động ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

2. Người quản lý đơn vị sự nghiệp ngoài công lập phải tham gia bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh theo nội dung, chương trình, hình thức và thời gian như viên chức quản lý đơn vị sự nghiệp công lập có quy mô tương đương.

3. Chính phủ quy định thẩm quyền triệu tập, cơ sở bồi dưỡng đối với người quản lý doanh nghiệp ngoài nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập.

Điều 16. Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho những người có uy tín tiêu biểu và có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng dân cư

1. Nhà nước tổ chức bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho những người có uy tín tiêu biểu và có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng dân cư.

2. Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chủ trì, phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho những người có uy tín tiêu biểu và có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng dân cư.

3. Chính phủ quy định cụ thể về đối tượng, yêu cầu, điều kiện, thẩm quyền mời dự bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho những người có uy tín tiêu biểu và có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng dân cư.

Điều 17. Chế độ, quyền lợi đối với đối tượng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh

1. Đối tượng quy định tại khoản 3, Điều 14 của Luật này khi bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh được hưởng nguyên lương, phụ cấp; xa nơi cư trú được bố trí nơi nghỉ, hỗ trợ phương tiện hoặc thanh toán tiền tàu, xe một lần đi, về, hỗ trợ tiền ăn do ngân sách nhà nước bảo đảm.

2. Đối tượng quy định tại khoản 1, Điều 15 của Luật này khi bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh được hưởng nguyên lương, phụ cấp, hỗ trợ phương tiện hoặc thanh toán tiền tàu, xe một lần đi, về và hỗ trợ tiền ăn do doanh nghiệp ngoài nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập bảo đảm, khoản kinh phí này được tính vào các khoản chi của doanh nghiệp ngoài nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập; chi phí bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh và nơi nghỉ cho các đối tượng xa nơi cư trú do ngân sách nhà nước bảo đảm.

3. Những người có uy tín tiêu biểu và có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng dân cư khi bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh xa nơi cư trú được bố trí nơi nghỉ, hỗ trợ phương tiện hoặc thanh toán tiền tàu, xe một lần đi, về, hỗ trợ tiền ăn và chi phí bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh do ngân sách nhà nước bảo đảm.

 4. Người hoàn thành chương trình bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh được cấp chứng nhận.

 

Chương IV: PHỔ BIẾN KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH CHO TOÀN DÂN

Điều 18.  Nội dung phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho toàn dân

1. Chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh.

2. Âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

3. Nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong từng thời kỳ; trách nhiệm của công dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

4. Các biện pháp phòng thủ dân sự.

Điều 19. Hình thức phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh toàn dân

1. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.

2. Tổ chức cho báo cáo viên, tuyên truyền viên, cựu chiến binh, nhân chứng lịch sử tuyên truyền, phổ biến.

3. Thông qua hoạt động của các tổ chức đoàn thể, hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, hoạt động của các thiết chế văn hóa cơ sở và các hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống.

4. Lồng ghép phổ biến nhân các đợt gọi công dân nhập ngũ, các ngày kỷ niệm, ngày truyền thống.

5. Thông qua hoạt động của cơ quan, tổ chức quản lý các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, khu bảo tồn thiên nhiên, khu tưởng niệm, đài kỷ niệm, nghĩa trang liệt sỹ, nhà truyền thống, nhà bảo tàng, cung văn hóa, thể thao, cung thanh niên, thiếu niên, câu lạc bộ thể thao quốc phòng.

Điều 20. Phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho người dân ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng sâu, vùng xa

1. Phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho người dân ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng sâu, vùng xa thực hiện theo quy định tại Điều 18, Điều 19 của Luật này và bảo đảm yêu cầu sau:

 a) Gắn với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị đấu tranh phòng chống các loại tội phạm trên khu vực biên giới, hải đảo;

b) Căn cứ vào điều kiện cụ thể, tổ chức phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chủ hộ tàu, thuyền hoạt động dài ngày trên biển; chủ hộ gia đình khu vực biên giới, trên đảo; người lao động ở khu vực biên giới, hải đảo.

2. Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động tình nguyện phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho người dân khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng sâu, vùng xa; cấp miễn phí các tài liệu giáo dục quốc phòng và an ninh cho đồng bào dân tộc thiểu số.

3. Ủy ban nhân dân các cấp chủ trì, phối hợp với Bộ đội biên phòng, Bộ đội hải quân, Công an, Cảnh sát biển tổ chức phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho người dân ở biên giới, hải đảo, miền núi, vùng sâu, vùng xa.

Điều 21. Phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng trong các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp

1. Người quản lý doanh nghiệp ngoài nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập không thuộc diện bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh, người lao động trong các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp được phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh theo quy định tại Điều 18, Điều 19 của Luật này và bảo đảm yêu cầu sau:

 a) Gắn với quyền, nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;

 b) Chú trọng phổ biến trực tiếp và lồng ghép với các hình thức thích hợp.

2. Người quản lý doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp có trách nhiệm phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho người lao động; tổ chức công đoàn vận động người lao động tìm hiểu, học tập kiến thức quốc phòng và an ninh.

3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo cơ quan quân sự, công an cùng cấp tổ chức phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này.

 

Chương V: BẢO ĐẢM CHO HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH

Mục 1. GIÁO VIÊN, GIẢNG VIÊN, BÁO CÁO VIÊN, TUYÊN TRUYỀN VIÊN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH

Điều 22. Giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh

1. Giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh bao gồm giáo viên, giảng viên chuyên trách, kiêm nhiệm, thỉnh giảng và cán bộ quân đội, công an biệt phái.

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ quy định định mức giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh trong các cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh.

3. Trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh

a) Giáo viên giáo dục quốc phòng và an ninh trung học phổ thông, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp có bằng cử nhân giáo dục quốc phòng và an ninh hoặc có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành khác và phải có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và chứng chỉ đào tạo giáo viên giáo dục quốc phòng và an ninh, thời gian đào tạo không dưới 6 tháng.

b) Giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh cao đẳng nghề, cao đẳng, đại học có bằng cử nhân giáo dục quốc phòng và an ninh trở lên hoặc có bằng tốt nghiệp đại học trở lên chuyên ngành khác và phải có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và chứng chỉ đào tạo giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh, thời gian đào tạo không dưới 6 tháng.

c) Sau 5 năm kể từ khi Luật này có hiệu lực, cơ bản giáo viên, giảng viên phải đạt trình độ chuẩn theo quy định của Luật giáo dục và Luật giáo dục đại học.

Điều 23. Đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh

1. Đào tạo giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh:

a) Đào tạo chính quy chuyên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh, tập trung 4 năm với đối tượng tuyển sinh là những người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc tương đương theo quy định của pháp luật;

b) Đào tạo văn bằng 2, tập trung 2 năm với đối tượng tuyển sinh là những người đã có bằng tốt nghiệp đại học ngành khác;

c) Đào tạo văn bằng 2, tập trung 18 tháng với đối tượng tuyển sinh là giáo viên hiện đang giảng dạy tại các trường trung học phổ thông, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp và đã có chứng chỉ đào tạo giáo dục quốc phòng và an ninh thời gian đào tạo không dưới 6 tháng;

d) Đào tạo văn bằng 2, tập trung 18 tháng với đối tượng tuyển sinh là giảng viên cao đẳng, đại học đã có bằng tốt nghiệp đại học trở lên chuyên ngành khác và đã có chứng chỉ đào tạo giáo dục quốc phòng và an ninh thời gian đào tạo không dưới 6 tháng;

đ) Chính phủ quy định điều kiện cơ sở giáo dục đại học, trường của lực lượng vũ trang nhân dân được đào tạo giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh; Bộ Giáo dục và Đào tạo thẩm định, cho phép các cơ sở giáo dục đại học, trường của lực lượng vũ trang nhân dân có đủ điều kiện đào tạo giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh;

e) Bộ Giáo dục và Đào tạo, bộ, ngành có liên quan, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo các cơ sở giáo dục trực thuộc xây dựng kế hoạch tuyển sinh, đào tạo, tuyển dụng đội ngũ giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh ở các cơ sở giáo dục từ trung học phổ thông đến đại học.

2. Giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh hằng năm được bồi dưỡng, tập huấn tại các trường của lực lượng vũ trang nhân dân, trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Điều 24. Chế độ, quyền lợi đối với giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh

1. Giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh kể cả cán bộ quân đội, công an biệt phái được hưởng chế độ bồi dưỡng giờ giảng.

2. Giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh được bảo đảm chế độ trang phục, trừ cán bộ quân đội, công an biệt phái.

Điều 25. Báo cáo viên giáo dục quốc phòng và an ninh

Báo cáo viên giáo dục quốc phòng và an ninh gồm:

1. Lãnh đạo các bộ, ngành trung ương.

2. Lãnh đạo các tổng cục, quân khu, quân chủng, binh chủng và tương đương của Bộ Quốc phòng; các tổng cục, cục, vụ và tương đương của Bộ Công an, bộ, ngành liên quan.

3. Lãnh đạo cấp tỉnh, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện); cấp xã.

4. Chuyên gia, nhà khoa học, giảng viên, giáo viên chuyên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh.

Điều 26. Tuyên truyền viên giáo dục quốc phòng và an ninh

Tuyên truyền viên giáo dục quốc phòng và an ninh là người có uy tín, kiến thức, am hiểu về quốc phòng, an ninh được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận.

Điều 27. Trách nhiệm và quyền lợi của báo cáo viên, tuyên truyền viên giáo dục quốc phòng và an ninh

1. Truyền đạt đúng nội dung giáo dục quốc phòng và an ninh quy định cho từng đối tượng.

2. Tham dự các hoạt động bồi dưỡng, tập huấn để nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc do cấp có thẩm quyền tổ chức.

3. Được cung cấp thông tin và các tài liệu cần thiết liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

4. Hưởng thù lao theo quy định của nhà nước; được khen thưởng trong hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh.

   

Mục 2. BẢO ĐẢM KINH PHÍ GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH

Điều 28. Nguồn kinh phí

1. Kinh phí cho giáo dục quốc phòng và an ninh do ngân sách nhà nước bảo đảm, được bố trí hằng năm theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

2. Kinh phí bảo đảm cho giáo dục quốc phòng và an ninh của các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp.

3. Các khoản thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 29. Nội dung chi giáo dục quốc phòng và an ninh

1. Chi thường xuyên.

2. Chi đầu tư phát triển.

3. Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.

4. Chính phủ quy định cụ thể nội dung chi cho giáo dục quốc phòng và an ninh.

Điều 30. Lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách giáo dục quốc phòng và an ninh

1. Hằng năm, bộ, ngành trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách cho nhiệm vụ giáo dục quốc phòng và an ninh theo quy định của pháp luật.

2. Hằng năm, các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp có kế hoạch bảo đảm kinh phí thực hiện công tác giáo dục quốc phòng và an ninh.

 

CHƯƠNG VI: NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC VỀ GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH

Điều 31. Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục quốc phòng và an ninh

1. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh.

2. Tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh.

3. Quy định chương trình, nội dung; biên soạn, xuất bản, in, phát hành giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu; tiêu chuẩn giáo viên, giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên; tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị dạy học giáo dục quốc phòng và an ninh và cấp chứng nhận bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh.

4. Quản lý nguồn lực phát triển giáo dục quốc phòng và an ninh.

5. Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý giáo viên, giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên giáo dục quốc phòng và an ninh.

6. Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực giáo dục quốc phòng và an ninh.

7. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục quốc phòng và an ninh.

8. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, sơ kết, tổng kết việc chấp hành pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh.

Điều 32. Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục quốc phòng và an ninh

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục quốc phòng và an ninh trong phạm vi cả nước.

2. Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục quốc phòng và an ninh.

3. Bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ Quốc phòng thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục quốc phòng và an ninh theo thẩm quyền.

4. Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục quốc phòng và an ninh tại địa phương.

Điều 33. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Quốc phòng

1. Trình Chính phủ ban hành và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh theo thẩm quyền.

2. Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan lập quy hoạch hệ thống trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh và câu lạc bộ thể thao quốc phòng trên phạm vi cả nước, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định; quyết định thành lập trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh thuộc các nhà trường quân đội; quy định quy chế, tổ chức và hoạt động câu lạc bộ thể thao quốc phòng.

3. Chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và các bộ, ngành liên quan:

a) Quy định chương trình khung giáo dục quốc phòng và an ninh cho học viên trong các trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội; chương trình, nội dung bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng trong các cơ quan, tổ chức nhà nước; chương trình, nội dung bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh đối với những người có uy tín tiêu biểu và có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng dân cư.

b) Biên soạn đề cương, tài liệu phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh phù hợp với tình hình, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong từng thời kỳ.

4. Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan thực hiện bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng theo quy định của pháp luật; quy định nhiệm vụ, quyền hạn cho các cơ quan, đơn vị thuộc quyền, ban chỉ huy quân sự các bộ, ngành về giáo dục quốc phòng và an ninh.

5. Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, ngành liên quan đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn giáo viên, giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên, cán bộ quản lý, kiêm nhiệm giáo dục quốc phòng và an ninh; cử cán bộ biệt phái cho các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh, cơ sở giáo dục đại học, cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục.

6. Bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật, thiết bị dạy học quân dụng chuyên dùng phục vụ dạy và học môn học giáo dục quốc phòng và an ninh cho các cơ sở giáo dục trong phạm vi cả nước, bảo đảm phương tiện, vật chất về giáo dục quốc phòng và an ninh cho các cơ quan, đơn vị, học viện, nhà trường quân đội được giao nhiệm vụ giáo dục quốc phòng và an ninh.

7. Tổ chức, hướng dẫn thanh tra, kiểm tra, sơ kết, tổng kết, thực hiện khen thưởng; giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh theo thẩm quyền.

8. Thực hiện hợp tác quốc tế về giáo dục quốc phòng và an ninh.

Điều 34. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Công an

1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh theo thẩm quyền.

2. Phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, ngành liên quan thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh theo quy định của Luật này; chủ trì biên soạn giáo trình, tài liệu giáo dục, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức an ninh.

3. Cử cán bộ biệt phái cho các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh, cơ sở giáo dục đại học, cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục.

4. Bảo đảm phương tiện, vật chất cho các cơ quan, đơn vị, học viện, nhà trường công an được giao nhiệm vụ giáo dục quốc phòng và an ninh.

Điều 35. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Giáo dục và Đào tạo

1. Ban hành và trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh theo thẩm quyền.

2. Chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an hướng dẫn giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh tiểu học, trung học cơ sở; quy định chương trình, nội dung, tổ chức thực hiện chương trình giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh, sinh viên từ trung học phổ thông đến đại học trừ trung cấp nghề, cao đẳng nghề.

3. Chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, các bộ liên quan thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh ở các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.

4. Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, ngành liên quan quy định chế độ, quyền lợi cho giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh.

5. Bảo đảm phương tiện, vật chất cho các cơ quan, đơn vị, cơ sở giáo dục được giao nhiệm vụ giáo dục quốc phòng và an ninh.

6. Quyết định thành lập trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh thuộc quyền.

Điều 36. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Nội vụ

1. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan quy định về chế độ, chính sách đội ngũ cán bộ quản lý, kiêm nhiệm, giáo viên, giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên giáo dục quốc phòng và an ninh.

2. Chủ trì, phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan, tổ chức có liên quan, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo cơ quan chức năng thực hiện bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho người có uy tín tiêu biểu và có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng dân cư.

3. Bảo đảm phương tiện, vật chất về giáo dục quốc phòng và an ninh cho các cơ quan, đơn vị, cơ sở giáo dục thuộc quyền.

Điều 37. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

1. Chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chương trình, nội dung; tổ chức thực hiện chương trình giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh, sinh viên trung cấp nghề, cao đẳng nghề.

2. Bảo đảm phương tiện, vật chất cho các cơ quan, đơn vị, cơ sở dạy nghề được giao nhiệm vụ giáo dục quốc phòng và an ninh.

Điều 38. Nhiệm vụ, quyền hạn của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và tương đương

1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo và các bộ có liên quan thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục quốc phòng và an ninh; ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh theo quy định của pháp luật.

2. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh gắn với thực hiện các nhiệm vụ của mình.

3. Bảo đảm phương tiện, vật chất về giáo dục quốc phòng và an ninh cho các cơ quan, đơn vị, cơ sở giáo dục thuộc quyền.

4. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác về giáo dục quốc phòng và an ninh theo quy định của pháp luật.

Điều 39. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân các cấp về giáo dục quốc phòng và an ninh

Giám sát Uỷ ban nhân dân cùng cấp và các cơ quan nhà nước ở địa phương trong thực hiện pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh; quyết định ngân sách bảo đảm cho giáo dục quốc phòng và an ninh ở địa phương.

Điều 40 Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân các cấp về giáo dục quốc phòng và an ninh

1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch, đề án về  giáo dục quốc phòng và an ninh theo thẩm quyền.

2. Chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức triển khai giáo dục quốc phòng và an ninh tại địa phương.

3. Bồi dưỡng, tập huấn, quản lý đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh; biên chế giáo viên giáo dục quốc phòng và an ninh cho các cơ sở giáo dục từ trung học phổ thông đến đại học trên địa bàn theo quy định của pháp luật.

4. Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình về giáo dục quốc phòng và an ninh; có trách nhiệm tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ giáo dục quốc phòng và an ninh tại địa phương.

5. Trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định ngân sách bảo đảm cho hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh ở địa phương.

6. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh thuộc quyền.

7. Thanh tra, kiểm tra giải quyết khiếu nại, tố cáo, sơ kết, tổng kết, khen thưởng việc chấp hành pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh.

Điều 41. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên về giáo dục quốc phòng và an ninh

1. Tổ chức phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho đoàn viên, hội viên của tổ chức mình.

2. Phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thường xuyên học tập nâng cao kiến thức quốc phòng và an ninh; bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho người có uy tín tiêu biểu và có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng dân cư theo quy định của pháp luật.

3. Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh.

4. Vận động tổ chức, cá nhân tham gia, hỗ trợ các hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh.

Điều 42. Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh các cấp

1. Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh được thành lập ở trung ương, quân khu, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã.

2. Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, có chức năng tham mưu, tư vấn cho Đảng, chính quyền các cấp về công tác giáo dục quốc phòng và an ninh.

3. Cơ quan thường trực Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh ở trung ương là Bộ Quốc phòng, ở quân khu là cơ quan quân khu, ở cấp tỉnh, cấp huyện là cơ quan quân sự cùng cấp, ở cấp xã là Ban chỉ huy quân sự cấp xã.

4. Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương và quân khu; Ủy ban nhân dân các cấp thành lập Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh ở cấp mình để giúp Ủy ban nhân dân tổ chức thực hiện công tác giáo dục quốc phòng và an ninh ở địa phương.

Điều 43. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức về giáo dục quốc phòng và an ninh

1. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh cho các đối tượng  thuộc quyền theo quy định của Luật này.

2. Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan, tổ chức thuộc quyền  thực hiện các quy định của pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh.

 

Chương VII: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 44. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014.

2. Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.

Điều 45. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

Chính phủ, cơ quan có thẩm quyền quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật. 

 

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá  XIII, kỳ họp thứ năm thông qua ngày….tháng...năm 2013.

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com