Thứ năm, ngày 23/11/2017login
  • Thuyết minh chi tiết dự án Luật Xuất bảnGóp ý

    Cơ quan ban hành: Chính phủ

    Mô tả: Thuyết minh chi tiết dự án Luật Xuất bản (sửa đổi) trình Quốc hội khóa XIII tại kỳ 3 (tháng 5/2012).

  • I. VỀ BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CỦA DỰ THẢO LUẬT XUẤT BẢN (SỬA ĐỔI)

    Dự thảo Luật Xuất bản (sửa đổi) (sau đây gọi tắt là Dự thảo Luật) vẫn được giữ nguyên về bố cục tổng thể của Luật Xuất bản hiện hành theo kết cấu 5 chương với 50 điều (tăng 04 điều so với Luật Xuất bản hiện hành).

    - Chương I: Những quy định chung, gồm 11 điều (từ Điều 1 đến Điều 11);

    - Chương II: Tổ chức và hoạt động lĩnh vực xuất bản, gồm 19 điều (từ Điều 12 đến Điều 30);

    - Chương III: Tổ chức và hoạt động lĩnh vực in xuất bản phẩm, gồm 06 điều (từ Điều 31 đến Điều 36);

    - Chương IV: Tổ chức và hoạt động lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm, gồm 11 điều (từ Điều 37 đến Điều 47);

    - Chương V: Điều khoản thi hành, gồm 03 điều (từ Điều 48 đến Điều 50).

    II. VỀ NHỮNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG NỘI DUNG DỰ THẢO LUẬT XUẤT BẢN (SỬA ĐỔI)

    I. Chương I: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 11)

    - Về Điều 1: Phạm vi điều chỉnh

    Với tên Luật là Luật Xuất bản (sửa đổi) nên quan điểm xây dựng Luật chỉ sửa đổi, bổ sung các Điều khoản chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn để giải quyết những bất cập trong thực thi Luật hiện hành, điều chỉnh toàn diện hơn những vấn đề phát sinh trong thực tiễn hoạt động xuất bản. Bên cạnh đó, Dự thảo Luật còn đáp ứng tính dự báo, đón đầu nhằm đáp ứng sự phát triển của ngành xuất bản nói riêng và xã hội nói chung. Tuy nhiên, các chế định đều nằm trong khuôn khổ phạm vi điều chỉnh của Luật hiện hành. Vì vậy, Điều này kế thừa toàn bộ, không thay đổi so với Điều 1 Luật Xuất bản hiện hành.

    - Về Điều 2: Đối tượng áp dụng

    Nội dung Điều này cơ bản kế thừa quy định của Luật hiện hành và chỉ  thể hiện lại cho ngắn gọn, chính xác mà vẫn bao quát đầy đủ các đối tượng áp dụng.

    Quy định “trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”  dù đã quy định trong Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 nhưng vẫn giữ nguyên để làm rõ nguyên tắc cam kết đến đâu, áp dụng đến đó của Dự thảo Luật.

    - Về Điều 3: Vị trí, mục đích của hoạt động xuất bản

    Nội dung Điều 3 của dự thảo Luật Xuất bản (sửa đổi) là kế thừa từ Điều 3 của Luật hiện hành nhằm khẳng định hoạt động xuất bản thuộc lĩnh vực văn hóa, tư tưởng. Đây là hoạt động có vị trí hết sức quan trọng và là công cụ sắc bén của Đảng và Nhà nước; cung cấp tri thức về các lĩnh vực của đời sống xã hội, giá trị văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hoá nhân loại; góp phần nâng cao dân trí, xây dựng đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam, mở rộng giao lưu văn hóa với các nước, phát triển kinh tế - xã hội, đấu tranh chống mọi tư tưởng và hành vi làm tổn hại lợi ích quốc gia, tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, Dự thảo Luật có bổ sung mục đích "ổn định chính trị, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc" để thể hiện đầy đủ hơn mục đích trọng yếu của hoạt động xuất bản.

    - Về Điều 4: Giải thích từ ngữ

    Đây là điều mới trong dự thảo Luật so với Luật hiện hành nhằm làm rõ một số khái niệm chung, được lặp lại nhiều lần hoặc khái niệm thuật ngữ chuyên ngành trong dự thảo Luật, giúp người đọc có cách hiểu thống nhất và tránh hiểu nhiều nghĩa. Việc giải thích từ ngữ trong dự thảo Luật này còn nhằm đưa ra khái niệm phù hợp với phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật để phân biệt với từ ngữ tương tự nhắc đến trong các luật khác hoặc cách hiểu trong xã hội.

    - “Xuất bản phẩm” trong dự thảo Luật cần được hiểu là tác phẩm, tài liệu phải được nhà xuất bản tổ chức biên tập hoàn chỉnh, được in và phát hành thì mới trở thành xuất bản phẩm hoặc cách hiểu ngắn gọn hơn về xuất bản phẩm là sản phẩm của hoạt động xuất bản. Mặt khác, xuất bản phẩm có nhiều hình thức, trong đó có cả hình thức giao thoa giữa xuất bản phẩm và văn hóa phẩm như: băng đĩa, bưu ảnh, tranh, ảnh v.v...cần được phân biệt rành mạch, đồng thời còn có loại xuất bản phẩm điện tử (gồm sách đọc trực tuyến trên mạng Internet và sách đọc trên các thiết bị điện tử cầm tay). Tại Điều 2 Nghị định 111/2005/NĐ-CP cũng đã quy định một số loại hình xuất bản phẩm nhưng vẫn chưa bao quát những loại hình mới phát sinh. Do vậy, dự thảo Luật Xuất bản (sửa đổi) lần này đã cân nhắc để làm rõ hơn thực tế này; Từ Điều 2 của Nghị định số 111/2005/NĐ-CP về hình thức của xuất bản phẩm sau thời gian đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn, Ban soạn thảo đã bổ sung, chỉnh sửa và nâng lên thành điều Luật để thống nhất cách hiểu các loại xuất bản phẩm cụ thể thuộc đối tượng điều chỉnh trong Luật Xuất bản.

    Các từ ngữ còn lại như: “xuất bản”, “in”, “phát hành” được giải thích trong dự thảo Luật này để làm rõ hơn, tránh hiểu lầm giữa xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm với các sản phẩm khác như báo chí, tem, tiền, hóa đơn,v.v... Đồng thời, việc giải thích còn làm rõ hơn phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật là hoạt động xuất bản, in và phát hành trong Luật này chỉ gắn với xuất bản phẩm.

    - Về Điều 5:  Bảo đảm quyền phổ biến tác phẩm và bảo hộ quyền tác giả

    Điều này giữ nguyên Điều 5 của Luật hiện hành.

    - Về Điều 6: Quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản

    Điều này được gộp từ hai Điều 7 và 8 của Luật hiện hành và được thiết kế theo hướng một khoản quy định nguyên tắc về thẩm quyền và chức năng quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản, một khoản quy định về các nội dung chính trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản.

    Khoản 1 quy định rõ Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản trên phạm vi cả nước và giao Bộ Thông tin và Truyền thông giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước công tác này. Các bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông  thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản theo thẩm quyền. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản tại địa phương theo phân cấp của Chính phủ.

    Khoản 2 được sửa đổi, bổ sung tại điểm a, d, đ về nội dung quản lý nhà nước đối với quyền tác giả trong hoạt động xuất bản theo quy định của pháp luật, tổ chức nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, hợp tác quốc tế trong hoạt động xuất bản, đồng thời Dự thảo điều chỉnh lại thứ tự các điểm cho chính xác và hợp lý, với lý do như sau:

    + Việc bổ sung nội dung quản lý nhà nước về quyền tác giả trong hoạt động xuất bản (tại điểm a khoản 2) là cần thiết, bởi lẽ hoạt động xuất bản có một sự gắn kết chặt chẽ với việc thực thi quyền tác giả, quyền liên quan trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Các hành vi xuất bản trái phép, nạn in lậu, in nối bản không phép, phát hành xuất bản phẩm lậu về bản chất chính là xâm hại quyền tác giả và quyền liên quan. Do vậy, Ban soạn thảo thấy rằng cần thiết phải bổ sung nội dung quản lý nhà nước về quyền tác giả trong hoạt động xuất bản.

    + Quy định thêm chức năng tổ chức nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, hợp tác quốc tế trong hoạt động xuất bản thực chất là Luật hóa những công việc đã diễn ra trong thực tiễn. Đồng thời cũng bảo đảm để công tác quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản được thực thi chủ động và toàn diện hơn.

    - Về Điều 7: Chính sách phát triển hoạt động xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm

     Điều này được kế thừa về nguyên tắc từ Điều 6 của Luật hiện hành. Tuy nhiên trên thực tế các chính sách hiện nay còn một số điểm chưa đồng bộ nên đạt hiệu quả chưa cao trong việc thúc đẩy phát triển và nâng cao năng lực toàn diện hoạt động xuất bản.

    Vì vậy, dự thảo Điều này đã đổi tên Điều và thiết kế thành 03 khoản với chính sách phát triển cho từng lĩnh vực: xuất bản, in và phát hành. Lý do vì mỗi lĩnh vực của hoạt động xuất bản có những đặc thù về tính chất, loại hình tổ chức khác nhau như: Xuất bản là hoạt động tư tưởng văn hóa và hoàn toàn do nhà nước nắm giữ, nhưng in và phát hành xuất bản phẩm đã xã hội hóa và là ngành sản xuất, kinh doanh có điều kiện. Do đó chính sách phát triển cho từng lĩnh vực sẽ có sự khác nhau, vì vậy cần tách thành các khoản riêng để thể hiện rõ chính sách đầu tư của nhà nước cho từng lĩnh vực, đảm bảo sự minh bạch và hiệu quả khi thực thi. Trong các chính sách của từng lĩnh vực cũng đã cụ thể hóa, bổ sung cho phù hợp thực tiễn và tương xứng với vai trò vị trí của hoạt động xuất bản. Cụ thể các chính sách tại Điều 7 dự thảo Luật Xuất bản (sửa đổi) được quy định chi tiết thành một số phương thức hỗ trợ, đặt hàng, ưu đãi rõ ràng hơn. 

    - Về Điều 8: Thành lập văn phòng đại điện tại Việt Nam của nhà xuất bản nước ngoài, tổ chức phát hành xuất bản phẩm nước ngoài

    Điều này được tập hợp từ 2 điều (Điều 24 và Điều 43) của Luật hiện hành và có sửa đổi theo hướng rút gọn, cô đọng, đưa ra chế định khung để thể hiện việc hội nhập quốc tế trong hoạt động xuất bản. Điều này quy định đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam được hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài trong hoạt động xuất bản trên nguyên tắc đảm bảo phù hợp với pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế.

    Khoản 1 quy định cụ thể đối tượng được đặt Văn phòng đại diện tại Việt Nam gồm có nhà xuất bản nước ngoài, tổ chức phát hành xuất bản phẩm nước ngoài nhưng phải được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép. Về hai đối tượng này, để đảm bảo sự bao quát và chặt chẽ, khoản này cũng nêu rõ doanh nghiệp, tổ chức được thành lập tại nước ngoài hoạt động đa ngành nghề, đa lĩnh vực trong đó có xuất bản, phát hành xuất bản phẩm.

    Do nước ta vẫn đang trong quá trình hội nhập quốc tế, vì vậy để đảm bảo sự linh hoạt trong việc thực thi, cũng như để đáp ứng cam kết quốc tế theo từng lộ trình cụ thể. Khoản 2 được quy định theo hướng: Chính phủ quy định cụ thể về điều kiện đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam, nội dung hoạt động của văn phòng đại diện tại Việt Nam và trình tự, thủ tục cấp giấy phép nhằm minh bạch hóa quy định về văn phòng đại diện, đồng thời đảm bảo phù hợp với các quy định của Luật Thương mại về chi nhánh, văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài.

    - Về Điều 9:  Chế độ thông tin báo cáo

    Đây là quy định mới so với Luật hiện hành, Ban soạn thảo thấy rằng cần thiết phải đưa vào dự thảo Luật bởi vì, trong thời gian qua do chưa có chế định này nên việc nắm bắt thông tin về tình hình hoạt động của các đơn vị xuất bản, in, phát hành trên phạm vi cả nước gặp rất nhiều khó khăn. Số liệu thống kê thu thập được còn thiếu hụt, không đầy đủ và thường xuyên, thiếu sự chính xác, dẫn đến việc hoạch định chính sách, xây dựng quy hoạch, kế hoạch chưa thật sự đạt hiệu quả như mong muốn. Đặc biệt là công tác theo dõi, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động xuất bản tại các địa phương đều rất hạn chế, vì không nắm rõ thông tin hoạt động của các cơ sở này. Do vậy, các cơ quan chức năng không đủ điều kiện để kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi in lậu, in trái phép, phát hành xuất bản phẩm lậu tạo sự bức xúc trong dư luận xã hội và làm tổn hại đến các đơn vị xuất bản, in, phát hành làm ăn chân chính. Chế định này cũng sẽ là một trong các căn cứ để xây dựng chế tài xử lý vi phạm hành chính. Qua đó góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả của công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản. Chi tiết chế độ báo cáo do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định để đáp ứng yêu cầu cụ thể và sát với thực tế từng giai đoạn.

    - Về Điều 10: Những hành vi bị cấm trong hoạt động xuất bản

    Điều này được sửa đổi, bổ sung so với Điều 10 của Luật hiện hành nhằm đề cập một cách đầy đủ, bao quát hơn và thể hiện chính xác với tên điều. Dự thảo bổ sung thêm một nội dung ở khoản 4 để nhấn mạnh việc cấm hành vi xuất bản xuất bản phẩm có nội dung thể hiện không chính xác chủ quyền quốc gia Việt Nam; thêm khoản 5 quy định nghiêm cấm các hành vi khác do pháp luật quy định  nhằm đảm bảo bao quát, chặt chẽ đối với các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động xuất bản.

    - Về Điều 11: Khiếu nại, tố cáo trong hoạt động xuất bản

    Điều này được rút gọn so với Luật hiện hành, chỉ quy định dẫn chiếu việc khiếu nại, tố cáo trong hoạt động xuất bản thực hiện theo Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo mới được Quốc hội ban hành.

    2. Chương II: Tổ chức và hoạt động lĩnh vực xuất bản (từ Điều 12 đến Điều 30)

     - Về Điều 12: Đối tượng được thành lập nhà xuất bản

    Trên cơ sở kế thừa và sửa đổi Điều 11 của Luật hiện hành, Điều này quy định về đối tượng và loại hình hoạt động của nhà xuất bản. So với Luật hiện hành có một số thay đổi sau:

    Đối tượng thành lập nhà xuất bản (đoạn 1): Quy định rõ hơn so với Luật hiện hành bằng cách chỉ rõ cơ quan, tổ chức nào và ở cấp nào được thành lập nhà xuất bản. Việc quy định theo hướng cụ thể, chặt chẽ hơn về đối tượng được thành lập nhà xuất bản phù hợp với tình hình thực tế của các nhà xuất bản cũng như để đảm bảo số lượng nhà xuất bản phù hợp với sự phát triển của hoạt động xuất bản, quy hoạch ngành xuất bản tại Việt Nam hiện nay theo sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về xuất bản.

    Ngoài ra, theo quy định của Luật Xuất bản hiện hành, về câu chữ khi đọc có cảm nhận là đối tượng được thành lập nhà xuất bản rộng hơn, nhưng trên thực tế khi triển khai thi hành Luật Xuất bản và Nghị định số 111/2005/NĐ-CP ngày 26/8/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xuất bản (đã được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 11/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 02 năm 2009 và Nghị định số 72/2011/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2011) thì chỉ có một số đối tượng là cơ quan, tổ chức cấp Trung ương và cấp tỉnh được thành lập nhà xuất bản. Hơn nữa, cho đến thời điểm hiện tại, Đảng và Nhà nước chưa có chủ trương cho phép mở rộng đối tượng được thành lập nhà xuất bản. Mặt khác, trong quá trình đánh giá, tổng kết 6 năm thi hành Luật Xuất bản, nhiều ý kiến cho rằng, quy định tại Điều 11 của Luật Xuất bản hiện hành về đối tượng được thành lập nhà xuất bản còn quá chung, chưa định hình được rõ ràng cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -xã hội ở cấp nào (trung ương, tỉnh, huyện hay xã) được thành lập nhà xuất bản. Việc quy định như dự thảo Luật (Điều 12) là ghi nhận thực tiễn đã được kiểm nghiệm và góp phần khắc phục bất cập nêu trên của Luật Xuất bản hiện hành nhằm làm cho các quy định của Luật Xuất bản (sửa đổi) cụ thể, chặt chẽ và minh bạch hơn.

    Loại hình hoạt động của nhà xuất bản (đoạn 2): Luật Xuất bản được ban hành (năm 2004) trước khi ban hành Luật Doanh nghiệp (năm 2005), nên các quy định của Luật Xuất bản chưa điều chỉnh loại hình tổ chức của nhà xuất bản phù hợp với các loại hình doanh nghiệp được quy định tại Luật Doanh nghiệp. Dự thảo Luật quy định 02 loại hình hoạt động đối với nhà xuất bản, gồm: Đơn vị sự nghiệp công lập hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu. Quy định này đảm bảo hai tiêu chí: Phù hợp với đường lối, chủ trương nhà nước là chủ sở hữu nhà xuất bản và phù hợp với xu thế, định hướng chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hiện nay. Cụ thể như sau:

    Thứ nhất, đối với đơn vị sự nghiệp công lập: thực hiện theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006, trong đó có 3 hình thức:

    - Đơn vị tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị tự đảm bảo chi phí hoạt động);

    - Đơn vị tự đảm bảo chi phí một phần chi cho hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động);

    - Đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tăt là đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động).

    Như vậy dự thảo Luật quy định mở hơn, bao quát hơn về loại hình này so với Luật hiện hành chỉ quy định là đơn vị sự nghiệp có thu mà không bao gồm đơn vị sự nghiệp không có thu.

    Thứ hai, đối với loại hình doanh nghiệp: Áp dụng theo Luật doanh nghiệp 2005 áp dụng từ 1/7/2010, đối với các nhà xuất bản đang hoạt động theo doanh nghiệp Nhà nước phải chuyển đổi sang loại hình Công ty TNHH nhà nước một thành viên. Như vậy loại hình này cũng tương ứng với loại hình doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện quy định tại Luật hiện hành.

    Số liệu thống kê về các nhà xuất bản hiện nay: 04 nhà xuất bản là doanh nghiệp Nhà nước (theo Luật Doanh doanh nghiệp năm 2003) chưa chuyển đổi sang loại hình công ty TNHH một thành viên; 16 nhà xuất bản đã chuyển đổi xong loại hình sang công ty TNHH nhà nước một thành viên và có 44 nhà xuất bản đang hoạt động theo loại hình đơn vị sự nghiệp công lập (trong đó có 24 nhà xuất bản tự bảo đảm toàn bộ chi phí thường xuyên; 20 nhà xuất bản tự đảm bảo một phần chi phí thường xuyên, phần còn lại do Nhà nước cấp). Qua số liệu trên cho thấy loại hình hoạt động của nhà xuất bản quy định tại Luật hiện hành là chưa rành mạch, chưa bám sát thực tiễn hiện nay. Vì vậy, việc quy định loại hình hoạt động của nhà xuất bản là đơn vị sự nghiệp công lập hoặc Công ty TNHH một thành viên do nhà nước là chủ sỡ hữu trong dự thảo Luật là phù hợp và khả thi.

    - Về Điều 13: Điều kiện thành lập nhà xuất bản

    Điều này được sửa đổi từ Điều 12 của Luật hiện hành theo hướng quy định bắt buộc một số điều kiện cần và đủ có tính cơ bản, quan trọng để nhà xuất bản có thể hoạt động một cách thực chất.

    Lãnh đạo nhà xuất bản (Tổng giám đốc, giám đốc, tổng biên tập – Dự thảo Luật bổ sung thêm chức danh tổng giám đốc cho tương ứng với mô hình tổ chức của CT TNHH Nhà nước 1 thành viên quy định tại Điều 12): Khoản 2 thay đổi cách diễn đạt là “có người đủ tiêu chuẩn...để bổ nhiệm lãnh đạo” thay cho “có người lãnh đạo đủ tiêu chuẩn” tại Điều 12 Luật hiện hành để tránh hiểu sai quy định phải có lãnh đạo khi nhà xuất bản chưa ra đời. Khoản 3 Điều 12 Luật hiện hành được chuyển sang Điều 18 của dự thảo về tiêu chuẩn bổ nhiệm chức danh Tổng giám đốc (giám đốc) và tổng biên tập nhà xuất bản cho phù hợp.

    Biên tập viên: Sửa đổi tương tự là "có 05 người đủ tiêu chuẩn..." và bổ sung thêm điều kiện về số lượng biên tập viên cơ hữu phải có khi đề nghị thành lập nhà xuất bản. Lý do vì thực tế rất nhiều nhà xuất bản khi thành lập không có hoặc chỉ có biên tập viên kiêm nhiệm, dẫn đến việc nhà xuất bản ra đời mà không đủ bộ máy để hoạt động, phải lách luật, làm sai luật theo kiểu phó thác việc biên tập cho đối tác liên kết. Tình trạng chất lượng nội dung, kỹ thuật sách không đảm bảo, thậm chí sai phạm nội dung vào các điều cấm cũng có nguyên nhân từ thực trạng này.

    - Về Điều 14: Trình tự, thủ tục thành lập nhà xuất bản

    Điều này mới và được thay thế Điều 16 của Luật hiện hành theo hướng pháp luật hóa thực tế quy trình cấp phép để thành lập nhà xuất bản. Mặt khác, quy định theo quy trình cấp phép sẽ rõ ràng và dễ thực thi, áp dụng hơn.

    Khoản 1 quy định về chủ thể thực hiện việc lập hồ sơ và cơ quan tiếp nhận hồ sơ đề nghị thành lập nhà xuất bản.

    Khoản 2 quy định cụ thể về các tài liệu cần có trong hồ sơ, có bổ sung thêm so với Điều 16 Luật hiện hành:

    - Tại điểm a về Đề án thành lập nhà xuất bản và các nội dung cơ bản cần đáp ứng.

    - Tại điểm b và c quy định rõ là danh sách dự kiến các chức danh lãnh đạo (kèm theo sơ yếu lý lịch) và các biên tập viên để hợp lý hơn, vì nhà xuất bản chưa thành lập thì chưa thể có danh sách chính thức.

    Khoản 3 quy định về thẩm quyền cấp giấy phép để thành lập và thẩm quyền ra quyết định thành lập nhà xuất bản. Ngoài ra bổ sung thêm về thời hạn của giấy phép nhằm tạo căn cứ pháp lý chặt chẽ hơn để theo dõi, chấn chỉnh hoạt động xuất bản và phù hợp với việc quy định thời hạn các loại giấy phép hiện nay.

    Khoản 4 quy định về hiệu lực của giấy phép thành lập nhà xuất bản nhằm đưa ra chế tài bắt buộc đảm bảo tính khả thi của việc thành lập và hoạt động của nhà xuất bản.

     - Về Điều 15: Nhà xuất bản điện tử

    Đây là điều mới của dự thảo Luật so với Luật hiện hành. Trên thực tế, việc xuất bản xuất bản phẩm điện tử đang trở thành xu hướng phát triển mạnh mẽ trên thế giới và cũng là xu thế lựa chọn mới cho hoạt động xuất bản của nước ta. Hiện nay, một số nhà xuất bản đã thực hiện đăng ký xuất bản sách điện tử, đặc biệt đã xuất hiện một số công ty cổ phần sách điện tử. Điều này thể hiện việc xuất bản sách điện tử đang trở thành xu hướng chuyên môn hóa. Mặc dù hiện nay chưa có nhà xuất bản chuyên xuất bản sách điện tử nhưng dự báo trong tương lai, trước tốc độ phát triển vượt bậc về công nghệ thông tin và tính chuyên môn hóa trong xuất bản sách điện tử ngày càng cao thì việc thành lập nhà xuất bản điện tử là điều tất yếu.

    Điều kiện thành lập và phương thức hoạt động của nhà xuất bản điện tử có tính đặc thù so với nhà xuất bản truyền thống. Ví dụ như: tiến hành mọi công đoạn trên thiết bị điện tử, không có công đoạn in...Vì vậy, cần có một Điều riêng điều chỉnh nhà xuất bản điện tử. Do lĩnh vực này đang trong quá trình phát triển và thay đổi rất nhanh vì thế, Điều này chỉ đưa ra những quy định mang tính nguyên tắc về điều kiện thành lập nhằm giúp cho cơ quan quản lý nhà nước có căn cứ áp dụng cũng như để định ra phương thức quản lý khi thành lập nhà xuất bản điện tử.

    - Về Điều 16: Nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan chủ quản nhà xuất bản

    Điều này sửa đổi một số nội dung so với Điều 13 của Luật hiện hành theo hướng chi tiết và chặt chẽ hơn:

    Khoản 1 thay quy định cơ quan chủ quản xét duyệt thành định hướng kế hoạch xuất bản của nhà xuất bản. Lý do vì thực tế, quy định xét duyệt chỉ mang tính hình thức, không khả thi. Cơ quan chủ quản không đủ thời gian, nhân lực để đảm trách được khâu này vì đây không phải công việc chuyên môn và không có nhân sự chuyên trách. Cũng do đó mà thời gian cơ quan chủ quản xét duyệt kế hoạch xuất bản rất chậm, làm ảnh hưởng nhiều đến cơ hội sản xuất kinh doanh của nhà xuất bản. Cơ quan chủ quản chỉ xét duyệt theo sự tham mưu của chính nhà xuất bản. Vì vậy, dự thảo Điều này chỉ quy định cơ quan chủ quản định hướng kế hoạch xuất bản hàng năm của nhà xuất bản.

    Khoản 2 quy định dẫn chiếu cụ thể hơn so với Luật hiện hành: Bảo đảm các điều kiện quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều 13 và khoản 2 Điều 15 của Luật này đối với hoạt động của nhà xuất bản. Đây là quy định chỉ rõ những điều kiện tối thiểu cần mà cơ quan chủ quản có trách nhiệm phải đảm bảo cho nhà xuất bản. Tránh tình trạng rất nhiều nhà xuất bản không thể duy trì hoạt động vì sự buông tay, phó mặc của cơ quan chủ quản.

    Khoản 3 bổ sung thêm quyền hạn của cơ quan chủ quản là bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh: tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, phó giám đốc, phó tổng biên tập cho đủ các chức danh lãnh đạo thực tế của nhà xuất bản vì như vậy mới phù hợp với nguyên tắc tổ chức bộ máy hành chính theo mô hình hoạt động các nhà xuất bản, phù hợp với quy định của Ban Bí thư (Quyết định số 282-QĐ/TW ngày 26 tháng 01 năm 2010). Đồng thời thay từ “thỏa thuận” bằng từ “chấp thuận” của Bộ Thông tin và Truyền thông trong việc bổ nhiệm lãnh đạo nhà xuất bản để nhấn mạnh hơn về tính pháp lý.

    - Về Điều 17: Cấp đổi, gia hạn giấy phép thành lập nhà xuất bản

    Điều này được đổi tên Điều và kết cấu lại nội dung cho khoa học hơn theo hướng gộp 2 khoản (khoản 1, khoản 2) trong Điều 17 Luật hiện hành thành khoản 1 Điều này, trong đó quy định về các thay đổi của nhà xuất bản cần được cấp đổi giấy phép.

    Khoản 2 quy định về thời hạn làm thủ tục gia hạn giấy phép hoạt động nhà xuất bản vì tại Điều 14 đã có quy định về thời hạn giấy phép hoạt động nhà xuất bản.

    Khoản 4 quy định Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn chi tiết thủ tục cấp đổi và gia hạn giấy phép vì còn tùy thuộc vào các thay đổi của nhà xuất bản mà áp dụng hồ sơ khác nhau để đơn giản và thuận tiện hơn về thủ tục hành chính.

    - Về Điều 18: Tiêu chuẩn bổ nhiệm tổng giám đốc (giám đốc), tổng biên tập nhà xuất bản

    Từ khoản 3, Điều 12 và Điều 14 của Luật hiện hành tách ra Điều này và Điều 19 của Dự thảo để quy định chi tiết hơn về tiêu chuẩn để bổ nhiệm lãnh đạo nhà xuất bản và nhiệm vụ, quyền hạn sau khi đã được bổ nhiệm.

    Điểm a khoản 1 Điều này quy định bổ sung thêm những tiêu chuẩn chung về bổ nhiệm chức danh tổng giám đốc (giám đốc), tổng biên tập nhà xuất bản. Theo khoản 3, Điều 12 Luật hiện hành quy định “lãnh đạo nhà xuất bản phải có ít nhất một người hoạt động trong lĩnh vực xuất bản từ 3 năm trở lên”. Tuy nhiên, dự thảo Điều này quy định cả Tổng Giám đốc (Giám đốc), Tổng biên tập đều phải hoạt động trong lĩnh vực xuất bản 03 năm vì nhà xuất bản cần có một bộ máy lãnh đạo có kinh nghiệm đồng đều về chuyên môn nghiệp vụ xuất bản để đảm bảo yêu cầu trong khâu xem xét, biên tập, đọc duyệt bản thảo và quyết định xuất bản.

    Cụ thể khoản 1 đối với Tổng giám đốc (Giám đốc) nhà xuất bản phải có thời gian làm công tác quản lý và công tác biên tập tại cơ quan xuất bản hoặc báo chí từ 3 năm trở lên. Khoản 2 đối với tổng biên tập nhà xuất bản phải có 03 năm trở lên làm công tác biên tập tại nhà xuất bản hoặc cơ quan báo chí của Việt Nam và phải có chứng chỉ biên tập viên tức là bắt buộc từng làm công tác biên tập tại nhà xuất bản hoặc cơ quan báo chí của Việt Nam. Lý do vì chức danh này có vị trí quan trọng trong hoạt động xuất bản để tạo ra xuất bản phẩm, chịu trách nhiệm về nội dung xuất bản phẩm.

    Quy định tiêu chuẩn của Tổng Giám đốc (Giám đốc), Tổng biên tập nhà xuất bản phải hoạt động trong lĩnh vực xuất bản 03 năm trở lên có tăng thâm niên so với Quyết định 282 – QĐ/TW ngày 26/01/2010 của Ban Chấp hành Trung ương quy định trách nhiệm, quyền hạn và việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ lãnh đạo nhà xuất bản (ít nhất là 02 năm) là để tích lũy đủ kinh nghiệm, nâng cao năng lực, bản lĩnh trong công tác tư tưởng, văn hóa.

    - Về Điều 19: Nhiệm vụ và quyền hạn của tổng giám đốc (giám đốc), tổng biên tập nhà xuất bản

    Điều này kế thừa khoản 2 Điều 14 Luật hiện hành. Khoản 1 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của tổng giám đốc (giám đốc) nhà xuất bản. Việc quy định như vậy nhằm thể hiện rõ hơn chức năng và nhiệm vụ của tổng giám đốc (giám đốc). Vì vậy, khoản 1 còn bổ sung thêm một số trách nhiệm và quyền hạn tại điểm d, e, g, l để tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu nhà xuất bản, quy định chặt chẽ hơn việc kiểm soát quy trình xuất bản, ngăn ngừa những thiếu sót dẫn đến sai phạm.

    Khoản 2 quy định về trách nhiệm và quyền hạn của Tổng biên tập, bỏ điểm a khoản 3 Luật hiện hành vì Dự thảo Luật không quy định về kế hoạch xuất bản như phân tích tại thuyết minh về Điều 21. Điểm c khoản 2 quy định sửa đổi về việc tổng biên tập phải chịu trách nhiệm về nội dung xuất bản phẩm trước giám đốc nhà xuất bản và trước pháp luật, không chỉ chịu trách nhiệm liên đới như Luật hiện hành.

    - Về Điều 20: Tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn của biên tập viên nhà xuất bản

    Điều này có quy định mới về việc biên tập viên phải được cấp chứng chỉ. Hiện nay, công tác biên tập nội dung được đánh giá là hết sức quan trọng, đội ngũ biên tập viên được hiểu là “lính gác” trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, đội ngũ chủ chốt thực hiện việc soát xét chất lượng nội dung và ngăn chặn các nội dung vi phạm quy định cấm, cũng như góp phần phát hiện và hoàn thiện những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng, nghệ thuật. Tuy nhiên công tác này đã trở nên hình thức tại khá nhiều nhà xuất bản do đội ngũ biên tập viên vừa thiếu, vừa yếu. Theo thống kê năm 2011, lực lượng lao động của các nhà xuất bản là 6.489 người, thì số lượng biên tập viên là 1.178 người (chiếm 18,2%), trong đó biên tập viên có trình độ trên đại học là 225 người, trình độ đại học là 1.135 người. Ngoài những nhà xuất bản lớn và lâu năm có nhiều biên tập viên như NXB. Giáo dục Việt Nam, NXB. Chính trị Quốc gia, NXB. Kim Đồng, NXB. Quân đội Nhân dân, NXB. Công an nhân dân... Còn lại các nhà xuất bản có lượng biên tập viên rất mỏng, thậm chí có nhà xuất bản chỉ có chưa đến 05 biên tập viên, nhất là những nhà xuất bản mới thành lập.

    Do sự thiếu dẫn đến buông lỏng, cẩu thả trong khâu biên tập, sự yếu về cả chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ nhận thức chính trị dẫn đến trong quá trình biên tập bản thảo có những nội dung vi phạm, bị xử lý. Hầu hết các biên tập viên khi được đào tạo ở bậc đại học và trên đại học chỉ được đào tạo chuyên ngành nhưng khi làm việc ở nhà xuất bản thì phải biên tập nội dung sách ở nhiều chuyên ngành khác nhau (đặc biệt đối với nhà xuất bản có chức năng tổng hợp). Do đó, để tiến tới chuẩn hóa đội ngũ biên tập viên nhà xuất bản, đồng thời nâng cao trình độ, trách nhiệm của biên tập viên đối với xuất bản phẩm trước giám đốc, tổng biên tập nhà xuất bản và trước pháp luật, các khoản 1, 2 Điều này quy định về tiêu chuẩn của biên tập viên và điều kiện cấp chứng chỉ biên tập viên.

    Trình tự, thủ tục và thời hạn cụ thể cấp đổi chứng chỉ do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định (Khoản 3).

    Khoản 4 Điều này quy định về nhiệm vụ quyền hạn của biên tập viên như Luật hiện hành. Riêng điểm c quy định nâng cao trách nhiệm của biên tập viên về nội dung xuất bản phẩm trước giám đốc nhà xuất bản như trách nhiệm của tổng biên tập.

    - Về Điều 21: Đăng ký xuất bản

    Điều này quy định trình tự, cách thức của việc đăng ký xuất bản xuất bản phẩm, có sửa đổi một số quy định để phù hợp thực tiễn:

    Theo quy định tại điều 18 của Luật hiện hành, các nhà xuất bản phải đăng ký “kế hoạch xuất bản” trước khi xuất bản. Trên thực tế, vì thiếu vốn, thiếu năng động và sự cạnh tranh quyết liệt của thị trường, nhà xuất bản không thể xây dựng được “kế hoạch” có tính khả thi với từng tên xuất bản phẩm cụ thể mà chủ yếu việc đăng ký kế hoạch xuất bản chỉ lấy tên đề tài, chưa có bản thảo cụ thể (ví dụ: các bộ sách, tủ sách, tuyển tập...). Do đó, trong quá trình triển khai thực hiện, hầu như các tên xuất bản phẩm trong “kế hoạch” đều thay đổi hoặc không xuất bản được. Theo số liệu thống kê từ năm 2009 đến năm 2011, bình quân hàng năm cơ quan quản lý xác nhận đăng ký khoảng 56.000 tên sách nhưng chỉ thực hiện xuất bản khoảng 20.000 tên sách (khoảng 36%). Vì vậy, việc phải lập kế hoạch "ảo” của nhà xuất bản cũng như việc cơ quan quản lý nhà nước phải xác nhận đã gây lãng phí thời gian, vật lực, làm cho việc thống kê, đánh giá số liệu không chính xác. Hơn nữa, việc đăng ký “kế hoạch xuất bản” này còn tạo kẽ hở để dẫn đến tình trạng “đội mũ” (dùng số đăng ký một tên sách để xuất bản một tên sách khác gần giống nhưng nội dung hoàn toàn khác nhau). Vì vậy, dự thảo Luật đã lược bỏ cụm từ “kế hoạch” và chỉ quy định là “đăng ký xuất bản” như sau: Trước khi xuất bản, nhà xuất bản phải “đăng ký xuất bản” với Bộ Thông tin và Truyền thông... Quy định này tạo điều kiện cho các nhà xuất bản không phải lập kế hoạch theo tháng, quý, năm để đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước mà khi đã tổ chức xong bản thảo thì đăng ký xuất bản xuất bản phẩm với cơ quan quản lý nhà nước trước khi quyết định xuất bản. Có như vậy, đăng ký xuất bản mới thực chất chứ không còn là hình thức "xếp chỗ".

    Ngoài ra, dự thảo bổ sung quy định thu lệ phí đang ký xuất bản cho phù hợp nguyên tắc quản lý hành chính vì một số lĩnh vực văn hóa đã thu phí như: bản quyền, băng đĩa nghệ thuật... Hơn nữa, nếu thu lệ phí sẽ làm giảm tình trạng các nhà xuất bản đăng ký xuất bản “ảo”.

    - Về Điều 22: Liên kết trong lĩnh vực xuất bản

    So với Luật hiện hành, Dự thảo điều này quy định cụ thể, chi tiết hơn về chủ thể, đối tượng, yêu cầu pháp lý đối với việc liên kết xuất bản:

    Khoản 1 bổ sung thêm đối tượng là “tổ chức” có đăng ký kinh doanh về in hoặc phát hành xuất bản phẩm (chủ yếu là các công ty phát hành sách vì đây là lực lượng liên kết chiếm đa số, ưu thế trên thực tế; hoặc là nhà xuất bản liên kết với nhà xuất bản để xuất bản những dự án tác phẩm có quy mô lớn cần huy động nguồn lực tài chính (ví dụ: những bộ tổng tập văn học, lịch sử,v.v...).

    Khoản 2 quy định về thủ tục bắt buộc khi liên kết là: có văn bản đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả để ngăn chặn tình trạng vi phạm quyền tác giả trong xuất bản; và phải ký hợp đồng liên kết do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định những nội dung cơ bản để đảm bảo chặt chẽ sự ràng buộc về nghĩa vụ, quyền lợi giữa đối tác liên kết và nhà xuất bản khi thực hiện liên kết trong hoạt động xuất bản.

    Khoản 3 quy định về trách nhiệm của nhà xuất bản trong thực hiện liên kết xuất bản, theo đó:

    Điểm a quy định mới về việc nhận bản thảo xuất bản phẩm liên kết phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của nhà xuất bản vì trên thực tế đã xảy ra hiện tượng một số nhà xuất bản nhận biên tập và đăng ký xuất bản đối với những bản thảo liên kết có nội dung không đúng với chức năng, nhiệm vụ của nhà xuất bản, gây mất thời gian cho cơ quan quản lý trong quá trình xác nhận đăng ký xuất bản của nhà xuất bản.

    Điểm b bổ sung thêm quy định so với khoản 2 Điều 20 Luật hiện hành về việc tổ chức biên tập hoàn chỉnh và ký duyệt bản thảo trước khi đưa vào thiết bị số, môi trường mạng (áp dụng cho xuất bản phẩm điện tử).

    Điểm c bổ sung thêm quy định so với khoản 2 Điều 20 Luật hiện hành về việc nộp lưu chiểu nhằm quản lý chặt chẽ quy định của pháp luật về nộp lưu chiểu xuất bản phẩm tại điều 27 của Dự thảo Luật vì trên thực tế, nhiều nhà xuất bản không kiểm soát được các xuất bản phẩm liên kết của mình. Sau khi ký Quyết định xuất bản, nhà xuất bản đã phó mặc toàn bộ quá trình triển khai cho đối tác liên kết, dẫn đến nhiều xuất bản phẩm liên kết đã phát hành ra thị trường mà chưa có ký duyệt phát hành của nhà xuất bản và không nộp lưu chiểu.

    Khoản 3 Luật hiện hành chỉ quy định chung về trách nhiệm của đối tác liên kết “liên đới chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với xuất bản phẩm liên kết”. Để quy định cụ thể hơn về trách nhiệm “liên đới” của đối tác liên kết thì khoản 4 Dự thảo Luật đã đưa ra những quy định về quyền và trách nhiệm bắt buộc mà thực tế đối tác liên kết thường xuyên bỏ qua không thực hiện, đẩy nhà xuất bản vào tình thế không kiểm soát được xuất bản phẩm liên kết, đồng thời gây khó khăn, lúng túng cho cơ quan quản lý nhà nước trong việc xử lý đối với đối tác khi xuất bản phẩm có sai phạm.

    - Về Điều 23: Xuất bản phẩm cần thẩm định nội dung

    Nội dung Điều này về cơ bản giữ nguyên như Điều 21 Luật hiện hành để quy định đối với xuất bản phẩm có dấu hiệu vi phạm Điều 10 của Luật này cần thẩm định nội dung trước khi đăng ký xuất bản. 

    - Về Điều 24: Cấp giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh

    Điều này quy định về thẩm quyền, phạm vi, đối tượng và thủ tục cấp giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh. Hợp nhất quy định tại Điều 22 và Điều 23 Luật hiện hành vì cùng điều chỉnh đối tượng được phép xuất bản tài liệu không kinh doanh. Dự thảo Điều này chỉ điều chỉnh việc xuất bản tài liệu không kinh doanh do cơ quan quản lý nhà nước cấp giấy phép, nếu không thông qua nhà xuất bản. Các quy định tại Điều này cụ thể và đầy đủ hơn Luật hiện hành nhằm mục đích Luật ban hành có thể thực thi ngay. Về thẩm quyền cấp phép xuất bản tài liệu không kinh doanh không thay đổi so với luật hiện hành.

    Khoản 2 quy định mới việc tài liệu không kinh doanh phải phù hợp chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đề nghị cấp phép để tránh tình trạng một tổ chức có thể xin phép xuất bản tất cả các loại tài liệu thuộc danh mục được cấp phép nhưng không phải để phục vụ ngành nghề của mình.

    Các điểm đ, e khoản 3 Điều này quy định thêm về nội dung tài liệu không kinh doanh được cơ quan quản lý nhà nước về xuất bản cấp phép. Quy định này mở rộng và cụ thể hơn một số nội dung là tài liệu phục vụ địa phương và tài liệu giới thiệu hoạt động của các tổ chức nước ngoài, quốc tế hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

    Khoản 4 kế thừa và bổ sung quy định về các loại giấy tờ cần có trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép đối với từng đối tượng đề nghị cấp phép và quy định phí thẩm định nội dung cho phù hợp nguyên tắc quản lý và các quy định pháp luật về phí và lệ phí. Riêng số lượng bản thảo phải nộp kèm theo đơn đề nghị cấp giấy phép được nâng từ 02 (hai) lên thành 03 (ba) để lưu tại cơ quan cấp phép 01 bản, tổ chức được cấp giấy phép lưu 01 bản và cơ sở in lưu 01 bản.

    Khoản 5 quy định về thời hạn cấp giấy phép và việc trả lại bản thảo kèm theo giấy phép.

    - Về Điều 25: Xuất bản xuất bản phẩm điện tử

    Hiện nay việc phổ biến tác phẩm, tài liệu dưới dạng thông tin số đang phát triển nhanh, mạnh. Bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng có thể đưa tác phẩm của mình lên mạng hoặc thiết bị số. Để quản lý hoạt động này cần có sự phối hợp của nhiều cơ quan chức năng như an ninh mạng, quản lý trang web, quản lý thông tin số, sở hữu trí tuệ... Luật Xuất bản với khách thể điều chỉnh là xuất bản phẩm chính thống tức là những tác phẩm, tài liệu phải được thực hiện khâu biên tập, đọc duyệt qua các nhà xuất bản hoặc các cơ quan tổ chức được cấp giấy phép xuất bản. So với Điều 25 Luật hiện hành, phạm vi đối tượng được mở rộng hơn để phù hợp và bao quát với thực tế. Cụ thể Luật này điều chỉnh toàn bộ các loại xuất bản phẩm điện tử (bao gồm cả loại truyền trực tuyến trên mạng và loại lưu vào các thiết bị điện tử cầm tay khác), trong khi Luật hiện hành chỉ điều chỉnh xuất bản phẩm đưa lên mạng internet.

    Về nguyên tắc, Điều này điều chỉnh việc xuất bản xuất bản phẩm điện tử nên chỉ giới hạn là tác phẩm, tài liệu xuất bản ngay phiên bản lần đầu ở dạng điện tử phải do nhà xuất bản ký quyết định xuất bản hoặc cơ quan quản lý nhà nước cấp phép xuất bản (khoản 1). Trường hợp những tác phẩm, tài liệu của tổ chức, cá nhân phát tán dạng nhật ký, chia sẻ cá nhân, thông tin nội bộ...đưa lên mạng một cách tự phát, không có giấy phép xuất bản thì phải tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung đăng tải (đoạn 2 khoản 1).

    Khoản 2 và 3 quy định Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm xây dựng hệ thống quản lý quốc gia về hoạt động xuất bản điện tử và xuất bản phẩm điện tử, Chính phủ quy định chi tiết Điều này để đảm bảo tính dự báo đáp ứng sự phát triển tiên tục của xã hội công nghệ thông tin. Đồng thời thủ tục, quy trình để xuất bản sách điện tử cần có những quy định đặc thù khác với xuất bản sách giấy nên cần có Nghị định, Thông tư hướng dẫn riêng cho việc xuất bản xuất bản phẩm điện tử (định dạng số) sau khi dự Luật được ban hành.

    - Về Điều 26: Thông tin ghi trên xuất bản phẩm

    Điều này quy định các thông tin bắt buộc phải ghi trên xuất bản phẩm. Các thông tin này được coi như lý lịch của xuất bản phẩm. Về cơ bản, Điều này giữ nguyên như nội dung của Điều 26 Luật hiện hành, chỉ chỉnh lý một số chi tiết kỹ thuật như sau:

    Khoản 1, không quy định bắt buộc ghi tên nhà xuất bản nước ngoài, năm xuất bản nước ngoài, người dịch ra ngôn ngữ trung gian (đối với sách dịch) vì không cần thiết phải thể hiện trên sách.

    Khoản 3 quy định cứng vị trí ghi một số thông tin, không thể ghi tùy tiện làm mất tính quy chuẩn của trình bày sách như: Thông tin ghi ở bìa 1, bìa 4 và trang ghi thông tin (“xi-nhê”).

    Bổ sung khoản 5 quy định về thông tin phải ghi đối với xuất bản phẩm điện tử.

    - Về Điều 27: Nộp xuất bản phẩm lưu chiểu và nộp xuất bản phẩm cho Thư viện quốc gia

    Điều này quy định về trình tự, số lượng, cách thức nộp lưu chiểu xuất bản phẩm cho cơ quan quản lý nhà nước về xuất bản để kiểm tra. So với Điều 27 Luật hiện hành có bổ sung những quy định cụ thể hơn, phù hợp thực tiễn hơn về việc nộp lưu chiểu để Luật ban hành có thể thực thi ngay như các khoản 2,3 và 4. Điểm b khoản 1 điều chỉnh về số lượng nộp lưu chiểu cho hợp lý hơn và thống nhất với điểm a.

    Điều này không quy định thời hạn phải nộp lưu chiểu trước khi phát hành như Luật hiện hành nhằm tạo điều kiện đáp ứng nhanh nhu cầu thị trường, tăng khả năng cạnh tranh của các nhà xuất bản. Thực tế việc nộp lưu chiểu một thời gian trước khi phát hành sẽ không khả thi vì nhiều lý do khách quan. Nhất là trước nạn in lậu như hiện nay, nếu nhà xuất bản in xong các sách hay, ăn khách lại phải chờ một thời gian mới được phát hành thì đây là thời gian vàng cho các đối tượng in lậu trục lợi bất chính. Bên cạnh đó, việc kiểm tra xuất bản phẩm lưu chiểu của cơ quan quản lý nhà nước không nên giới hạn về thời gian và tương tác với cơ chế kiểm soát toàn xã hội để phát hiện và xử lý xuất bản phẩm vi phạm bất kỳ thời điểm nào.

    Khoản 7 quy định giảm số bản sách phải nộp cho Thư viện Quốc gia xuống còn 03 (ba) bản. Quy định này nhằm giảm bớt gánh nặng kinh tế cho các đơn vị xuất bản (đặc biệt đối với các xuất bản phẩm có giá thành cao), vì nộp cho Thư viện Quốc gia chỉ để lưu trữ. Hơn nữa nhà nước đã cấp kinh phí bổ sung sách hằng năm để khai thác phục vụ bạn đọc cho Thư viện Quốc gia và hệ thống thư viện.

    Bổ sung khoản 5 quy định về việc nộp lưu chiểu xuất bản phẩm điện tử.

    - Về Điều 28: Kiểm tra xuất bản phẩm lưu chiểu và thẩm quyền xử lý xuất bản phẩm vi phạm

    Điều này kết cấu lại từ Điều 28 Luật hiện hành trên cơ sở kế thừa các quy định đã có. Khoản 1 quy định thêm nội dung mới về thẩm quyền quyết định xử lý xuất bản phẩm lưu chiểu vi phạm của Bộ Thông tin và Truyền thông. Lý do trên thực tế xảy ra một số trường hợp cơ quan quản lý nhà nước về xuất bản ở địa phương xử lý xuất bản phẩm sai phạm nhưng chưa tiến hành thẩm định nội dung kỹ nên gây tranh cãi về kết luận mức độ sai phạm của xuất bản phẩm. Vì vậy theo nguyên tắc Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản trong phạm vi cả nước, dự thảo Luật quy định thẩm quyền duy nhất Bộ Thông tin và Truyền thông quyết định về kết luận sai phạm nội dung xuất bản phẩm để các cơ quan có thẩm quyền quyết định xử lý theo kết luận.

    Ngoài ra, vì việc kiểm tra toàn bộ xuất bản phẩm lưu chiểu cũng như thẩm định nội dung xuất bản phẩm vi phạm vô cùng nặng nề, phức tạp nhưng cũng không thể thiếu nên cần đảm bảo chế độ thù lao cho người kiểm tra xuất bản phẩm lưu chiểu do Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định (khoản 3)

    - Về Điều 29: Quảng cáo trên xuất bản phẩm

    Điều này được giữ nguyên như Điều 29 Luật hiện hành.

    - Về Điều 30: Xử lý vi phạm trong lĩnh vực xuất bản

    Điều này kế thừa các quy định tại Điều 30 Luật hiện hành, nhưng thiết kế lại cho khoa học, rành mạch hơn về các hành vi và hình thức xử lý.

    Dự thảo Điều này bổ sung khoản 3, 4 để quy định nghiêm khắc và chi tiết hơn về việc xử lý nhà xuất bản, các cá nhân liên quan và đối tác liên kết vi phạm quy định của dự thảo Luật này, vì qua đánh giá 6 năm thi hành Luật Xuất bản, nhiều ý kiến cho rằng việc thiếu chế tài và mức độ xử lý còn quá nhẹ đối với các hành vi vi phạm của các chủ thể trong hoạt động liên kết xuất bản.

    Khoản 5 có sửa đổi theo hướng tăng trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trước quyết định xử lý của mình để thể hiện rõ tính công bằng của pháp luật.

    3. Chương III: Tổ chức và hoạt động lĩnh vực in xuất bản phẩm (từ Điều 31 đến Điều 36)

    - Về Điều 31: Điều kiện thành lập cơ sở in và hoạt động in xuất bản phẩm

    Hoạt động in tiếp tục được xã hội hóa, nhằm thu hút nguồn lực đầu tư hiện đại hóa ngành in, mọi tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật được tham gia hoạt động in. Tuy nhiên, hoạt động in nếu không được Luật hóa toàn diện và đưa ra các công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu thì sẽ tiếp tục để cho in lậu, in giấy tờ giả; in nhãn hàng, bao bì dược phẩm, hàng hóa giả...tồn tại, nguy hiểm hơn là in tài liệu tuyên truyền chống đối Đảng và Nhà nước.

    Luật Xuất bản năm 2004 chỉ điều chỉnh, quản lý hoạt động in xuất bản phẩm nên không quản lý bao quát được hết các hoạt động in, đồng nghĩa với việc không kiểm soát được một lượng lớn cơ sở in đang hoạt động tại Việt Nam. Mục tiêu của Điều này nhằm đưa ra các điều kiện một cách cụ thể hơn để các cơ sở in bắt buộc phải đáp ứng mới được hoạt động và thống nhất quản lý tất cả cơ sở in bằng biện pháp cấp giấy phép và đăng ký hoạt động in.

    Do đó, ngoài việc kế thừa các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật hiện hành, dự thảo Luật còn được sửa đổi, bổ sung điều kiện để tổ chức, cá nhân thành lập cơ sở in (khoản 1) và phải tuân thủ các quy định về việc cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm và các điều kiện nhận in xuất bản phẩm (khoản 3).

    Khoản 2 quy định đối với cơ sở in khác thì chỉ phải đăng ký hoạt động in với ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Sở dĩ dự thảo Luật đưa ra quy định này vì lĩnh vực in đã được xã hội hóa cho mọi thành phần kinh tế tham gia, do đó số lượng cơ sở in gia tăng nhanh trong những năm gần đây. Trước năm 2004, cả nước chỉ có trên 160 cơ sở in công nghiệp thì đến nay đã có khoảng trên 1.500 cơ sở in công nghiệp lớn, nhỏ.

    Tuy nhiên, việc quản lý đối với các cơ sở in lại không cùng một khung pháp lý. Cụ thể là, trong số 1.500 cơ sở in thì mới chỉ có khoảng 400 cơ sở in chịu sự điều chỉnh của Luật Xuất bản và Nghị định số 105/2007/NĐ-CP của Chính phủ (tức là ngoài việc đăng ký kinh doanh theo pháp luật doanh nghiệp, cơ sở in còn phải có giấy phép hoạt động in khi tham gia in xuất bản phẩm, báo chí, tem chống giả). Trong khi đó, theo phân công chức năng nhiệm vụ cho các Bộ của Chính phủ tại Nghị định 187/2007/NĐCP và 105/2007-NĐCP thì Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý nhà nước toàn diện ngành in (in tất cả các loại sản phâm). Trên thực tế, 1.100 cơ sở in còn lại không bị quản lý bằng pháp luật chuyên ngành in (vì không tham gia in xuất bản phẩm, báo chí, tem chống giả nên chỉ cần có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngành nghề in do Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp là được hoạt động). Song, chính điều này vô hình chung đã tạo ra kẽ hở, dẫn đến việc quản lý 1.100 cơ sở in nói trên gần như bị buông lỏng.

    Vấn đề đáng quan ngại là, trong số 1.100 cơ sở in (không có giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm) thì gần như 100% đều có khả năng in được xuất bản phẩm. Với thiết bị in ngày càng hiện đại, một thiết bị in có thể in ra nhiều loại sản phẩm có nội dung và công dụng khác nhau. Việc quản lý một cách tách bạch theo chức năng đối với mỗi cơ sở in là rất khó khăn. Lợi dụng điều này, thời gian qua có không ít cơ sở in mặc dù không có chức năng in xuất bản phẩm nhưng vẫn thực hiện in hoặc tiếp tay cho các đối tượng khác để in lậu, in trái phép xuất bản phẩm nhằm trục lợi bất chính. Vấn nạn in lậu đến nay đã gây thiệt hại rất lớn về kinh tế và làm suy kiệt các nhà xuất bản làm ăn chân chính, đúng pháp luật. Việc làm này còn xâm hại nghiêm trọng quyền tác giả và các quyền liên quan, gây cản trở, hạn chế sức sáng tạo của đội ngũ tác giả. Nguy hại hơn, không loại trừ các cơ sở in loại này còn tham gia in lậu, in trái phép xuất bản phẩm có nội dung xấu, thậm chí xuất bản phẩm có nội dung thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia, gây phương hại đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước trên thế giới.

    - Về Điều 32: Cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm

    Điều này gồm 4 khoản, được kế thừa và sửa đổi, bổ sung từ khoản 2 và khoản 3 Điều 31 Luật hiện hành để nhằm quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm.

    Khoản 1 quy định về thẩm quyền cấp phép hoạt động in xuất bản phẩm có thay đổi so với Luật hiện hành là Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép hoạt động in xuất bản phẩm trên toàn quốc. Lý do vì theo quan điểm chỉ đạo của Đảng về hoạt động xuất bản thì xuất bản phẩm có vai trò, vị trí quan trọng trong việc cung cấp tri thức thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội đến nhiều người với các mục đích hết sức cụ thể và quan trọng được quy định tại Điều 3 Luật hiện hành và Điều 3 dự thảo Luật. Vì vậy, Luật Xuất bản hiện hành đã giao cho Bộ Thông tin và Truyền thông trực tiếp quản lý từ khâu đầu đến khâu cuối, như việc cấp phép thành lập nhà xuất bản, đăng ký, xác nhận kế hoạch đề tài xuất bản phẩm; đăng ký, xác nhận nhập khẩu xuất bản phẩm và đọc lưu chiểu thẩm định xuất bản phẩm trước khi phát hành. Tuy nhiên, đối với lĩnh vực in xuất bản phẩm, Luật Xuất bản hiện hành lại phân thành hai cấp quản lý và cấp giấy phép. Sau một thời gian thực hiện đã nảy sinh một số bất cập trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động in xuất bản phẩm. Sự không thống nhất, chồng chéo trong quản lý xuất bản phẩm tạo hệ lụy là việc thanh tra, kiểm tra không đạt được hiệu quả, dẫn đến tình trạng in xuất bản phẩm lộn xộn, khó kiểm soát, vi phạm pháp luật gia tăng.

    Mặt khác, in xuất bản phẩm là một khâu không thể tách rời trong quá trình tạo ra xuất bản phẩm. Vì vậy, để thống nhất và tránh chồng chéo trong công tác quản lý xuất bản phẩm nói riêng và lĩnh vực in nói chung, dự thảo Luật Xuất bản sửa đổi lần này được xây dựng trên cơ sở phân định rõ ràng, rành mạch và thống nhất quản lý lĩnh vực in.

    Trên tinh thần đó, dự thảo Luật đã quy định Bộ Thông tin và Truyền thông thống nhất quản lý các khâu: xuất bản, in, phát hành đối với xuất bản phẩm, phân cấp cho ủy ban nhân dân cấp tỉnh tiếp nhận đăng ký, quản lý phần lớn cơ sở in trên toàn quốc không tham gia in xuất bản phẩm (khoảng 1.100 cơ sở in).

    - Về Điều 33: Điều kiện đặt và nhận in xuất bản phẩm

    Điều này quy định điều kiện đặt in cho người đi đặt in (khách hàng) và điều kiện nhận in của cơ sở in. Các quy định tại điều này rất cụ thể, chi tiết, nhằm mục đích đảm bảo các sản phẩm in ra là hợp pháp. Các điều kiện này phục vụ cho việc giao dịch giữa cơ sở in với khách hàng đến đặt in, không thông qua cơ quan quản lý nhà nước và tạo điều kiện cho công tác thanh tra, kiểm tra (hậu kiểm) được rõ ràng, minh bạch. Quy định như vậy nhằm mục tiêu để hạn chế các hành vi in lậu, in trái phép, xâm hại bản quyền tác giả. Đồng thời cũng tạo điều kiện và là căn cứ để đưa ra chế tài xử lý vi phạm hành chính được thuận lợi, cụ thể:

    Khoản 1, quy định về việc đặt và nhận in giữa cơ sở in với tổ chức, cá nhân có nhu cầu về in phải thực hiện bằng hợp đồng in, kể cả in tăng số lượng. Kèm theo đó, còn phải được sự đồng ý của nhà xuất bản và tổ chức được cấp giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh.

    Khoản 2, cũng được quy định để góp phần hạn chế những cá nhân thực hiện hành vi giả mạo để thực hiện đặt in giả, in lậu xuất bản phẩm.

    Khoản 3, để thực hiện in xuất bản phẩm hợp pháp, cơ sở in chỉ được nhận in xuất bản phẩm có quyết định xuất bản và bản thảo hợp pháp (đã được thông qua nhà xuất bản) hoặc có giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 24 dự thảo Luật. Nếu không có các yếu tố này mà cơ sở in vẫn nhận in tức là đã vi phạm Luật.

    - Về Điều 34: In gia công xuất bản phẩm cho nước ngoài

    Nội dung cơ bản của Điều này được kế thừa từ Luật hiện hành và có sửa đổi, bổ sung cho hợp lý, chặt chẽ và đầy đủ hơn. Thực tiễn thời gian qua, quy định này đã tạo điều kiện cho các cơ sở in trong nước vươn ra thị trường nước ngoài tìm kiếm khách hàng, có nhiều cơ sở in nước ta đã làm việc này khá tốt, thu thêm được một lượng ngoại tệ nhất định cho đất nước và cho doanh nghiệp.

    Do tính chất của việc cấp giấy phép đối với từng xuất bản phẩm được in gia công cho nước ngoài, tức là bản mẫu xuất bản phẩm in gia công cho nước ngoài được khách hàng trực tiếp đặt tại cơ sở in, không thông qua nhà xuất bản nên cơ quan cấp giấy phép phải kiểm tra về nội dung của bản mẫu đó trước khi cấp giấy phép. Việc này trong thực tế đã ngăn chặn được một số nội dung trong sản phẩm in gia công không phù hợp với pháp luật Việt Nam và quan hệ quốc tế.

    Vì vậy, Điều này được thiết kế theo hướng kế thừa các quy định đang phát huy hiệu quả của Luật hiện hành, chỉ sửa đổi, bổ sung quy định về thủ tục hành chính theo hướng đơn giản và thuận lợi hơn cho cơ sở in gia công.

    - Về Điều 35: Phát hiện xuất bản phẩm vi phạm trong quá trình in

    Điều này được giữ nguyên như Luật hiện hành nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ sở in khi phát hiện những sản phẩm in vi phạm, qua đó ngăn chặn kịp thời các sản phẩm có nội dung vi phạm quy định của Luật. Đây có thể coi là một kênh kiểm soát, cánh tay nối dài của cơ quan quản lý nhà nước về xuất bản.

    - Về Điều 36: Xử lý vi phạm trong lĩnh vực in xuất bản phẩm

    Điều này quy định về một số hành vi vi phạm trong hoạt động in và các chế định của pháp luật để xử lý vi phạm trên cơ sở kế thừa và bổ sung Điều 36 của Luật Xuất bản hiện hành đã được sửa đổi, bổ sung bằng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản.

    4. Chương IV: Tổ chức và hoạt động phát hành (từ Điều 37 đến Điều 47)

    - Về Điều 37: Điều kiện thành lập cơ sở phát hành và hoạt động phát hành xuất bản phẩm

    Nội dung cơ bản của điều này được  bổ sung so với Luật hiện hành trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát thực tiến và điều chỉnh một số nội dung quy định tại Nghị định 11/2009/NĐ-CP và Nghị định số 110/2010/NĐ-CP, cụ thể như:

     Khoản 1 quy định mới về tổ chức, cá nhân Việt Nam được thành lập cơ sở phát hành xuất bản phẩm và hoạt động kinh doanh xuất bản phẩm theo loại hình đơn vị sự nghiệp công lập hoặc doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và khoản 2 quy định mới về điều kiện hoạt động của các cơ sở phát hành xuất bản phẩm.

    Các điều kiện quy định tại khoản 1 và 2 Điều này được cụ thể hóa quan điểm hoạt động phát hành xuất bản phẩm là hoạt động kinh doanh có điều kiện theo định hướng của Đảng và Nhà nước (Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 25 tháng 8 năm 2004 của Ban Bí thư về: “Nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản” trong mục 3.2 đã nêu rõ: “Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản, in, phát hành sách…Rà soát, sửa đổi, bổ sung và xây dựng các văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách đồng bộ, thống nhất để quản lý hoạt động xuất bản”.

    Đối với các cơ sở phát hành xuất bản phẩm hoạt động theo loại hình doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập phải có cấp giấy phép hoạt động phát hành xuất bản phẩm của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản.

    Khoản 3 quy định hộ kinh doanh phát hành xuất bản phẩm được hoạt động khi có giấy phép theo quy định tại khoản 1 Điều 38 của Luật này.

    Khoản 4 quy định riêng về điều kiện hoạt động phát hành xuất bản phẩm đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài. Theo cam kết trong lĩnh vực văn hóa thông tin khi Việt Nam ra nhập tổ chức Thương mại Thế giới - WTO thì các tổ chức, cá nhân nước ngoài được nhập khẩu xuất bản phẩm vào Việt Nam và có quyền phân phối, kinh doanh xuất bản phẩm (trừ sách, bao gồm: sách in, sách điện tử, sách chữ nổi, bản ghi âm, ghi hình có nội dung thay sách hoặc minh họa cho sách) khi có đủ các điều kiện quy định của pháp luật Việt Nam. Việc thiết kế khoản này phù hợp với xu hướng xây dựng Luật trên nguyên tắc  Luật hóa các cam kết, điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

    Các điều kiện quy định tại khoản 5 Điều này được điều chỉnh từ Nghị định số 11/2009/NĐ-CP và Nghị định số 110/2010/NĐ-CP quy định các điều kiện đối với hoạt động nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh. Trong quá trình trao đổi, Ban soạn thảo cũng hết sức quan tâm đến vấn đề này, vì đây là những điều kiện để đảm bảo cho hoạt động này hoạt động đúng quy định của pháp luật, nhưng vẫn đảm bảo được yêu cầu đơn giản hóa về thủ tục như đối với trường hợp kinh doanh nhập khẩu sách thì cơ sở nhập khẩu phải có ít nhất 05 nhân viên thẩm định nội dung xuất bản phẩm nhập khẩu có thời gian công tác từ 05 năm trở lên trong chuyên ngành xuất bản của Việt Nam, có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ và có bằng đại học trở lên chuyên ngành ngoại ngữ phù hợp với phần lớn số sách nhập khẩu. Đây là quy định thông thoáng hơn so với trước đây quy định về điều kiện phải có trụ sở và mặt bằng kinh doanh từ 100m2 trở lên, có vốn chủ sở hữu ít nhất 5 tỷ đồng (quy định tại Nghị định số 11/2009/NĐ-CP).

    - Về Điều 38: Cấp giấy phép trong lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm 

    Điều 38 là quy định mới so với Luật Xuất bản hiện hành, nhằm khắc phục những bất cập của thực tiễn quản lý nhà nước về phát hành xuất bản phẩm. Do thiếu chế định pháp lý dẫn đến mất vai trò kiểm soát, điều tiết của cơ quan quản lý chuyên ngành đối với hoạt động phát hành (là khâu cuối cùng, có vai trò rất quan trọng của hoạt động xuất bản, nhằm đưa xuất bản phẩm được nhiều hơn đến với người sử dụng, đáp ứng mục tiêu của ngành là “sách tốt, sách hay đến tay bạn đọc”).  

    Thực tế về quy định này, Điều 29 Luật Xuất bản năm 1993 đã quy định “Tổ chức, cá nhân kinh doanh trong lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm chỉ được phép hoạt động sau khi có giấy phép của cơ quan quản lý nhà nước về xuất bản có thẩm quyền và hoàn thành các thủ tục khác theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi,  ngày 11 tháng 8 năm 2000 Chính phủ ban hành Nghị định số 30/2000/NĐ-CP về việc bãi bỏ một số giấy phép và chuyển một số giấy phép thành điều kiện kinh doanh, trong đó có giấy phép phát hành sách báo đối với cơ sở bán lẻ sách báo và giấy phép phát hành xuất bản phẩm quy định tại Nghị định số 79/1993/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 1993 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Xuất bản. Vì vậy, các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh phát hành xuất bản phẩm chỉ xin cấp giấy phép, sau này là đăng ký kinh doanh với cơ quan chức năng tại địa phương như Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc Uỷ ban nhân dân quận, huyện và hoạt động theo Luật doanh nghiệp. Các cơ quan quản lý nhà nước về xuất bản, in, phát hành tại địa phương thì gần như không có hành lang pháp lý cụ thể để quản lý các cơ sở phát hành xuất bản phẩm do Luật hiện hành không quy định về cấp phép hoạt động phát hành xuất bản phẩm mà chỉ quy định về cấp phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm tại Điều 38.

    Qua hoạt động thực tiễn cho thấy, phát hành xuất bản phẩm là một hoạt động có tính đặc thù và nhạy cảm, là đầu mối cung cấp cho xã hội một loại hàng hóa đặc biệt có nội dung về tư tưởng, văn hóa, tri thức.. và phải thực hiện theo định hướng, chỉ đạo của Đảng (đã được xác định rõ trong Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 25 tháng 8 năm 2004 của Ban Bí thư về “Nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản” đó là: Góp phần nâng cao dân trí, phát triển văn hóa, xây dựng nền tảng tư tưởng, xây dựng đạo đức, lối sống, nhân cách con người Việt Nam, tham gia hình thành xã hội học tập, đấu tranh không khoan nhượng với các quan điểm sai trái, lạc hậu... phải coi trọng việc phục vụ nhiệm vụ chính trị, tư tưởng, đáp ứng nhu cầu đọc của nhân dân, đặc biệt quan tâm vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa...”.

    Về công tác quản lý nhà nước cho thấy: Kể từ năm 2005, do thiếu các quy định của Luật về hoạt động phát hành xuất bản phẩm, đặc biệt là các quy định về điều kiện đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động phát hành và các chế tài quản lý như cấp giấy phép, đăng ký hoạt động chuyên ngành về phát hành xuất bản phẩm nên đã dẫn đến một số bất cập, hạn chế phát sinh trong thực tiễn hoạt động của thị trường xuất bản phẩm, gây bức xúc trong nhân dân và khó khăn cho các cơ quan quản lý nhà nước, đó là:

    - Đối với các cuốn sách nội dung “có vấn đề” đang được các cơ quan chức năng xem xét, xử lý hoặc vi phạm Luật và bị cấm phát hành, thu hồi thì ngay lập tức vì lợi nhuận một số cơ sở phát hành đã tổ chức câu kết với các cơ sở in để in và phát hành trái phép. Vì vậy, hiệu quả xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với những xuất bản phẩm sai phạm không phát huy tác dụng mà còn bị các cơ sở phát hành lợi dụng để thu lợi bất hợp pháp;

    - Lợi dụng sơ hở của Luật Xuất bản, một số cơ sở phát hành chạy theo lợi nhuận và đối tượng bất chính đã có hành vi phát tán một số cuốn sách, tài liệu có nội dung kích động bạo lực, truyền bá tư tưởng phản động, lối sống dâm ô đồi trụy, mê tín dị đoan, thể hiện sai lệch về chủ quyền lãnh thổ Việt Nam nhằm tuyên truyền, chống phá Nhà nước Việt Nam;

    Do tính chất và phạm vi hoạt động, không thể xác định hoạt động phát hành xuất bản phẩm là một ngành nghề kinh tế kỹ thuật đơn thuần, mà cần phải xác định là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, cần phải cấp giấy phép hoạt động như dự thảo Luật. Qua việc cấp giấy phép hoạt động phát hành xuất bản phẩm sẽ đáp ứng được yêu cầu đặt ra cho công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động phát hành, đó là:

    - Một là, kiểm soát và điều tiết một cách hợp lý về phân bố mạng lưới cơ sở phát hành xuất bản phẩm tại các vùng miền, đặc biệt là ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa đang thiếu sách, đồng thời giám sát, quản lý hoạt động phát hành và thị trường xuất bản phẩm phát triển lành mạnh, đúng đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng;

    - Hai là, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu đọc thông qua xuất bản phẩm của các tầng lớp nhân dân, đảm bảo sự công bằng về tiếp cận thông tin, tri thức cho người dân ở mọi vùng miền đất nước, góp phần chống lại các thế lực thù địch, bảo đảm an ninh quốc gia, lãnh thổ, chủ quyền của Việt Nam;

    - Ba là, tạo điều kiện thuận cho các cơ quan quản lý nhà nước có hành lang pháp lý vững chắc để đấu tranh với các hành vi sai trái trong hoạt động phát hành xuất bản phẩm và quản lý chặt chẽ, minh bạch đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia vào hoạt động phát hành xuất bản phẩm theo cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO.

    Từ thực tiễn trên, Ban Soạn thảo thấy rằng cần quy định về cấp phép hoạt động trong lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm. Theo đó, trong dự thảo Luật, các khoản 1, 2, 4 và 5 được bổ sung (mới), còn khoản 3 là kế thừa tinh thần của Luật hiện hành và có bổ sung cho đầy đủ. Đây là những quy định hết sức cần thiết để lập lại kỷ cương và làm lành mạnh hóa thị trường kinh doanh xuất bản phẩm, đảm bảo công tác quản lý nhà nước, đồng thời tạo điều kiện cho hoạt động phát hành sách phát triển đúng quy hoạch và định hướng của Đảng và Nhà nước.

    - Về Điều 39: Đăng ký nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh

    Theo thống kê số lượng đăng ký xác nhận danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu hiện nay là rất lớn: các đơn vị PHS có chức năng nhập khẩu năm 2010 đã đăng ký gần 2.000 danh mục XBP nhập khẩu để kinh doanh, với 52.615.000 bản sách, 17.240.000 băng đĩa cassette, kim ngạch nhập khẩu đạt 17,75 triệu USD; năm 2011 là hơn 1.000 danh mục XBP nhập khẩu gồm 38.764.978 bản sách, kim ngạch nhập khẩu đạt 19,05 triệu USD. Với số lượng nhập khẩu xuất bản phẩm kinh doanh lớn như vậy cần phải quy định chi tiết hơn trong Luật sửa đổi về hồ sơ, trình tự, thủ tục, cách thức đăng ký nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh. Các quy định tại Điều này được nghiên cứu, điều chỉnh từ quy định của các Nghị định và Thông tư, nhưng cụ thể và chi tiết hơn so với Luật hiện hành.

    Khoản 2 quy định về việc thu phí nhập khẩu vì lý do: Việc nhập khẩu xuất bản phẩm từ trước cho đến nay với số lượng rất lớn nhưng chưa thực hiện thu phí và lệ phí dẫn đến tình trạng nhà nước phải chi một khoản kinh phí đáng kể từ ngân sách để thực hiện các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, đồng thời dẫn đến tình trạng các đơn vị làm thủ tục đăng ký xác nhận danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu ảo, không chính xác, ảnh hưởng tới công tác thống kê, báo cáo...do vậy cần phải thu phí và lệ phí đối với hoạt động này.

    Khoản 3 quy định rút ngắn thời gian Bộ Thông tin và Truyền thông xác nhận bằng văn bản việc đăng ký danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu là 10 ngày làm việc nhằm tạo điều kiện về thời gian, chi phí cho các cơ sở nhập khẩu.

    Theo quy định trước đây văn bản xác nhận đăng ký danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu của Bộ Thông tin và Truyền thông có giá trị cho đến 31 tháng 12 của năm, quy định này chưa phù hợp với thực tiễn của hoạt động nhập khẩu, vì vậy, khoản 4 dự thảo Luật đã được sửa đổi, điều chỉnh theo hướng văn bản xác nhận đăng ký của Bộ Thông tin và Truyền thông có giá trị cho đến khi hoàn thành thủ tục nhập khẩu với cơ quan hải quan, nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhập khẩu giảm bớt thủ tục hành chính, chi phí và thời gian nhập khẩu.

    - Về Điều 40: Thẩm định xuất bản phẩm nhập khẩu để kinh doanh

    Điều này sửa đổi từ khoản 3 Điều 39 Luật hiện hành và được nghiên cứu, điều chỉnh từ quy định của các Nghị định và Thông tư lên nhằm nâng cao trách nhiệm trước pháp luật của người đứng đầu cơ sở nhập khẩu với nội dung xuất bản phẩm nhập khẩu, ngăn chặn hiệu quả việc nhập khẩu những xuất bản phẩm có nội dung vi phạm Điều 10 dự thảo Luật này.

    Khoản 1 quy định rõ về trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh phải tổ chức thẩm định nội dung xuất bản phẩm nhập khẩu trước khi phát hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung xuất bản phẩm nhập khẩu.

    Khoản 2 quy định trường hợp phát hiện xuất bản phẩm có dấu hiệu vi phạm pháp luật Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông có quyền từ chối xác nhận đăng ký nhập khẩu đối với xuất bản phẩm và yêu cầu thẩm định xuất bản phẩm khi xuất bản phẩm có dấu hiệu vi phạm về nội dung.

    Quy trình thẩm định xuất bản phẩm nhập khẩu để kinh doanh do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết (khoản 3).

    - Về Điều 41: Cấp giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh

    Hiện nay, số lượng xuất bản phẩm nhập khẩu không kinh doanh được nhập khẩu vào nước ta ngày càng tăng, năm 2011 chỉ tính riêng tại Hà Nội, Sở Thông tin và Truyền thông đã cấp 1.300 giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh với hơn 10.000 bản sách, thành phố Hồ Chí Minh là 13.000 giấy phép với gần 100.000 bản sách.

    Các quy định về việc nhập khẩu này  tại Nghị định và Thông tư hướng dẫn về việc nhập khẩu không kinh doanh đã được sửa đổi  chi tiết, cụ thể và thông thoáng theo hướng tạo điều kiện cho các tổ chức cá nhân nhập khẩu phục vụ nhu cầu của mình, nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu về quản lý, vì vậy Ban soan thảo đã nghiên cứu  Luật hóa các quy định  tại các văn bản pháp luật hiện hành đó vào nội dung Điều này của Luật sửa đổi để cụ thể hóa các quy định theo hướng minh bạch, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân thực hiện nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh. Tuy nhiên, cũng xác định rõ quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lý trong việc này như tại khoản 6 quy định riêng đối với trường hợp phát hiện xuất bản phẩm đề nghị nhập khẩu có dấu hiệu vi phạm pháp luật Việt Nam thì cơ quan cấp giấy phép có quyền từ chối hoặc có văn bản chấp thuận nhập khẩu tạm thời với số lượng xuất bản phẩm đủ để cơ quan cấp giấy phép tổ chức thẩm định nội dung thay cho giấy phép nhập khẩu tạm thời theo quy định trước đây.

    - Về Điều 42: Nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh không phải cấp phép

    Đây là Điều mới được nghiên cứu đưa từ điểm 2, 3, 4, 5 khoản 3, Điều 2 của Nghị định số 11/2009/NĐ-CP ngày 10  tháng 02 năm 2009 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 111/2005/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xuất bản vào dự thảo Luật để có tính pháp lý cao hơn.

    Ban soạn thảo đã thiết kế một điều riêng về nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh không phải cấp phép nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân khi nhập khẩu xuất bản phẩm vào Việt Nam không phải đề nghị cấp phép mà chỉ làm thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan đối với một số trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều này. Đồng thời tại khoản 2 cũng quy định rõ các trường hợp xuất bản phẩm đã đưa vào Việt Nam sau khi sử dụng xong phải tái xuất hoặc làm thủ tục đề nghị cấp giấy phép nhập khẩu.

    Khoản 3 quy định việc nhập khẩu xuất bản phẩm của tổ chức, cá nhân được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ thực hiện theo quy định của pháp luật hải quan và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

    - Về Điều 43: Thẩm định nội dung xuất bản phẩm nhập khẩu không kinh doanh

    Điều này được nghiên cứu, điều chỉnh từ quy định của các Nghị định và Thông tư đang thực hiện nhằm mục tiêu xác định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong động nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh.

    Tại khoản 1 quy định: tổ chức, cá nhân có xuất bản phẩm nhập khẩu không kinh doanh phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung xuất bản phẩm do mình nhập khẩu nhằm nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân tham gia nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh.

    Quy định mới tại khoản 2 là  đối với các xuất bản phẩm cần thẩm định nội dung, cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản có trách nhiệm thành lập hội đồng thẩm định nội dung gồm các chuyên gia có đủ trình độ để thẩm định để thay thế cho quy định cũ là giao cho các tổ chức, cá nhân nhập khẩu tự thành lập hội đồng để thực hiện thẩm định nội dung các xuất bản phẩm theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước. Vì thực tế cho thấy khi giao cho các tổ chức, cá nhân nhập khẩu tự thẩm định nội dung các xuất bản phẩm thì họ chỉ làm qua loa, hình thức, chiếu lệ, để lọt lưới các xuất bản phẩm có nội dung không tốt hoặc vi phạm Luật Xuất bản...

    Luật Xuất bản và Pháp lệnh phí và lệ phí  chưa quy định thu phí và lệ phí trong hoạt động xuất bản, đặc biệt là trong những trường hợp phải tổ chức thẩm định nội dung của xuất bản phẩm để đưa ra quyết định có hoặc không cấp giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm (sách có nội dung phức tạp, bằng tiếng nước ngoài có liên quan đến chính trị, lịch sử địa lý…) đang gặp phải những khó khăn về kinh phí thẩm định. Do vậy, cần quy định trong dự thảo Luật này việc cơ sở có xuất bản phẩm nhập khẩu chịu kinh phí thẩm định.

    - Về Điều 44: Phát hành xuất bản phẩm điện tử

    Nội dung Điều này mới hoàn toàn so với Luật hiện hành. Phạm vi, đối tượng điều chỉnh khác so với Điều 25 của dự thảo là điều chỉnh việc phát hành các xuất bản phẩm điện tử (định dạng số).

    Cụ thể quy định: chỉ những xuất bản phẩm đã xuất bản và đang lưu hành hợp pháp mới được phát hành phiên bản điện tử. Đồng thời trước khi phát hành (tức là trước khi đưa lên mạng hoặc cung cấp để cài đặt vào thiết bị điện tử cầm tay), kể cả các xuất bản phẩm đã được xuất bản trên giấy thông qua các nhà xuất bản, phải được sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ nhằm hạn chế, ngăn ngừa tình trạng xâm hại quyền tác giả và quyền liên quan trong hoạt động xuất bản, in, phát hành.

    Điều này còn quy định trước khi thực hiện phát hành xuất bản phẩm điện tử phải thông báo bằng văn bản với Bộ Thông tin và Truyền thông để quản lý và quy hoạch hoạt động này. Đồng thời có cơ sở để phát hiện và ngăn chặn kịp thời việc số hoá và phát tán những xuất bản phẩm đang bị đình chỉ phát hành, thu hồi bởi đây là thực trạng đang diễn ra và gây khó khăn cho công tác quản lý.

    - Về Điều 45: Xuất khẩu xuất bản phẩm

    Điều này giữ nguyên như Luật hiện hành nhằm khuyến khích các tổ chức và cá nhân xuất khẩu xuất bản phẩm ra nước ngoài phục vụ nhu cầu đọc của cộng đồng người Việt Nam ở các nước và công tác thông tin đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

     - Về Điều 46: Triển lãm, hội chợ xuất bản phẩm

    Điều này cơ bản giữ nguyên như Điều 42 Luật hiện hành, chỉ bổ sung nội dung về thẩm quyền cấp phép tại khoản 2, cụ thể là:

    a) Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép cho tổ chức ở Trung ương, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế;

    b) Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép cho tổ chức, cá nhân của địa phương, chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị trực thuộc tổ chức của Trung ương tại địa phương.

    - Về Điều 47: Xử lý vi phạm trong lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm

    Trước vấn nạn về sách lậu, sách in nối bản tràn lan trên thị trường hiện nay, đã phát sinh những hình thức vi phạm khác như xuất bản phẩm đã được số hóa, ghi trên các thiết bị điện tử và trên mạng internet vi phạm bản quyền, không xin phép hoặc đăng ký danh mục nhập khẩu, nhà cung cấp ở nước ngoài bán, cung cấp trực tiếp cho khách hàng ở Việt Nam, cần được nghiên cứu điều chỉnh tại dự thảo Luật này. Trên cơ sở đó, quy định các chế tài và tăng thêm mức xử phạm đối với các cơ sở phát hành xuất bản phẩm, tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định của pháp luật khi hoạt động phát hành xuất bản phẩm thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị tạm đình chỉ phát hành, đình chỉ phát hành, thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, tiêu huỷ xuất bản phẩm vi phạm, tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh, thu hồi giấy phép hoạt động kinh doanh phát hành xuất bản phẩm, tạm đình chỉ hoạt động nhập khẩu, thu hồi giấy phép hoạt động nhập khẩu, hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật

    Bổ sung thêm điểm a về phát hành, nhập khẩu xuất bản phẩm mà không có giấy phép hoạt động theo quy định tại Điều 38 của Luật này; bổ sung thêm các điểm b, h khoản 1 quy định về một số hành vi cần xử lý vi phạm cho phù hợp thực tiễn và có căn cứ để ban hành chế tài.

     2.5. Về Chương V: Điều khoản thi hành (từ Điều 48 đến Điều 50)

    - Về Điều 48: Hiệu lực thi hành

    Điều này quy định để xác định thời điểm phát sinh hiệu lực thi hành, đồng thời quy định thay thế các Luật Xuất bản 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản 2008.

    - Về Điều 49: Điều khoản chuyển tiếp

    Điều này quy định các đơn vị xuất bản, in, phát hành đang hoạt động phải chấp hành các quy định của Luật này sau khi có hiệu lực như: phải đáp ứng các điều kiện và cấp, cấp đổi giấy phép hoạt động; chuyển đổi hình thức hoạt động cho phù hợp.

     - Về Điều 50: Quy định chi tiết thi hành

    Điều này quy định Chính phủ có trách nhiệm quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao Luật này và các nội dung cần thiết khác để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước./.

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com