Chủ nhật, ngày 21/09/2014login

  • Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội

      Tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội đã thảo luận, cho ý kiến về dự án Luật công đoàn (sửa đổi). Sau kỳ họp, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Ủy ban pháp luật, Cơ quan soạn thảo (Tổng liên đoàn lao động Việt Nam) và các cơ quan hữu quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến các vị đại biểu Quốc hội để chỉnh lý dự thảo Luật. Ngày 02/01/2012, Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách đã cho ý kiến về một số vấn đề lớn của dự án Luật, sau đó dự thảo Luật đã được tiếp thu, chỉnh lý và gửi đến các Đoàn đại biểu Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội để thảo luận, cho ý kiến. Trên cơ sở ý kiến của các Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, dự án tiếp tục được chỉnh lý, hoàn thiện để trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp này.

    Dưới đây, Ủy ban thường vụ Quốc hội xin trình Quốc hội Báo cáo giải trình, tiếp thu và chỉnh lý dự thảo Luật công đoàn (sửa đổi).

    1. Về tên gọi của Luật

    - Có ý kiến đề nghị tên gọi của Luật là “Luật tổ chức công đoàn” nhằm xác định rõ đối tượng điều chỉnh của luật.

    Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, Công đoàn là một tổ chức chính trị - xã hội có vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị ở nước ta. Tuy nhiên, công đoàn không phải là một thiết chế thuộc bộ máy nhà nước nên tổ chức và hoạt động của công đoàn phải tuân thủ Điều lệ Công đoàn Việt Nam và các quy định của pháp luật có liên quan. Dự thảo Luật công đoàn không quy định chi tiết về tổ chức công đoàn mà tập trung quy định về quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động; chức năng, quyền và trách nhiệm của công đoàn; quyền, trách nhiệm của đoàn viên công đoàn; trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp sử dụng lao động đối với công đoàn; bảo đảm hoạt động của công đoàn; giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm pháp luật công đoàn. Do đó, kế thừa tên gọi của Luật công đoàn năm 1957 và Luật công đoàn năm 1990, Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị giữ tên gọi là Luật công đoàn như dự thảo Luật trình Quốc hội.

    2. Về địa vị pháp lý của công đoàn (Điều 1)

    - Có ý kiến đề nghị bổ sung nguyên tắc “tự nguyện” thành lập của công đoàn cho phù hợp với tính chất tổ chức và hoạt động của công đoàn. Bởi vì, với tính chất là một tổ chức chính trị - xã hội thì việc thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn đều xuất phát từ tinh thần tự nguyện của người lao động. Đây là đặc trưng của các tổ chức chính trị - xã hội nói chung cũng như công đoàn nói riêng.

    Tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã cho bổ sung nguyên tắc tự nguyện thành lập tại Điều 1 của dự thảo Luật cho phù hợp với tính chất tổ chức và hoạt động của công đoàn.

    - Có ý kiến đề nghị giữ nguyên quy định trong Luật công đoàn hiện hành về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công đoàn. Một số ý kiến khác đề nghị không cần thiết phải quy định vấn đề này trong Luật.

    Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc quan trọng đối với toàn bộ hệ thống chính trị nước ta, trong đó có tổ chức công đoàn. Nguyên tắc này cũng đã được ghi nhận tại Điều 4 Hiến pháp năm 1992. Kế thừa quy định của Luật công đoàn hiện hành, tiếp thu ý kiến các vị đại biểu Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã bổ sung quy định sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của công đoàn như tại Điều 1 của dự thảo Luật.

     - Có ý kiến đề nghị làm rõ chức năng đại diện của công đoàn, vì cho rằng công đoàn không phải tổ chức duy nhất có chức năng chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Bởi vì, theo quy định của Hiến pháp thì “công đoàn cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác” (Điều 10 Hiến pháp 1992), và với yêu cầu “Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị ..., trong đó, sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước có vai trò quyết định, công đoàn có vai trò quan trọng trong việc chăm lo xây dựng giai cấp công nhân”[1].

    Tiếp thu ý kiến này và các ý kiến nêu trên, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã cho chỉnh lý Điều 1 như Dự thảo Luật.

     3. Về quyền gia nhập và hoạt động công đoàn của lao động là người nước ngoài (khoản 2 Điều 5)

    Về vấn đề này, có hai loại ý kiến như sau:

    - Loại ý kiến thứ nhất tán thành với quy định về quyền gia nhập công đoàn Việt Nam của lao động là người nước ngoài;

    - Loại ý kiến thứ hai đề nghị không quy định vấn đề này.

    Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, chức năng chính của công đoàn là chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của giai cấp công nhân và người lao động trên lãnh thổ Việt Nam. Hiện nay ở nước ta có hàng chục ngàn lao động nước ngoài đang làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc tại các doanh nghiệp của Việt Nam. Trên thực tế, quan hệ giữa lao động là người nước ngoài với người sử dụng lao động ở một số nơi có phát sinh mâu thuẫn. Trong trường hợp như vậy, cần đề cao trách nhiệm và vai trò của công đoàn, tăng cường mối quan hệ giữa công đoàn với người lao động để bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích của người lao động. Tuy nhiên, cũng có ý kiến đề nghị không quy định vấn đề này trong Luật, vì theo quy định tại Điều 1 của dự thảo Luật thì công đoàn không chỉ có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích của đoàn viên công đoàn mà còn có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động nói chung, trong đó có lao động là người nước ngoài. Do đó, không nhất thiết phải quy định quyền gia nhập và hoạt động công đoàn của lao động là người nước ngoài. 

    Do còn ý kiến khác nhau, Ủy ban thường vụ Quốc hội xin trình Quốc hội hai phương án như sau:

    Phương án 1: Không quy định quyền gia nhập và hoạt động công đoàn Việt Nam của lao động là người nước ngoài.

    Phương án 2: Quy định quyền gia nhập và hoạt động công đoàn Việt Nam của lao động là người nước ngoài. Cụ thể khoản 2 Điều 5 dự thảo Luật được chỉnh lý như sau:

    “2. Người lao động là người nước ngoài làm việc tại đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam mà có tổ chức công đoàn cơ sở, nếu có giấy phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp và hợp đồng lao động còn hiệu lực từ 6 tháng trở lên thì được gia nhập và hoạt động công đoàn nhưng không được tham gia vào cơ quan lãnh đạo công đoàn các cấp.”

    4. Về quy định thành lập Công đoàn cơ sở đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp có từ 20 lao động trở lên (Điều 6 của dự thảo Luật trình Quốc hội cho ý kiến)

    - Có ý kiến đề nghị bỏ quy định này vì cho rằng, hiện nay số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ có dưới 20 lao động chiếm phần lớn trong tổng số doanh nghiệp (trên 80% tổng số doanh nghiệp), do đó, nếu quy định chỉ những doanh nghiệp có từ 20 lao động trở lên phải thành lập công đoàn cơ sở là không phù hợp với thực tiễn. Có ý kiến đề nghị làm rõ căn cứ để quy định 20 lao động trở lên phải thành lập công đoàn cơ sở, đồng thời cho rằng quy định này không thống nhất với Điều lệ Công đoàn Việt Nam hiện hành.

    Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, quy định cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có từ 20 lao động trở lên phải thành lập công đoàn cơ sở là trái với nguyên tắc tự nguyện thành lập mới được bổ sung tại Điều 1 của dự thảo Luật. Quy định như vậy dẫn đến thực tế là đối với các doanh nghiệp có từ 20 lao động trở lên mà không thành lập công đoàn là vi phạm luật và phải có chế tài đối với những vi phạm này. Tuy nhiên, người lao động không tự nguyện thì người sử dụng lao động cũng như công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở không thể “bắt buộc” họ thành lập tổ chức công đoàn được. Mặt khác, Điều lệ Công đoàn Việt Nam hiện hành cũng chỉ quy định một cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp khi có đủ 5 đoàn viên thì có quyền thành lập công đoàn cơ sở. Vì vậy, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị không quy định cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp có từ 20 lao động trở lên phải thành lập công đoàn. Tuy nhiên, để bảo đảm chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, các điều 10, 15, 16 và 17 dự thảo Luật đã được chỉnh lý, bổ sung theo hướng quy định rõ hơn trách nhiệm của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở trong việc tuyên truyền, vận động, thu hút người lao động tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nơi chưa có công đoàn cơ sở thành lập và gia nhập công đoàn; người sử dụng lao động, các tổ chức, đoàn thể khác có trách nhiệm phối hợp với công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn; nghiêm cấm mọi hành vi cản trở, gây khó khăn trong việc thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn.

    5. Về hệ thống tổ chức và tên gọi của công đoàn các cấp (Điều 7)

    Có ý kiến đề nghị quy định hệ thống tổ chức công đoàn gồm 4 cấp như dự thảo Luật trình Quốc hội cho ý kiến; có ý kiến đề nghị Luật chỉ quy định nguyên tắc tổ chức của công đoàn, các nội dung cụ thể sẽ do Điều lệ công đoàn Việt Nam quy định.

                 Ủy ban thường vụ Quốc hội cho rằng, để tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức công đoàn đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của mình, đồng thời  phù hợp với vị trí của một tổ chức chính trị - xã hội thì Luật công đoàn chỉ cần quy định nguyên tắc xây dựng hệ thống tổ chức công đoàn. Trên cơ sở nguyên tắc được quy định trong Luật, Điều lệ công đoàn Việt Nam sẽ quy định cụ thể về tổ chức công đoàn.

    - Có ý kiến đề nghị quy định thống nhất ngay trong dự thảo Luật tên gọi của các cấp công đoàn, theo đó ở cấp trung ương tên gọi sẽ là Tổng Công đoàn Việt Nam thay cho Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.

    Xuất phát từ thực tiễn, để tạo điều kiện cho tổ chức và hoạt động của công đoàn các cấp, Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị Quốc hội cho tiếp thu ý kiến này của các vị đại biểu Quốc hội, quy định tên gọi công đoàn ở cấp Trung ương là Tổng Công đoàn ngay trong dự án Luật, còn tên gọi cụ thể của công đoàn các cấp sẽ do Điều lệ Công đoàn Việt Nam quy định. Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các cơ quan hữu quan dự kiến về nguồn lực, thời gian, cách thức tổ chức thực hiện và các điều kiện bảo đảm khác để việc thay đổi tên gọi được thực hiện thống nhất trong hệ thống tổ chức công đoàn, không ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của công đoàn các cấp. Cụ thể, Điều 7 dự thảo Luật được chỉnh lý như sau:

    “Điều 7. Hệ thống tổ chức công đoàn

    Hệ thống tổ chức công đoàn gồm có Tổng Công đoàn Việt Nam và công đoàn các cấp theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam.

    Công đoàn cơ sở được tổ chức trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức khác có sử dụng lao động theo quy định của pháp luật lao động, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.”

     

    6. Về trách nhiệm của công đoàn trong việc “tổ chức và lãnh đạo đình công” (khoản 9 Điều 10)

    Có ý kiến tán thành với quy định chung về trách nhiệm của công đoàn trong việc tổ chức và lãnh đạo đình công của công đoàn; có ý kiến đề nghị quy định cụ thể hơn về trách nhiệm tổ chức và lãnh đạo đình công đối với công đoàn; trình tự, thủ tục tổ chức và lãnh đạo đình công của công đoàn để bảo đảm công đoàn có thể tổ chức và lãnh đạo đình công trên thực tế và các cuộc đình công diễn ra đúng pháp luật.

    Ủy ban thường vụ Quốc hội cho rằng, với chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, để thúc đẩy quan hệ lao động hài hòa thì trách nhiệm của công đoàn khi có mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động trước hết phải là hoà giải, thương lượng, vận động, thuyết phục nhằm đạt được thỏa thuận, hạn chế xảy ra đình công gây thiệt hại cho cả hai bên. Trường hợp mâu thuẫn về lợi ích không thỏa thuận được thì công đoàn có trách nhiệm tổ chức và lãnh đạo người lao động thực hiện quyền đình công của mình theo đúng quy định của pháp luật, đồng thời đại điện cho người lao động để tiếp tục đàm phán với người sử dụng lao động đi đến thống nhất giải quyết vụ việc đình công hoặc đại diện cho tập thể người lao động để giải quyết vụ việc đình công. Vì vậy, Luật công đoàn cần quy định về trách nhiệm của công đoàn trong việc tổ chức và lãnh đạo đình công; tuy nhiên, trình tự, thủ tục cụ thể tổ chức và lãnh đạo đình công của công đoàn được thực hiện theo quy định của Bộ luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành.

    7. Về quyền trình dự án luật, pháp lệnh, kiến nghị xây dựng chính sách, pháp luật và tham dự các phiên họp (Điều 12, Điều 13)

    - Có ý kiến đề nghị không quy định về các quyền này của công đoàn trong Luật công đoàn, vì đã được quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.

    Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, với tư cách là một tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thì quyền trình dự án luật, pháp lệnh và một số quyền của công đoàn đã được ghi nhận và quy định trong Hiến pháp, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và một số văn bản quy phạm pháp luật khác như ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội đã nêu. Tuy nhiên, để khẳng định rõ và đầy đủ hơn về quyền của công đoàn trong việc tham gia với các cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp trong quá trình xây dựng, hoạch định chính sách với mục đích bảo đảm cho công đoàn thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình, đồng thời cũng phù hợp với tính chất, chức năng của công đoàn thì Luật cũng cần quy định cụ thể quyền của công đoàn trong việc trình dự án luật, pháp lệnh, kiến nghị xây dựng chính sách, pháp luật và tham dự các phiên họp của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho giữ quy định này tại Điều 12 và Điều 13 của  dự thảo Luật.

     

    8. Về việc bố trí cán bộ công đoàn chuyên trách trong doanh nghiệp (khoản 3 Điều 16)

    Về vấn đề này còn có hai loại ý kiến như sau:

    -  Loại ý kiến thứ nhất tán thành với quy định của dự thảo Luật trình Quốc hội cho ý kiến, theo đó công đoàn cơ sở ở những cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có từ 500 lao động trở lên được bố trí ít nhất một cán bộ công đoàn chuyên trách.

    - Loại ý kiến thứ hai đề nghị cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có từ 300 lao động trở lên được bố trí ít nhất một cán bộ công đoàn chuyên trách để bảo đảm tính thống nhất với dự thảo Bộ luật lao động (sửa đổi).

    Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, việc bố trí cán bộ công đoàn chuyên trách cần dựa trên cơ sở xác định khối lượng công việc của công đoàn cơ sở, tức xuất phát từ nhu cầu công việc chứ không chỉ dựa vào số lượng lao động có trong đơn vị. Để bảo đảm tính chủ động cho công đoàn, Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị quy định theo hướng “Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ của từng công đoàn cơ sở và số lượng lao động trong đơn vị, cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ công đoàn quyết định bố trí cán bộ công đoàn chuyên trách”. Đồng thời, để bảo tính thống nhất về kỹ thuật lập pháp trong dự thảo Luật, nội dung này được chuyển xuống thành khoản 3 Điều 23 cho phù hợp.

    9. Về quyền và trách nhiệm của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở đối với người lao động ở cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chưa thành lập công đoàn cơ sở (Điều 17)

    - Nhiều ý kiến tán thành với phương án 1 của dự thảo Luật trình Quốc hội cho ý kiến về việc công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở có trách nhiệm đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động ở đơn vị chưa thành lập được tổ chức công đoàn khi có yêu cầu của người lao động.

    - Có ý kiến đề nghị cân nhắc quy định này, vì cán bộ công đoàn phải do đoàn viên công đoàn bầu ra thì mới đại diện được cho người lao động; mặt khác, việc công đoàn cấp trên đứng ra bảo vệ sẽ khó thực hiện và không kịp thời. Ngoài ra, có ý kiến đề nghị đổi tên Điều 17 thành “Quyền và trách nhiệm của công đoàn cấp trên trực tiếp đối với người lao động ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị và doanh nghiệp”.

    Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, trách nhiệm quan trọng nhất của công đoàn là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động. Vì vậy, ở những nơi chưa có tổ chức công đoàn cơ sở thì khi có yêu cầu của người lao động, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở phải thực hiện trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, đồng thời có trách nhiệm khẩn trương vận động thành lập công đoàn cơ sở để bảo vệ quyền lợi cho người lao động trong doanh nghiệp. Đồng thời, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉnh lý lại tên Điều 17 cho phù hợp.

    10. Về quyền và trách nhiệm của đoàn viên công đoàn

    - Nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung quy định về quyền và trách nhiệm của đoàn viên công đoàn ngay trong Luật này. Bởi vì, đây là một trong những nội dung rất được các đoàn viên công đoàn quan tâm.

    Tiếp thu ý kiến các vị đại biểu Quốc hội, dự thảo Luật đã bổ sung quy định về quyền, trách nhiệm của đoàn viên công đoàn tại Điều 18 và Điều 19 của dự thảo Luật.

    11. Về thẩm quyền quyết định tổ chức, cán bộ (Điều 23)

    - Có ý kiến cho rằng quy định Tổng liên đoàn lao động Việt Nam quyết định về tổ chức và cán bộ của hệ thống công đoàn là không phù hợp với quy định của Luật cán bộ, công chức.

    Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã cho chỉnh lý lại khoản 2 Điều 23 của dự thảo Luật như sau: “Tổng Công đoàn Việt Nam xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy và chức danh cán bộ công đoàn trình cơ quan có thẩm quyền quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền.”

    12. Về bảo đảm điều kiện hoạt động công đoàn (Điều 24)

    - Có ý kiến cho rằng quy định về thời gian hoạt động công đoàn tại khoản 2 Điều 24 của dự thảo Luật chưa phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật lao động. Có ý kiến đề nghị nâng thời gian hoạt động công đoàn tại khoản 2 lên thành 32 giờ và 18 giờ.

    Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, theo quy định của Bộ luật lao động hiện hành thì cán bộ công đoàn không chuyên trách trong một tháng được sử dụng ít nhất 3 ngày làm việc để hoạt động công đoàn. Qua khảo sát thực tiễn cho thấy, việc quy định thời gian dành cho hoạt động công đoàn cần căn cứ vào tính chất tổ chức và hoạt động của từng loại hình cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, đồng thời cũng phải phù hợp với từng vị trí việc làm và công việc của cán bộ công đoàn không chuyên trách. Bên cạnh đó cũng phải tính đến việc bảo đảm thời gian làm việc của cán bộ công đoàn không chuyên trách để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Tiếp thu ý kiến các vị đại biểu Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉnh lý nội dung này cho phù hợp, đồng thời bảo đảm sự thống nhất với dự thảo Bộ luật lao động (sửa đổi) trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp này.

    - Có ý kiến đề nghị quy định “Đơn vị sử dụng lao động phải trả lương trong những ngày người lao động nghỉ làm việc để hoạt động công đoàn”. Có ý kiến đề nghị quy định rõ “cán bộ công đoàn tham dự các cuộc họp, tập huấn do công đoàn triệu tập phải được bảo đảm chế độ tiền lương”, đồng thời xác định rõ người trả lương.

     Tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã cho chỉnh lý các nội dung này như đã thể hiện tại khoản 3 Điều 24 của dự thảo Luật.

    13. Về bảo đảm cho cán bộ công đoàn (Điều 25)

    - Có ý kiến cho rằng quy định bảo đảm cho cán bộ công đoàn được tiếp tục ký hợp đồng lao động tại khoản 1 Điều 25 và quy định đơn vị sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng tại khoản 2 Điều 25 là không thống nhất với quy định của Bộ luật dân sự, Bộ luật lao động và Luật doanh nghiệp  về nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận.

    Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, việc ký kết, thực hiện hợp đồng lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động nói chung cần bảo đảm nguyên tắc tự nguyện theo đúng tinh thần của Bộ luật lao động và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Tuy nhiên, cán bộ công đoàn không chuyên trách vừa phải thực hiện trách nhiệm đối với người sử dụng lao động như đã cam kết trong hợp đồng, vừa có trách nhiệm thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động với tư cách là cán bộ công đoàn. Để bảo đảm cho cán bộ công đoàn yên tâm thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, cũng như bảo đảm cho hoạt động của công đoàn cơ sở không bị gián đoạn thì cần có cơ chế bảo đảm cho họ về vị trí việc làm, công việc như quy định tại Điều 25 dự thảo Luật. Quy định cũng bảo đảm thống nhất với quy định của dự thảo Bộ Luật lao động (sửa đổi) trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp này. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho giữ quy định này trong dự thảo Luật.

    14. Về tài chính công đoàn (Điều 26)

    - Nhiều ý kiến tán thành quy định của dự thảo Luật trình Quốc hội về nguồn thu của công đoàn bao gồm cả kinh phí do các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp đóng. Tuy nhiên, về mức đóng thì ý kiến còn khác nhau: có ý kiến tán thành quy định mức đóng bằng 2% tổng quỹ lương thực trả cho người lao động; ý kiến khác đề nghị mức đóng bằng 2% tổng quỹ lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội; có ý kiến lại đề nghị quy định mức đóng tối đa bằng 2% quỹ lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, đồng thời giao Chính phủ quy định cụ thể.

    - Có ý kiến không tán thành quy định cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp đóng kinh phí công đoàn, vì cho rằng theo quy định của Luật ngân sách nhà nước thì ngân sách nhà nước bảo đảm cân đối kinh phí hoạt động đối với các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó có công đoàn.

    Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, quy định về tài chính công đoàn là cần thiết nhằm bảo đảm cho công đoàn thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao của một tổ chức chính trị - xã hội. Việc xác định nguồn tài chính công đoàn cần xem xét đến tính lịch sử của quá trình hình thành nguồn tài chính công đoàn, nhu cầu của tổ chức công đoàn và khả năng phát triển của lực lượng lao động, tổ chức kinh tế và việc điều chỉnh tiền lương, giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của Luật này.

    Ủy ban thường vụ Quốc hội xin trình Quốc hội quy định về Tài chính công đoàn như sau:

    "Điều 26. Tài chính công đoàn

    Tài chính công đoàn gồm các nguồn thu sau đây:

    1. Đoàn phí công đoàn do đoàn viên công đoàn đóng theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam;

    2. Kinh phí công đoàn do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đóng bằng 2% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động.

    Chính phủ quy định chi tiết thực hiện Khoản này sau khi thống nhất với Tổng Công đoàn Việt Nam;

    3. Ngân sách Nhà nước cấp hỗ trợ;

    4. Nguồn thu khác từ hoạt động văn hóa, thể thao, hoạt động kinh tế của công đoàn; từ đề án, dự án do Nhà nước giao; từ viện trợ của tổ chức công đoàn quốc tế, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.”

    15. Về quản lý, sử dụng tài chính công đoàn (Điều 27)

    - Có ý kiến đề nghị cân nhắc không nên quy định về quyền tự quản tài chính của công đoàn.

    - Có ý kiến đề nghị quy định rõ quyền tự quản tài chính của công đoàn.

    Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, tài chính công đoàn được hình thành từ nhiều nguồn, trong đó có nguồn do ngân sách nhà nước cấp, có nguồn do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đóng, có nguồn thu từ việc khai thác, sử dụng cơ sở vật chất, kỹ thuật, từ dự án, đề án do Nhà nước giao. Mặt khác, lại có các khoản thu khác do bản thân các đoàn viên công đoàn đóng (đoàn phí) theo Điều lệ hoặc từ viện trợ của các tổ chức công đoàn quốc tế, tổ chức, cá nhân trong và nước ngoài. Vì vậy, đề nghị cho chỉnh lý nội dung này theo hướng “Công đoàn thực hiện quản lý và sử dụng tài chính công đoàn theo quy định của pháp luật và của Tổng Công đoàn Việt Nam.” (khoản 1 Điều 27).

    16. Về kiểm tra, giám sát tài chính Công đoàn (Điều 29)

    - Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể cơ chế kiểm tra, giám sát việc sử dụng tài chính công đoàn; quy định rõ về cơ quan kiểm tra, giám sát việc sử dụng kinh phí công đoàn, cơ chế thanh tra, kiểm tra, kiểm toán tài chính công đoàn của các cơ quan nhà nước.

    - Có ý kiến đề nghị giữ quy định về Ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp trong Luật.

    Ủy ban thường vụ Quốc hội cho rằng, việc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát tài chính của bất kỳ cơ quan, tổ chức nào cũng được thực hiện theo quy định của pháp luật. Pháp luật hiện hành cũng quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát việc sử dụng tài chính ở các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. Vì vậy, đề nghị không quy định cụ thể về chủ thể cũng như các cơ chế thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát trong Luật này.

    Về quy định cụ thể Ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp trong Luật, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho rằng bên cạnh các cơ chế kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát của Nhà nước thì Công đoàn có quyền kiểm tra nội bộ theo đúng các quy định của pháp luật và Điều lệ Công đoàn Việt Nam. Việc quy định cụ thể chức năng của Ủy ban kiểm tra ngay trong Luật là không nên, bởi vì đây là một cơ cấu trong tổ chức công đoàn. Vì vậy, đề nghị chỉnh lý nội dung này như sau:

    "Điều 29. Kiểm tra, giám sát tài chính Công đoàn

    1. Công đoàn cấp trên hướng dẫn việc kiểm tra và giám sát việc thực hiện công tác tài chính của công đoàn cấp dưới theo quy định của pháp luật và Tổng Công đoàn Việt Nam.

    2. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính của công đoàn theo quy định của pháp luật và Tổng Công đoàn Việt Nam.”

    17. Về việc  sửa tên gọi của công đoàn trong các luật khác

    Để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đề nghị Quốc hội cho bổ sung một điều quy định việc sửa đổi quy định có liên quan đến tên gọi của Tổng Công đoàn trong Luật bảo hiểm xã hội và Bộ luật lao động như sau:

     “Điều 32. Sửa đổi, bổ sung Điều 107 của Luật bảo hiểm xã hội và một số điều của Bộ luật lao động

    Thay cụm từ “Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam” tại Điều 107 Luật bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11 và tại các điều 56, 57, 95, 106, 132, 150, 153, 156, và 181 của Bộ lao động năm 1994 đã được sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006 và 2007 và các quy định trong các văn bản pháp luật khác bằng cụm từ “Tổng Công đoàn Việt Nam”.

    Ngoài các nội dung nên trên, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo các cơ quan hữu quan nghiên cứu ý kiến đại biểu Quốc hội để tiếp thu, chỉnh lý nhiều điều, khoản cụ thể khác trong dự thảo Luật cả về nội dung và kỹ thuật văn bản.

                                                            *

    *          *

    Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

    Trên đây là Báo cáo giải trình, tiếp thu và chỉnh lý dự thảo Luật công đoàn (sửa đổi), Ủy ban thường vụ Quốc hội xin kính trình Quốc hội xem xét, quyết định.

     

     

     

    Nơi nhận:                     

    - Như trên;                                               

    - Lưu HC, PL.

    TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

    KT. CHỦ TỊCH

    PHÓ CHỦ TỊCH

    (đã ký)

    Uông Chu Lưu



    [1] Điểm 5, mục 1, phần II Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Khóa X số 20-NQ/TW ngày 28/01/2008.

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com