Thứ năm, ngày 17/04/2014login
  • Lĩnh vực: Pháp luật
  • Cơ quan trình dự thảo: Chính phủ
  • Cơ quan chủ trì soạn thảo: Bộ Tư pháp
  • Ủy ban thẩm tra: Ủy ban Pháp luật
  • Thảo luận tại: Kỳ họp thứ 1 - Khóa XIII
  • Thông qua tại: Kỳ họp thứ 3 - Khóa XIII
  • Trạng thái: Đã thông qua

Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật; nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật; quản lý nhà nước và các điều kiện bảo đảm hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

Tóm tắt dự thảo

Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật gồm 05 chương, 46 điều, cụ thể như sau: 1. Chương I - Những qui định chung (từ Điều 1 đến Điều 9) Nội dung của Chương này quy định về mục đích ban hành Luật; phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; chính sách của nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật; các nguyên tắc phổ biến, giáo dục pháp luật; các hành vi bị cấm; quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật; trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật (Chính phủ, Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân các cấp); Ngày Hiến pháp Việt Nam. Trong Chương này, vấn đề xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được quan tâm và trở thành một chính sách của Nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm huy động mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia công tác này. Việc xác định ngày 09 tháng 11 hàng năm là Ngày Hiến pháp Việt Nam dựa trên căn cứ là ngày Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta để tôn vinh pháp luật, xây dựng tinh thần thượng tôn pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật. 2. Chương II - Phổ biến pháp luật (từ Điều 10 đến Điều 32) Chương này có 03 mục là: Cơ quan, tổ chức, cá nhân phổ biến pháp luật; nội dung, hình thức phổ biến pháp luật và nội dung, hình thức phổ biến pháp luật đặc thù cho một số đối tượng. 2.1. Mục 1 quy định các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm phổ biến pháp luật gồm: các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp; tổ chức chính trị - xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; các cơ quan, tổ chức khác. Dự thảo Luật còn quy định các cơ quan, tổ chức, cá nhân giúp việc các cơ quan, tổ chức này. Nhằm luật hóa quy định trong Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, Dự thảo Luật giao cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan tư pháp cùng cấp và các cơ quan, tổ chức liên quan phổ biến nội dung văn bản đó cho cán bộ, nhân dân Mục 1 còn xác định cụ thể trách nhiệm của một số cơ quan, tổ chức có trách nhiệm phổ biến pháp luật là: Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Hội đồng nhân dân các cấp; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; Hội đồng nhân dân các cấp; trách nhiệm của một số cá nhân phổ biến pháp luật như: Báo cáo viên pháp luật, những người có trách nhiệm phổ biến pháp luật thông qua hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp và công chức Tư pháp – Hộ tịch xã, phường, thị trấn. Bên cạnh đó, để phân biệt chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và Tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và doanh nghiệp Nhà nước so với các cơ quan, tổ chức khác, Dự thảo Luật quy định cụ thể trách nhiệm riêng có của các cơ quan, tổ chức này. 2.2. Mục 2 quy định nội dung, hình thức phổ biến pháp luật và xác định cụ thể các bước, công việc trong quá trình phổ biến văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo đã luật hóa quy định về họp báo, thông cáo báo chí, đăng tải văn bản quy phạm pháp luật, theo đó, Văn phòng Chủ tịch nước chủ trì, phối hợp với cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật tổ chức họp báo hoặc ra thông cáo báo chí văn bản quy phạm pháp luật do Chủ tịch Nước công bố trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày Chủ tịch nước ký lệnh công bố. Văn phòng Chính phủ chịu trách nhiệm đăng tải toàn văn văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm đăng tải toàn văn văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan ban hành trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan hoặc đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng. Thời hạn đăng tải văn bản quy phạm pháp luật trên Cổng thông tin điện tử là thực hiện theo quy định tại Điều 84 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó, dự thảo quy định về phổ biến pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng; xây dựng chương trình, kế hoạch phổ biến pháp luật; phổ biến văn bản quy phạm pháp luật mới cho lãnh đạo Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể, báo cáo viên pháp luật trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. 2.3. Mục 3 quy định về nội dung, hình thức phổ biến pháp luật đặc thù cho một số đối tượng là: cán bộ, công chức, viên chức; cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang nhân dân; nông dân; người lao động trong các doanh nghiệp; đồng bào dân tộc thiểu số; thanh niên, thiếu niên, trong đó xác định nội dung pháp luật cần phổ biến; chính sách về phổ biến pháp luật cho các đối tượng này và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan. 3. Chương III – Giáo dục pháp luật (từ Điều 33 đến Điều 41) Chương này gồm 02 mục, cụ thể là: 3.1. Mục 1 – Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giáo dục pháp luật Mục này quy định cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giáo dục pháp luật là nhà trường, cơ sở giáo dục khác của hệ thống giáo dục quốc dân, của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân (gọi chung là nhà trường) theo quy định của luật giáo dục. Dự thảo còn quy định cụ thể trách nhiệm của nhà trường về giáo dục pháp luật; tiêu chuẩn giáo viên dạy môn giáo dục công dân, giảng viên dạy môn pháp luật. Về quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục pháp luật, Dự thảo Luật quy định trách nhiệm của ngành Giáo dục và Đào tạo (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo). 3.2. Mục 2 – Nội dung, hình thức giáo dục pháp luật Mục này quy định yêu cầu về nội dung và phương pháp giáo dục pháp luật, theo đó nội dung chương trình giáo dục pháp luật phải bảo đảm tính thống nhất, phổ thông, cơ bản, thiết thực, có hệ thống; phù hợp với nhận thức của người học, mục tiêu, ngành nghề đào tạo. Phương pháp giáo dục pháp luật phải bảo đảm phù hợp với từng cấp học và trình độ đào tạo; rèn luyện kỹ năng vận dụng pháp luật vào cuộc sống. Chương trình giáo dục được quy định gắn với từng cấp học và trình độ đào tạo. Hình thức giáo dục pháp luật gồm: Giảng dạy và học các môn Giáo dục công dân trong chương trình giáo dục phổ thông, môn pháp luật trong chương trình giáo dục nghề nghiệp; tích hợp, lồng ghép các nội dung pháp luật trong các môn học liên quan và đưa nội dung giáo dục pháp luật vào các chương trình giáo dục ngoại khóa, giáo dục ngoài giờ lên lớp. 3.3. Mục 3 quy định về giáo dục pháp luật cho một số đối tượng đặc thù là học sinh trường giáo dưỡng và phạm nhân, trong đó xác định nội dung pháp luật cần giáo dục; trách nhiệm của các cơ quan trong công tác này. 4. Chương IV - Các điều kiện bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (từ Điều 42 đến Điều 44) Chương này quy định về tổ chức, biên chế, kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật với vai trò là cơ chế phối hợp, bảo đảm cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật được hiệu quả. 4.1. Về tổ chức, biên chế Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, dự thảo Luật đề xuất tổ chức chuyên trách công tác phổ biến, giáo dục pháp luật bao gồm: (1) Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật trực thuộc Bộ Tư pháp; Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật trực thuộc tổ chức pháp chế các Bộ, ngành, đoàn thể ở trung ương; bộ phận làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong các doanh nghiệp nhà nước; (2) Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật trực thuộc Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; bộ phận làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trực thuộc tổ chức pháp chế của cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. 4.2. Về kinh phí Dự thảo Luật khẳng định kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật do ngân sách nhà nước bảo đảm và các nguồn huy động hợp pháp khác. Quốc hội thông qua mục lục ngân sách riêng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật được bố trí trong dự toán ngân sách của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan Trung ương của các đoàn thể, Ủy ban nhân dân các cấp theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Ngoài nguồn kinh phí này, ngân sách nhà nước bố trí một khoản kinh phí để hỗ trợ cho việc phổ biến các luật, pháp lệnh mới được ban hành và cấp cho cơ quan chủ trì soạn thảo dự án luật, pháp lệnh đó. Bên cạnh đó, Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước tài trợ, hỗ trợ kinh phí cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định của pháp luật. 4.3. Về Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Để tăng cường sự phối hợp chỉ đạo giữa các cơ quan, tổ chức trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Dự thảo Luật quy định về Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Theo đó, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (sau đây gọi chung là Hội đồng phối hợp) là tổ chức phối hợp chỉ đạo giữa các cơ quan, ban, ngành, tổ chức ở trung ương và địa phương về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; duy trì hoạt động phối hợp giữa các cơ quan nhà nước với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp, hỗ trợ các cơ quan, tổ chức đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Về hệ thống tổ chức, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật bao gồm: Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ; Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật các Bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương; Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Hội đồng phối hợp có trách nhiệm tổ chức, điều hòa, phối hợp các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Hội đồng phối hợp của Chính phủ do một Phó Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch. Bộ Tư pháp là cơ quan thường trực của Hội đồng. Hội đồng phối hợp các Bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương do Lãnh đạo cơ quan làm Chủ tịch Hội đồng. Tổ chức pháp chế là đơn vị thường trực Hội đồng. Hội đồng phối hợp cấp tỉnh, cấp huyện do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân làm Chủ tịch Hội đồng. Cơ quan tư pháp địa phương là cơ quan thường trực của Hội đồng cùng cấp. Bên cạnh đó, Dự thảo Luật còn quy định mối quan hệ giữa Hội đồng phối hợp cấp trên với Hội đồng phối hợp cấp dưới 5. Chương V – Điều khoản thi hành (gồm Điều 45 và Điều 46) quy định về hiệu lực thi hành và giao Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.

Kết quả biểu quyết của đại biểu quốc hội tại hội trường
THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com