Thứ hai, ngày 21/04/2014login
  • Lĩnh vực: Khoa học, Công nghệ & Môi trường
  • Cơ quan trình dự thảo: Chính phủ
  • Cơ quan chủ trì soạn thảo: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
  • Ủy ban thẩm tra: Ủy ban Khoa học, Công nghệ & Môi trường
  • Thảo luận tại: Kỳ họp thứ 4 - Khóa XIII
  • Thông qua tại: Kỳ họp thứ 5 - Khóa XIII
  • Trạng thái: Đã thông qua

Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về hoạt động phòng, tránh thiên tai, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong hoạt động phòng, tránh thiên tai và các nguồn lực bảo đảm việc thực hiện.

Tóm tắt dự thảo

1.  Phòng chống thiên tai là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân; đề cao tính chủ động của cá nhân, cộng đồng trong phòng chống thiên tai.

Vấn đề đặt ra:

Phòng chống thiên tai là một lĩnh vực đa ngành, có sự tham gia quản lý và thực hiện của nhiều bộ, ngành, địa phương. Hơn nữa, đây cũng là một công tác có một chu trình dài từ hoạt động chuẩn bị, đến ứng phó và khắc phục hậu quả của thiên tai. Mỗi hoạt động lại có thể bao gồm nhiều nhiệm vụ và mỗi nhiệm vụ lại có thể cần sự tham gia chỉ đạo, điều hành và phối hợp thực hiện của nhiều bộ, ngành, địa phương.

Đơn cử như hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục kiến thức và pháp luật về phòng chống thiên tai. Hoạt động này là một nhiệm vụ thường xuyên nhưng được chú trọng thực hiện từ giai đoạn phòng ngừa để xây dựng năng lực và nâng cao nhận thức của cộng đồng. Để thực hiện hoạt động này một cách hiệu quả cần có sự tham gia xây dựng nội dung tuyên truyền với từng loại hình thiên tai cụ thể.

- Với những loại hình thiên tai có liên quan đến nước, trách nhiệm xây dựng nội dung thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

- Đối với động đất và sóng thần, trách nhiệm xây dựng nội dung thuộc về Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

- Với cách thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cũng cần có sự tham gia và xác định trách nhiệm của nhiều bộ, ngành, địa phương khác nhau. Bộ Giáo dục Đào tạo có trách nhiệm lồng ghép nội dung phòng chống thiên tai vào chương trình giáo dục các cấp.

- Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm về công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung. Các chính quyền địa phương chịu trách nhiệm thực hiện công tác này tại địa bàn của mình.

- Đồng thời, để công tác này được hiệu quả trách nhiệm của cá nhân, tổ chức tham gia vào hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và kiến thức về Phòng chống thiên tai cũng cần được xác định.

Như vậy, chỉ với một nhiệm vụ nhỏ thuộc hoạt động phòng ngừa cũng có thể liên quan tới quyền và trách nhiệm cá nhân, tổ chức và nhiều cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương. Các chủ thể này cũng có thể còn có quyền và trách nhiệm tại các nội dung khác trong hoạt động phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả.

Một số nội dung chính sách chính được đề cập trong dự án

- Phân công trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân, các cơ quan Bộ, ngành chính chịu trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ trong chu trình phòng chống thiên tai, cụ thể: từ Điều 13 đến Điều 33 và Điều 35.

- Quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, xã hội, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, dân sự và tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam, cụ thể: từ điều 36 đến Điều 38.

- Quyền và trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương, cụ thể: từ Điều 39 đến Điều 44.

2.  Công tác phòng chống thiên tai thực hiện theo phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm”, sử dụng hiệu quả nguồn lực của nhà nước, đồng thời huy động mọi nguồn lực của cộng đồng, của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia.

Vấn đề đặt ra

Công tác phòng chống thiên tai hiện nay chủ yếu cho Nhà nước thực hiện. Nhà nước đã chú trọng đầu tư kinh phí cho công tác phòng chống thiên tai.  Cụ thể là đầu tư ngân sách cho các địa phương để xây dựng, tu bổ đê điều và hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai. Do vậy, người dân còn chưa thực sự chủ động thực hiện phòng chống thiên tai và còn trông chờ vào sự trợ giúp của nhà nước. Hiện tượng chủ quan vẫn còn xảy ra, các biện pháp phòng ngừa cần thiết chưa được thực hiện triệt làm gia tăng rủi ro khi thiên tai, đồng thời gây khó khăn cho công tác ứng phó kịp thời, hiệu quả. Người dân chưa nhận thức được vai trò và các trách nhiệm cụ thể của chính mình trong quá trình phòng chống thiên tai.

Để ứng phó với thiên tai hiệu quả, việc chủ động phòng ngừa và ứng phó của người dân và cộng đồng tại khu vực xảy ra thiên tai là vô cùng quan trọng. Bởi nếu chỉ trông chờ và dựa vào sự trợ giúp từ bên ngoài, việc ứng phó thiên tai có thể không kịp thời, do vậy có thể dẫn đến sự thiếu hiệu quả, làm trầm trọng thêm hậu quả do thiên tai gây ra.

Một số nội dung chính sách chính được đề cập trong dự án

Nguồn tài chính cho hoạt động phòng chống thiên tai bao gồm:

a.   Ngân sách nhà nước;

b.  Quỹ đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước;

c.   Quỹ Phòng chống thiên tai;

d.  Nguồn kinh phí hợp pháp khác.

Quỹ Phòng chống thiên tai

a.   Quỹ Phòng chống thiên tai là quỹ do địa phương quản lý.

b.  Quỹ Phòng chống thiên tai có nguồn thu từ đóng góp bắt buộc của tổ chức, cá nhân theo quy định của Chính phủ và hỗ trợ tự nguyện khác.

c.   Quỹ Phòng chống thiên tai được sử dụng để hỗ trợ hoạt động phòng chống thiên tai.

d.  Chính phủ quy định việc thành lập, cơ chế đóng góp, miễn giảm, quản lý và sử dụng Quỹ Phòng chống thiên tai.

3.  Nội dung phòng chống thiên tai phải được lồng ghép trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, từng lĩnh vực, quốc gia.

Vấn đề đặt ra

Nhằm đáp ứng sự quan tâm ngày càng tăng đối với vấn đề giảm nhẹ rủi ro thiên tai, các văn kiện quốc tế như Khung Hành động Hyogo và Hiệp định AADMER đã khuyến nghị các quốc gia lồng ghép nội dung giảm nhẹ rủi ro thiên tai vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội tại mỗi quốc gia nhằm nâng cao khả năng phục hồi sau thiên tai ở các nước đang phát triển. Trong Luật của các quốc gia trên thế giới như Indonesia, Pakistan và Philippines đều đề cập đến việc lồng ghép nội dung giảm nhẹ rủi ro thảm họa vào kế hoạch phát triển theo một số cách thức khác nhau. Trung Quốc gần đây cũng đã ban hành một quy định mới về các thảm họa khí tượng trong đó yêu cầu thực hiện việc lồng ghép các khía cạnh của quản lý rủi ro thảm họa vào chương trình dạy học, từ đó các học sinh có thể được dạy cách làm thế nào để tự bảo vệ bản thân và những người khác khi xảy ra thảm họa.

Trong khi đó, tại Việt Nam đa số các văn bản pháp luật đã có quy định về xây dựng kế hoạch, phương án phòng chống thiên tai nhưng ít văn bản quy định phải đưa kế hoạch này thành một bộ phận của Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của nhà nước và địa phương. Các khuôn khổ pháp lý này, chưa toàn diện và đầy đủ như các khung pháp luật quốc tế.

Một số nội dung chính sách chính được đề cập trong dự án

Theo quy định tại Điều 4 của Dự thảo Luật về Nguyên tắc cơ bản trong phòng chống thiên tai thì: Nội dung phòng chống thiên tai phải được lồng ghép trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của cả nước, bộ, ngành, địa phương.

Ngoài ra, nội dung của việc lồng ghép được cụ thể hóa tại Điều 17:

1. Quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kinh tế-xã hội của các bộ, ngành, địa phương phải có nội dung phòng chống thiên tai để đảm bảo tổ chức sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp và các hoạt động kinh tế, xã hội phù hợp với đặc thù thiên tai của từng vùng, địa phương.

2. Trách nhiệm lồng ghép nội dung phòng chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kinh tế-xã hội

a)  Địa phương có trách nhiệm lồng ghép nội dung phòng chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của địa phương;

b)  Các bộ, ngành có trách nhiệm lồng ghép nội dung phòng chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành;

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan hướng dẫn lồng ghép nội dung phòng chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kinh tế-xã hội.”

4.  Công tác phòng chống thiên tai lấy phòng ngừa là chính, không ngừng nghiên cứu tác động của biến đổi của khí hậu toàn cầu, nước biển dâng và những hiện tượng bất thường khác của khí hậu để ứng phó phù hợp.

Vấn đề đặt ra

Theo quy định của các điều ước quốc tế trong lĩnh vực quản lý rủi ro thiên tai và thực tiễn các nước cho thấy để công tác PCTT có hiệu quả cần chú trọng một cách thích đáng đến cả các bước của chu trình quản lý rủi ro thiên tai, đó là đánh giá, giám sát, cảnh báo rủi ro thiên tai, phòng ngừa, giảm nhẹ rủi ro thiên tai, chuẩn bị ứng phó, ứng phó khẩn cấp và tái thiết.

Tuy nhiên hiện nay, hoạt động PCTT ở Việt Nam chủ yếu chú trọng vào giai đoạn ứng phó và khắc phục hậu quả mà chưa tập trung vào các giai đoạn còn lại. Hoạt động liên quan đến công tác dự báo, cảnh báo và phòng ngừa còn có những khiếm khuyết. Đặc biệt ở những khu vực địa lý khó khăn, thông tin dự báo đôi khi còn không chính xác và kịp thời giảm hiệu quả của công tác phòng ngừa và ứng phó với thiên tai. Ở mức độ cộng đồng, người dân còn coi nhẹ tầm quan trọng của giai đoạn cảnh báo, giám sát, phòng ngừa và giảm nhẹ thiên tai. Chưa có những quy định cụ thể về các nghĩa vụ của người dân và doanh nghiệp cần tuân thủ các yêu cầu của chu trình quản lý rủi ro thiên tai trong các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên đất, nước, rừng; hoạt động xây dựng và giao thông. Việc quy hoạch và đánh giá tác động của các công trình thủy lợi còn chưa tính đến tất cả các yếu tố liên quan đến PCTT

Một số nội dung chính sách chính được đề cập trong dự án

Để khắc phục tình trạng nêu trên, Dự thảo Luật đã xây dựng Chương 2: Hoạt động phòng chống thiên tai, gồm 3 Mục với 23 điều, để quy định hoạt động phòng chống thiên tai theo ba giai đoạn: phòng ngừa; ứng phó; khắc phục hậu quả thiên tai.

5.  Công tác phòng chống thiên tai phải phát huy và kế thừa kinh nghiệm truyền thống, kết hợp với kiến thức, công nghệ hiện đại và tăng cường hợp tác quốc tế.

Vấn đề đặt ra

Những năm qua, Việt Nam đã tích cực hợp tác có trách nhiệm, có hiệu quả với cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. Việt Nam đã tham gia kí kết và tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto và Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu, Khung hành động Hyogo về giảm nhẹ thiên tai, Hiệp định ASEAN về quản lí thiên tai và ứng phó khẩn cấp (AADMER) và Hướng dẫn Tuyên truyền trong nước về ứng phó và khắc phục hậu quả ban đầu sau thảm hoạ (Hướng dẫn IDRL).

Văn kiện quốc tế quan trọng nhất liên quan đến vấn đề giảm nhẹ rủi ro thiên tai/ thảm họa ở Việt Nam hiện nay là Hiệp định ASEAN về quản lý thảm họa và ứng phó khẩn cấp (AADMER). Hiệp định này có hiệu lực từ ngày 24/12/2009 và các quy định của nó có hiệu lực ràng buộc đối với tất cả các nước thành viên. Trong bối cảnh Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định, việc xây dựng luật về PCTT mang đến cơ hội tốt để Việt Nam nội luật hóa các quy định trong Hiệp định AADMER cũng như tăng cường sự hiểu biết về Hiệp định này trong các cơ quan nhà nước và các tổ chức khác có liên quan đến PCTT. Do đó, các quy định trong Hiệp định AADMER và cách thức mà các quy định này được phản ánh trong luật mới về PCTT.

Một số nội dung chính sách chính được đề cập trong dự án

Nội dung về hợp tác quốc tế được thể hiện tại Điều 11 dự thảo Luật về Hợp tác quốc tế về phòng chống thiên tai:

“1. Hợp tác quốc tế về phòng chống thiên tai phải phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

2. Ưu tiên các hoạt động hợp tác quốc tế về phòng chống thiên tai trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đào tạo kỹ thuật; chia sẻ kinh nghiệm và phối hợp tìm kiếm cứu nạn; hợp tác đầu tư, xây dựng, nâng cấp công trình phòng chống thiên tai.

3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan đầu mối cung cấp thông tin về phòng chống thiên tai trong hoạt động hợp tác quốc tế.”

 

Kết quả biểu quyết của đại biểu quốc hội tại hội trường
Tổng hợp ý kiến:

1.     Về tên gọi của Luật

Về vấn đề này, đa số ý kiến cho rằng nên lấy tên Luật là “Luật phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai” với lý do:

Thứ nhất, đa số ý kiến đều cho rằng thiên tai, thảm họa bất khả kháng, không thể chống được. Việc dùng từ “tránh” là phù hợp vì “tránh” cũng bao hàm sự ứng phó ở trong đó.

Thứ hai, tên gọi “Luật phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai” đã được dùng trong Nghị quyết số 20/2011/QH13 ngày 26/11/2011 về Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII.

Trái ngược với quan điểm, có ý kiến cho rằng nên lấy tên “Luật Phòng chống thiên tai” bởi vì tên gọi này ngắn gọn, đầy đủ, bao quát toàn diện các vấn đề trong hoạt động phòng chống thiên tai (PCTT); đồng thời phản ánh và khái quát được những nét chung nhất về bản chất, nội hàm và mục đích của việc ban hành Luật.

2.     Về vai trò của nhà nước trong phòng, chống thiên tai

Khoản 2 Điều 4 dự thảo luật quy định phòng, chống thiên tai là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân, trong đó: “Cá nhân chủ động, cộng đồng giúp nhau, nhà nước hỗ trợ”

Đa số các ý kiến cho rằng quy định này về vai trò của nhà nước là không hợp lý. Với các lý do:

Trước hết, phòng, chống thiên tai là công việc hệ trọng, có liên quan đến sinh mạng, tài sản của công dân và đất nước. Nhà nước ta là “Nhà nước của dân, do dân và vì dân”. Do đó, trong công tác phòng, chống thiên tai, nhà nước không thể chỉ giữ vai trò “hỗ trợ”. Quy định như vậy là tạo kẽ hở cho sự thoái thác trách nhiệm của chính quyền các cấp trong công tác phòng, chống thiên tai.

Thứ hai, dự thảo luật đưa ra các quy định, chế tài cụ thể về lồng ghép nội dung phòng chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các bộ, ngành và địa phương. Việc “lồng ghép” đó không thể là nhiệm vụ của cá nhân, cộng đồng mà phải là của chính quyền các cấp. Do đó, nếu nhà nước chỉ có vai trò “hỗ trợ”, ai sẽ là người có trách nhiệm “lồng ghép” theo quy định của luật?

Thứ ba, khi thiên tai xảy ra, tác hại là rất lớn và trong phạm vi rộng. Để khắc phục hậu quả cần có sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều cấp và có thể là nhiều địa phương có liên quan. Do đó, để khắc phục hậu quả của thiên tai, cần có sự chỉ huy thống nhất từ một trung tâm, hay nói cách khác, khi đó rất cần có một “nhạc trưởng” để điều phối mọi hoạt động nhằm đảm bảo nhanh, chính xác, giảm thiểu đến mức thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra. Từng cá nhân hoặc cộng đồng dân cư, các tổ chức độc lập không thể thực hiện được nhiệm vụ này. Đó phải là nhiệm vụ của nhà nước, từ Trung ương đến địa phương. Vị trí là người “hỗ trợ” không phù hợp với vai trò “nhạc trưởng” của nhà nước.

Từ những phân tích trên, các ý kiến này đề nghị sửa lại nguyên tắc như sau: Phòng chống thiên tai là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân, trong đó “Cá nhân chủ động, cộng đồng giúp nhau, nhà nước chịu trách nhiệm chính”.                 

3.     Về cơ quan chỉ đạo, chỉ huy phòng chống thiên tai

Thực tiễn thời gian qua cho thấy rằng, hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống lụt, bão và Ban Chỉ huy về phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn ở các địa phương có hiệu quả, chỉ đạo kịp thời công tác phòng, chống lụt, bão.

Do đó, một số ý kiến cho rằng, để vừa đảm bảo tính chủ động, hiệu quả và tính kịp thời của công tác phòng chống thiên tai, vừa kế thừa về bộ máy của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống lụt, bão và Ban Chỉ huy về phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn hiện nay,  cần quy định rõ về Ban chỉ đạo phòng chống thiên tai trong dự án Luật này. Theo đó, ở Trung ương là Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai; ở địa phương là Ban Chỉ huy về phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn. Tuy nhiên, để tránh có sự hiểu nhầm, quy định Ban chỉ đạo phòng chống thiên tai trong luật là sẽ làm phát sinh thêm bộ máy quản lý nhà nước một cách không cần thiết, thì Tờ trình cần thể hiện rõ, việc quy định này không làm phát sinh thêm bộ máy quản lý nhà nước mà chỉ là hoàn thiện và đổi tên Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống lụt, bão hiện nay cho phù hợp với phạm vi điều chỉnh của dự án Luật.

4.     Về việc phân định trách nhiệm trong hoạt động phòng chống thiên tai

Khoản 2, Điều 40 dự thảo luật giao Bộ NN và PTNT chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành giúp Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống thiên tai trong phạm vi thẩm quyền được giao. Đa số ý kiến cho rằng, quy định như vậy có thể gây khó cho việc phân định rành mạch, rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền cũng như quá trình tổ chức triển khai thực hiện công việc có liên quan đến PCTT của các bộ. Mặt khác, theo chủ trương cải cách hành chính hiện nay, trong phân định chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ cần đảm bảo nguyên tắc “một việc chỉ giao cho một bộ, một cơ quan phụ trách và chịu trách nhiệm chính”. Do vậy, để đảm bảo nguyên tắc trên cần quy định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của từng bộ, ngành đối với từng nội dung PCTT tương ứng. Chẳng hạn hoạt động tổ chức thu thập, xử lý thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ hoạt động cảnh báo, dự báo và PCTT nên quy trách nhiệm cho Bộ TN-MT.

Tán thành quan điểm này, có ý kiến đề nghị nên chăng trong Luật vạch ra sơ đồ tổ chức hệ thống phòng, chống thiên tai từ Trung ương đến địa phương, mối liên hệ giữa cơ quan trong quá trình phòng, chống thiên tai, chuẩn bị như thế nào, ứng phó như thế nào từ sơ đồ đó sẽ thấy rõ trách nhiệm từng cơ quan. 

5.     Về nguồn lực cho hoạt động phòng chống thiên tai

Đồng tình với quan điểm trên, có một số ý kiến cho rằng dự thảo đưa ra 2 loại quỹ bắt buộc và tự nguyện là không hợp lý. Theo các ý kiến này, dự án Luật còn rơi vào tình trạng: “sinh ra luật ở lĩnh vực nào cũng là hình thành thêm các quỹ”. Các loại quỹ này lại kèm theo các loại thu trong khi chúng ta đã có khoản thu mang tính bắt buộc là thuế. Với dự án Luật này, Ban soạn thảo cũng đề ra như vậy, ngoài quỹ ngân sách đài thọ là chủ yếu thì còn có quỹ ủng hộ tự nguyện và thêm một quỹ nữa là quỹ phòng, chống bão lũ với nguyên tắc bắt buộc. Việc đặt ra các quỹ này làm cho nguồn lực của quốc gia bị phân tán trong khi sự đóng góp của nhân dân nhiều. Thực tế các quỹ phòng, chống bão lũ vừa qua không giải quyết được vấn đề lớn, khi bão lũ, sạt lở xảy ra thì ngân sách vẫn là nguồn chính, còn quỹ phòng, chống bão lũ chưa thể gánh vác hết được.

Mặt khác, trong dự án Luật này, nếu đặt ra một loại khoản thu do Chính phủ quy định thì không phù hợp với Luật về ngân sách. Đã là một loại thuế, một khoản bắt buộc thì phải do Quốc hội quyết định việc đưa vào dự án luật, chứ không thể nào Chính phủ quy định mức thuế, chính sách miễn giảm, hay quản lý…

Trái ngược với quan điểm trên, một số ý kiến cho rằng việc lập Quỹ phòng chống lụt bão là cần thiết vì khi xảy ra thiên tai, thảm họa nên có nơi quản lý chặt chẽ, thống nhất kinh phí của các cá nhân, tổ chức ủng hộ. Tuy nhiên, cần cân nhắc về việc có phải đóng góp bắt buộc hay không?

6.     Một số quy định khác

- Về các hành vi bị cấm

Có ý kiến đề xuất rằng, ngoài 10 hành vi bị cấm đã nêu, đề nghị bổ sung các hành vi sau đây: chặt phá rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ ven biển; khai thác tài nguyên, khoáng sản trong các sông suối không theo quy hoạch, không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép, tăng nguy cơ rủi ro thiên tai.

Đồng tình với quan điểm trên, có ý kiến cho rằng Luật quy định “những hành vi bị cấm” thì cần phải quy định những hành vi phải thực hiện. Ví dụ như đối với các phương tiện tàu thuyền hoạt động trên sông, trên biển phải trang bị đầy đủ các thiết bị an toàn, phương tiện thông tin liên lạc và chấp hành mọi quy định, hướng dẫn của các cơ quan chức năng. Mặt khác, khi hoạt động trên biển, các phương tiện tàu thuyền nhận được thông tin về bão, áp thấp nhiệt đới hoặc thời tiết nguy hiểm phải nhanh chóng di chuyển về bờ hoặc thoát ra khỏi vùng nguy hiểm…

- Về xây dựng kế hoạch phòng tránh thiên tai

Có ý kiến cho rằng, việc xây dựng kế hoạch phòng tránh thiên tai là hết sức cần thiết, do đó dự thảo Luật nên quy định cụ thể việc xây dựng kế hoạch phòng chống lụt, bão hàng năm và 5 năm... Với lý do nước ta thường xuyên xảy ra bão lụt, 1 năm trung bình có cả chục cơn bão đổ bộ vào đất liền. Chưa kể những biến đổi về khí hậu, nạn phá rừng đầu nguồn, hạn hán, lũ lụt... gần như năm nào cũng xảy ra. Mặt khác chúng ta cũng có hàng vạn ngư dân sống bám biển. Do đó, việc xây dựng kế hoạch phòng tránh thiên tai không thể nhìn theo từng năm mà cần phải xây dựng thành kế hoạch dài hơi, kế hoạch 5 năm, 10 năm, thậm chí là phải xây dựng cả chiến lược phòng tránh thiên tai. Đồng thời, cần quy định cụ thể về kế hoạch giúp ngư dân phòng tránh thiên tai, như hỗ trợ thông tin liên lạc, hỗ trợ cứu hộ khi gặp thiên tai...

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com