Chủ nhật, ngày 23/11/2014login
  • TỜ TRÌNH
    Về Dự án Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá

     

    Kính gửi: Chính phủ

    Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII ban hành kèm theo Nghị quyết số 11/2007/QH12 ngày 21/11/2007, Chính phủ đã giao cho Bộ Y tế chủ trì soạn thảo Dự án Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (Luật PCTHTL). Bộ Y tế đã phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Công thương và các Bộ, ngành có liên quan xây dựng và hoàn thiện Dự án Luật.   
    Bộ Y tế xin trình Chính phủ xem xét, quyết định việc trình Quốc hội về Dự án Luật này như sau:
    I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI BAN HÀNH LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ
    1. Thực trạng sử dụng thuốc lá tại Việt Nam
    Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ sử dụng thuốc lá cao hàng đầu thế giới mặc dù Nhà nước ta đã và đang có nhiều nỗ lực trong phòng, chống tác hại thuốc lá.
    Đối với người hút thuốc lá: Tỷ lệ hiện đang hút thuốc lá, thuốc lào ở người trưởng thành (15 tuổi trở lên) là 23,8% (khoảng 15 triệu người), trong đó, tỷ lệ này ở nam giới là 47,4% và ở nữ giới là 1,4%. Tỷ lệ sử dụng thuốc lá điếu là 19,9% (khoảng 12,8 triệu người), trong đó, tỷ lệ này ở nam là 39,7% và ở nữ giới là 1,2%. Tỷ lệ hút thuốc lào là 6,4% (khoảng 4,1 triệu người), trong đó, tỷ lệ này ở nam giới là 13,0% và nữ là 0,1%.
    Đối với người hút thuốc lá thụ động: Tỷ lệ bị phơi nhiễm với khói thuốc lá tại nhà là 67,6% và tại nơi làm việc là 49,0%. Điều tra toàn cầu về sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành tại Việt Nam (GATS) - 2010. Tỷ lệ sử dụng thuốc lá cao tồn tại ở những người làm nghề liên quan đến xây dựng, giao thông, phía Nam hút thuốc nhiều hơn phía Bắc, những người nghèo có xu hướng bắt đầu hút thuốc sớm hơn người có thu nhập cao và tỷ lệ bỏ thuốc tăng dần theo nhóm chi tiêu, có nghĩa là người có thu nhập cao bỏ thuốc lá nhiều hơn nhóm có thu nhập thấp.
    2. Thực trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh thuốc lá tại Việt Nam
    Tính đến nay cả nước có 7 đầu mối sản xuất thuốc lá điếu trực thuộc các ngành và địa phương quản lý, trong đó Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam có 11 đơn vị thành viên sản xuất thuốc lá điếu. Tổng diện tích trồng thuốc lá trên cả nước gần 40.000 ha, có khoảng 200.000 nghìn lao động nông nghiệp trong ngành thuốc lá. Tổng sản lượng của ngành thuốc lá năm 2010 là trên 4 tỷ bao, với giá cả thuộc loại thấp nhất trên thế giới trong khi một số quốc gia khác có mức giá khá cao: Trung Quốc 1,52 USD/bao, Malaysia 1,32 USD/bao, đặc biệt ở Anh là 6,93 USD/bao. Giá trung bình của một bao thuốc đã có thuế của công ty cho người bán lẻ chỉ đạt 5.500 đồng/bao (tương đương 0,29 USD/bao) Điều tra toàn cầu về sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành tại Việt Nam (GATS) - 2010. , cá biệt có những loại thuốc giá chỉ hơn 2.000 đồng/bao và điều này đã giúp các thanh thiếu niên và người nghèo dễ dàng tiếp cận với việc hút thuốc lá hơn.
     Việc thực hiện các quy định pháp luật về sản xuất, kinh doanh thuốc lá hiện nay cho thấy vẫn còn nhiều vi phạm, đặc biệt là việc kinh doanh thuốc lá lậu vẫn chưa được kiểm soát. Theo kết quả điều tra tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh năm 2004, trong số 615 cửa hàng bán thuốc lá có sự hiện diện của 150 loại nhãn mác thuốc lá thì có tới 45 loại lưu hành trái phép (không tem, cấm nhập). Số thuốc lá có khuyến mãi trong bao thuốc chiếm 35%; có 16% thuốc lá không ghi hàm lượng Tar và Nicotine; có 7% không in lời cảnh báo trên vỏ bao thuốc; diện tích in lời cảnh báo chiếm dưới 10% diện tích vỏ bao thuốc là gần 75%, vị trí in lời cảnh báo bên cạnh vỏ bao thuốc là 97% Bộ Y tế - Kết quả điều tra tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh năm 2004..
    Bên cạnh đó, theo một kết quả điều tra của Trường Đại học Y tế công cộng, trong 1.433 điểm bán thuốc lá trên 10 tỉnh, thành phố năm 2010, có 32,6% điểm bán vi phạm về quảng cáo, khuyến mại thuốc lá, tăng 3,7% so với năm 2009  Kết quả điều tra về thực trạng kinh doanh thuốc lá, Trường Đại học Y tế công cộng, năm 2010..
    3. Tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người
    Hút thuốc lá là nguyên nhân của 25 căn bệnh trong đó có nhiều căn bệnh nguy hiểm như: ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, nhồi máu cơ tim, xơ vữa động mạch và các bệnh khác (ung thư vòm họng, ung thư da, chuyển màu da, loãng xương, ung thư thanh quản, phế quản, đục nhãn mắt, loét dạ dày, liệt dương, giảm khả năng sinh sản) do khói thuốc lá có chứa hơn 7.000 chất hóa học trong đó có khoảng 70 chất là tác nhân gây ung thư, điển hình là các chất như nicotine, nhựa thuốc lá (tar), benzen, carbon monoxide... Những người nghiện thuốc lá có nguy cơ tử vong cao gấp 2,5 - 10 lần so với người không hút thuốc lá Tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe, GS.TS. Nguyễn Bá Đức - Nguyên Giám đốc BV K, Phó Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam..  
    Hút thuốc lá thụ động cũng là một nguy cơ lớn ảnh hưởng tới sức khỏe. Khói tỏa ra từ đầu điếu thuốc đang cháy độc hại hơn khói thuốc do người hút thở ra vì có chứa nhiều chất độc hại hơn gấp 26% do cháy ở nhiệt độ cao và không qua bộ phận lọc. Người thường xuyên hít phải khói thuốc có nguy cơ bị ung thư phổi cao hơn 26 lần so với người không hít phải khói thuốc. Khói thuốc thụ động là một trong các tác nhân gây nhiều bệnh về tim mạch, phổi, làm suy giảm chức năng hô hấp và ảnh hưởng tới chức năng sinh sản ở cả nam và nữ. Khói thuốc thụ động làm tăng nguy cơ bệnh tim lên 25 - 30%, mắc bệnh phổi lên 25% và tăng nguy cơ đột quỵ 82% CDC Hoa Kỳ, năm 2006..  
    Tại Việt Nam, trong số 4 nguyên nhân gây tử vong cao thì thuốc lá đứng hàng thứ hai sau HIV và tiếp theo là rượu và tai nạn giao thông. Tổ chức Y tế Thế giới ước tính, mỗi năm Việt Nam có khoảng 40.000 người tử vong vì các bệnh có liên quan đến thuốc lá và đến năm 2030, con số này sẽ tăng lên tới 70.000 người (gấp gần 4 lần số ca tử vong vì tai nạn giao thông đường bộ tại nước ta mỗi năm), ước tính có khoảng 8 triệu người sẽ chết vì các bệnh liên quan đến thuốc lá trong đó gần 4 triệu người sẽ chết ở độ tuổi trung niên Tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe, GS.TS. Nguyễn Bá Đức - Nguyên Giám đốc BV K, Phó Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam..
    4. Tác hại của thuốc lá đối với kinh tế - xã hội
    Trên thế giới, thuốc lá gây thiệt hại 200 tỷ đô la mỗi năm cho nền kinh tế thế giới. Ước tính chi phí y tế điều trị các bệnh liên quan đến thuốc lá, giảm năng xuất lao động và các chi phí xã hội khác chiếm 1-3% GDP.
    Gánh nặng chi phí y tế để điều trị các bệnh liên quan đến thuốc lá đang là một thách thức đối với nhiều quốc gia. Theo số liệu của các nước phát triển, chi phí điều trị các bệnh liên quan đến thuốc lá chiếm 6 - 15% tổng chi phí y tế. Tại Việt Nam, số tiền điều trị năm 2010 cho 3 bệnh liên quan đến hút thuốc lá là ung thư phổi, bệnh mạch vành và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính vào khoảng 2.034 tỷ đồng. Vinacosh, “Chi phí khám chữa bệnh cho những bệnh liên quan đến hút thuốc lá”, 2010.
    Chi tiêu cho thuốc lá làm giảm các chi tiêu thiết yếu khác của hộ gia đình đặc biệt là các hộ có thu nhập thấp. Một người hút thuốc trong một năm tiêu hết số tiền bằng 1/3 số tiền dành cho lương thực, gấp 1,5 lần so với chi cho giáo dục, gấp 5 lần chi phí y tế tính theo bình quân đầu người. Điều tra mức sống dân cư 1997-1998. Như vậy, hút thuốc lá là một trong những nguyên nhân gây nghèo đói.
    Bên cạnh đó, thuốc lá còn gây ra những ảnh hưởng có hại khác đến vệ sinh môi trường, làm gia tăng hoạt động buôn lậu, gây ra nguy cơ cháy nổ.
    5. Thực trạng pháp luật về phòng, chống tác hại thuốc lá  
    Các văn bản pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá được ban hành rải rác từ những năm 1990-2001 đến nay nên không theo kịp các yêu cầu mới nảy sinh. Nội dung phòng chống tác hại của thuốc lá nằm rải rác trong các văn bản do nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh trong từng phạm vi hẹp nên chưa mang tính hệ thống, chưa toàn diện; các quy định về xử phạt chưa mạnh nên không có hiệu quả; các văn bản quy định về sản xuất, kinh doanh thuốc lá chưa chú trọng đến các quy định về phòng, chống tác hại của thuốc lá, đặc biệt các giá và thuế còn ở mức thấp. Do đó, hệ thống văn bản pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá chưa đồng bộ, còn nhiều khoảng trống, hiệu lực pháp lý thấp, một số văn bản đã bộc lộ những mâu thuẫn, chồng chéo. Ví dụ, quy định về in cảnh báo sức khỏe trên vỏ bao thuốc lá cũng thể hiện sự không thống nhất, chồng chéo giữa các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Y tế (Quyết định số 02/2007/QĐ-BYT ngày 15/01/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế về in cảnh báo sức khỏe trên vỏ bao thuốc lá, Chỉ thị số 12/2007/CT-TTg ngày 10/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường phòng, chống tác hại của thuốc lá, Nghị định số 119/2007/NĐ-CP ngày 18/10/2007 của Chính phủ về sản xuất, kinh doanh thuốc lá) Hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tác hại thuốc lá năm 2008..   
    Ngày 11/11/2004, Việt Nam đã tham gia Công ước khung về kiểm soát thuốc lá. Hiện nay, Công ước đã có hiệu lực áp dụng tại Việt Nam từ ngày 17/3/2005. Do vậy, cần thiết phải nội luật hóa Công ước này thành luật để có cơ sở pháp lý đủ mạnh cho việc tổ chức có hiệu quả công tác phòng, chống tác hại thuốc lá ở nước ta.
     II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ
    1.    Thực hiện kiểm soát toàn diện hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc lá để giảm cầu và giảm cung đối với thuốc lá.
    2. Bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, kế thừa và phát triển các quy định pháp luật hiện hành.
    3. Đáp ứng được những yêu cầu của Công ước khung về kiểm soát thuốc lá.
    4. Tham khảo kinh nghiệm quốc tế vận dụng phù hợp vào điều kiện Việt Nam, bảo đảm yếu tố hội nhập.
    5. Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ, có tính khả thi trong thực tế và bảo đảm yêu cầu lồng ghép giới trong xây dựng luật.  
    III. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ
    Thực hiện sự phân công của Chính phủ, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 3570/QĐ-BYT ngày 21/9/2007 thành lập Ban Soạn thảo, Tổ Biên tập Dự án Luật PCTHTL với sự tham gia của đại diện Văn phòng Chính phủ, Bộ Công thương, Bộ Tư pháp, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các bộ ngành khác có liên quan. Để xây dựng Dự án Luật PCTHTL, Ban Soạn thảo đã tiến hành các hoạt động sau:
    1. Đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành trong nước về PCTHTL và thu thập, tham khảo pháp luật về PCTHTL của một số nước, tổ chức quốc tế trên thế giới.
    2. Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác PCTHTL, tổng kết việc thi hành pháp luật về PCTHTL.
    3. Tổ chức đánh giá tác động và xây dựng báo cáo đánh giá tác động kinh tế - xã hội của Dự thảo Luật PCTHTL.
    4. Tổ chức xin ý kiến tham gia xây dựng Dự thảo Luật PCTHTL của các đối tượng chịu sự tác động của Luật theo đúng quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật như Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các cơ sở y tế; các Bộ, ngành; các chuyên gia y tế, chuyên gia pháp luật trong nước và quốc tế và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thuốc lá trong toàn quốc. Việc lấy ý kiến được thực hiện thông qua các hình thức thảo luận nhóm, hội thảo, xin ý kiến bằng văn bản, đăng toàn văn dự án Luật trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ, của Bộ Y tế để lấy ý kiến nhân dân.
    5. Xây dựng và hoàn chỉnh Dự thảo Luật PCTHTL trên cơ sở tổng hợp, tiếp thu ý kiến của các đối tượng trên, ý kiến chính thức bằng văn bản của các Bộ, ngành và ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp.
    IV. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ ÁN LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ
    Dự án Luật có 5 chương và 31 điều, bao gồm các nội dung chính như sau:
    1. Chương I. Những quy định chung gồm có 7 điều quy định về phạm vi điều chỉnh (Điều 1); giải thích từ ngữ (Điều 2); nguyên tắc phòng, chống tác hại của thuốc lá (Điều 3); chính sách của Nhà nước về phòng, chống tác hại của thuốc lá (Điều 4), trách nhiệm quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của thuốc lá (Điều 5); hợp tác quốc tế trong phòng, chống tác hại của thuốc lá (Điều 6) và các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 7).
    2. Chương II. Các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá gồm có 10 điều quy định về thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá (Điều 8); địa điểm công cộng cấm hút thuốc lá hoàn toàn (Điều 9); địa điểm công cộng cấm hút thuốc lá nhưng được phép có khu vực dành riêng cho người hút thuốc lá (Điều 10); nghĩa vụ của người hút thuốc lá (Điều 11); trách nhiệm của người đứng đầu các địa điểm cộng cộng có quy định cấm hút thuốc lá (Điều 12); ghi nhãn thuốc lá (Điều 13); hoạt động tài trợ (Điều 14); thuế để giảm cầu thuốc lá và giá bán tối thiểu thuốc lá (Điều 15); hỗ trợ cai nghiện thuốc lá (Điều 16); trách nhiệm trong hỗ trợ cai nghiện thuốc lá (Điều 17).
    3. Chương III. Các biện pháp giảm nguồn cung cấp thuốc lá gồm có 9 Điều quy định về kinh doanh thuốc lá (Điều 18); đầu tư sản xuất thuốc lá (Điều 19); các điều kiện kinh doanh thuốc lá (Điều 20); kiểm soát sản lượng thuốc lá tiêu thụ trong nước (Điều 21); quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng, an toàn đối với thuốc lá (Điều 22); số lượng điếu thuốc lá trong bao, gói (Điều 23); bán thuốc lá (Điều 24); các biện pháp phòng, chống thuốc lá lậu, thuốc lá giả, thuốc lá không bảo đảm chất lượng (Điều 25); trách nhiệm phòng, chống thuốc lá lậu, thuốc lá giả, thuốc lá không bảo đảm chất lượng (Điều 26).
    4. Chương IV. Các điều kiện bảo đảm để phòng, chống tác hại của thuốc lá gồm có 3 Điều quy định về trích nộp kinh phí từ doanh nghiệp kinh doanh thuốc lá cho phòng, chống tác hại của thuốc lá và nâng cao sức khoẻ cộng đồng (Điều 27); quỹ phòng, chống tác hại của thuốc lá và nâng cao sức khỏe cộng đồng (Điều 28); xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá (Điều 29).
    5. Chương V. Điều khoản thi hành bao gồm 2 điều quy định về hiệu lực thi hành (Điều 30); quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành (Điều 31).
    V. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN XIN Ý KIẾN CHÍNH PHỦ  
    1. In cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá
    Đa số các ý kiến tham gia đều nhất trí với quy định tại Điểm b khoản 1 Điều 13 của Dự án Luật là "In cảnh báo sức khỏe bằng chữ và hình ảnh bảo đảm rõ ràng, dễ nhìn, được thay đổi định kỳ, theo lộ trình sau:
    - Từ 01/01/2013, cảnh báo sức khỏe phải chiếm ít nhất 40% diện tích của mỗi mặt chính trước và sau trên tất cả các bao bì thuốc lá;
    - Từ 01/01/2016, cảnh báo sức khỏe phải chiếm ít nhất 50% diện tích của mỗi mặt chính trước và sau trên tất cả các bao bì thuốc lá".
    Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị chỉ nên quy định in cảnh báo sức khỏe bằng chữ và hình ảnh hoặc bằng chữ, chiếm ít nhất 30% diện tích mặt chính trước, sau trên vỏ bao thuốc lá và sau đó có lộ trình tăng dần vì Công ước khung FCTC không quy định bắt buộc phải in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh và cũng không quy định bắt buộc diện tích in cảnh báo phải trên 30% diện tích trưng bày chính của vỏ bao thuốc lá Điều 11 về đóng gói và gắn nhãn mác của các sản phẩm thuốc lá của Công ước FCTC quy định “Mỗi nước sẽ thông qua các quy định về in luân phiên các cảnh báo sức khoẻ trên trên bao bì các sản phẩm thuốc lá. Cảnh báo sức khoẻ nên chiếm 50% diện tích trưng bày chính nhưng không được nhở hơn 30% diện tích trưng bày chính của vỏ bao thuốc. Cảnh báo sức khoẻ bằng hình ảnh và/hoặc chữ.”.. Đồng thời, cần phải tính đến lợi ích kinh tế của Nhà nước, của các doanh nghiệp thuốc lá và của người lao động làm việc trong ngành thuốc lá vì nếu quy định chặt chẽ quá sẽ làm ảnh hưởng đến doanh thu của 40 doanh nghiệp thuốc lá, đời sống của 22 vạn lao động trực tiếp và gián tiếp trong ngành thuốc lá; ảnh hưởng đến nộp ngân sách nhà nước (năm 2009 nộp ngân sách 10.217 tỷ đồng) Ý kiến tổng quan của Hiệp hội thuốc lá Việt Nam đóng góp xây dựng Luật PCTHTL năm 2010.. Thêm vào đó, tình hình nhập lậu thuốc lá chưa được kiểm soát bình quân mỗi năm khoảng 770 triệu bao, chiếm khoảng 20,8% thị phần tiêu thụ cả nước, làm chảy máu ngoại tệ hơn 200 triệu USD/năm, thất thu thuế của Nhà nước hơn 3.830 tỷ đồng Hiệp hội thuốc lá Việt Nam, 4/ 2010..
    Về vấn đề này, Ban Soạn thảo có ý kiến như sau:
    Thứ nhất, mục đích của việc in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá là nhằm tăng cường mức độ nhận thức về tác hại của thuốc lá với sức khỏe không kể nhóm tuổi, giới tính, nơi sinh sống để mọi người dân hiểu rằng sử dụng thuốc lá gây ra thương tật và tử vong và thay đổi thái độ với hành vi hút thuốc, tăng các nỗ lực bỏ thuốc.
    Thứ hai, hiểu biết của người dân về tác hại của hút thuốc đối với sức khỏe chưa đầy đủ, đặc biệt tại các nước nghèo và đang phát triển như nước ta, do việc tiếp cận với thông tin về mối nguy cơ này còn hạn chế nên việc in cảnh báo sức khỏe trên vỏ bao thuốc có thể truyền tải thông điệp về tác hại của thuốc lá một cách liên tục đến với từng người hút thuốc.
    Thứ ba, thực tiễn tại Việt Nam cho thấy quy định in cảnh báo sức khỏe bằng chữ và hình ảnh được coi là một biện pháp phòng, chống tác hại của thuốc lá rất hiệu quả vì:
    - Gây ấn tượng mạnh, giúp người dân hình dung rõ nhất về tác hại của thuốc lá, đặc biệt là những hậu quả đối với sức khỏe, tính gây nghiện và nguy cơ chết người từ việc sử dụng các sản phẩm thuốc lá.
    - Đến ngay được với mọi đối tượng, kể cả những người văn hóa thấp hoặc không biết chữ cũng được tiếp cận thông tin đầy đủ về các nguy cơ sức khỏe của sản phẩm tiêu dùng giúp cho việc cai thuốc hoặc hút bớt đi, ngăn ngừa người không hút thuốc, đặc biệt là thanh thiếu niên sẽ không bắt đầu hút thuốc do nhận biết được việc hút thuốc không làm họ hấp dẫn hơn mà chỉ làm cho họ có thêm bệnh tật và chết sớm.
    - Là biện pháp truyền thông hiệu quả rất lớn và tiết kiệm chi phí cho Nhà nước vì chi phí cho việc in ấn cũng chỉ chiếm một phần rất nhỏ, không hề tốn kém và do người tiêu dùng chi trả thông qua giá thuốc lá và các doanh nghiệp đủ điều kiện kỹ thuật để thực hiện.
    Thứ tư, đến nay (tháng 10/2010), trên thế giới, có 39 quốc gia đã quy định bắt buộc phải in cảnh báo tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe trên vỏ bao thuốc lá (các nước Đông Nam Á và gần Việt Nam có Singapore, Thailand, Malaysia, Philippines, Hong Kong, Taiwan). Có quốc gia còn quy định diện tích cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên bao bì thuốc là rất cao như Uruguay (80% cả hai mặt trước và sau), Mauritius (60% mặt trước và 70% mặt sau), Australia, New Zealand (30% mặt trước và 90% mặt sau), Philippines (60% cả hai mặt trước và sau), Thái Lan (50% cả hai mặt trước và sau) Cigarette Package Health Warnings - Internatinonal Status Report, Canadian Cancer Society, October 2010..
    Thứ năm, quy định in cảnh báo sức khỏe hiện hành của Việt Nam còn yếu so với quy định của Công ước khung FCTC, cụ thể: số lượng mẫu cảnh báo ít; thông điệp yếu; diện tích in cảnh báo nhỏ; chưa quy định in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh. Qua khảo sát cho thấy, việc in cảnh báo sức khỏe bằng chữ, chiếm 30% diện tích mặt trước và sau như hiện nay chưa mang lại hiệu quả.
    Từ các lý do trên, Ban Soạn thảo đề nghị giữ nguyên như Dự án Luật.
    2. Về Quỹ phòng, chống tác hại của thuốc lá
    Đa số các ý kiến đều nhất trí với quy định tại Điều 28 của dự thảo Luật: Thành lập Quỹ Phòng, chống tác hại của thuốc lá Quỹ phòng, chống tác hại của thuốc lá và nâng cao sức khỏe cộng đồng là quỹ quốc gia, Bộ Y tế là cơ quan thường trực, do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Quỹ được thành lập để làm đầu mối huy động, tạo lập và cung cấp nguồn lực tài chính cho các hoạt động phòng, chống tác hại của thuốc lá và nâng cao sức khỏe cộng đồng, không vì mục đích lợi nhuận. Nguồn tài chính của Quỹ được hình thành từ ngân sách nhà nước cấp một lần khi thành lập, khoản trích nộp của doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu thuốc lá và các khoản hỗ trợ, tài trợ của các tổ chức, cá nhân.
    Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị Quỹ phòng, chống tác hại của thuốc lá nên là quỹ xã hội, được huy động từ nguồn đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân.
    Về vấn đề này, Ban soạn thảo có ý kiến như sau:
    Thứ nhất, thực trạng đầu tư cho công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá ở Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập. Mặc dù Việt Nam là một trong những nước sớm triển khai các hoạt động phòng, chống tác hại thuốc lá và Chính phủ đã thành lập Chương trình phòng, chống tác hại thuốc lá, do Bộ Y tế là thường trực, giúp công tác phòng, chống tác hại thuốc lá được thuận lợi hơn song vẫn bị hạn chế do thiếu kinh phí hoạt động. Nguồn kinh phí hoạt động PCTHTL hàng năm của Chương trình PCTHTL chủ yếu dựa vào nguồn tài trợ. Tổng số kinh phí hàng năm không vượt quá 500,000 đô la Mỹ, số kinh phí này còn rất nhỏ so với nhu cầu và quy mô tổ chức các hoạt động PCTHTL. Nguồn VINACOSH, 2009 Do không chủ động được nguồn tài chính, thiếu tính bền vững, lệ thuộc và bị động nên không tổ chức được các hoạt động PCTHTL một cách thường xuyên.
    Thứ hai, nếu có một nguồn Quỹ ổn định, dành riêng cho hoạt động phòng chống tác hại của thuốc lá sẽ mang lại các lợi ích sau:
    - Có nguồn đầu tư cho công tác dự phòng: Theo Tổ chức Y tế thế giới thì các biện pháp kiểm soát thuốc lá đều có chi phí thấp và có hiệu quả rất cao khi được lồng ghép vào chăm sóc sức khỏe ban đầu. Ước tính, chỉ cần chi từ 20 đến 80 đô la/năm cho các biện pháp dự phòng về kiểm soát thuốc lá khác: như là môi trường không khói thuốc, cấm quảng cáo ...) là đã tránh được khỏi phải chi phí cho điều trị cho 1 bệnh nhân ung thư kéo dài thêm 1 năm sống là khoảng 10.000 USD. WHO, WHO report on the global tobacco epidemic, 2008: The MPOWER package. 2008, World Health Organization: Geneva.
    - Có đủ kinh phí để đầu tư cho các chương trình nâng cao sức khoẻ: tổ chức tư vấn, cai nghiện thuốc lá; tài trợ cho các nghiên cứu về PCTHTL, nâng cao sức khoẻ; có thể dành một phần hỗ trợ cho một số trường hợp cần điều trị các bệnh do thuốc lá gây ra hoặc cho bảo hiểm y tế (ví dụ mô hình Hàn Quốc); tổ chức các chiến dịch truyền thông, vận động, duy trì các kênh truyền thông như truyền hình, phát thanh, báo chí, sản xuất và phân phát tài liệu truyền thông…, đào tạo và nâng cao mạng lưới tham gia PCTHTL.
    - Nguồn kinh phí riêng sẽ chủ động và độc lập trong quản lý, sử dụng, tài trợ mà ít bị phụ thuộc hoặc tác động của các yếu tố khác (vấn đề sức khoẻ ưu tiên sẽ cạnh tranh nhau, yếu tố chính trị...).
    Thứ ba, các quỹ do Nhà nước thành lập hiện nay hầu hết đều có nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước. Trong khi đó, Quỹ Phòng, chống tác hại của thuốc lá có nguồn tài chính chủ yếu từ kinh phí trích thu trên giá bán thuốc lá. Đây là một nguồn thu ổn định và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuốc lá đều nhất trí với quy định này. Khảo sát của Vụ Pháp chế Bộ Y tế đối với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thuốc lá về quy định trích thu một phần kinh phí từ giá bán thuốc lá để chi cho công tác PCTHTL của dự thảo Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá.. Nguồn của Quỹ sẽ thu được nhiều nhất, bền vững, luỹ tiến với quy mô phát triển và lợi nhuận của ngành công nghiệp thuốc lá, không lệ thuộc vào ngân sách nhà nước cấp cho các chương trình y tế công cộng. Khi nào còn ngành công nghiệp thuốc lá thì còn cần đầu tư cho hoạt động PCTHTL.
    Thứ tư, về kinh nghiệm quốc tế, một số quốc gia trên thế giới đã thành lập Quỹ riêng về phòng, chống tác hại của thuốc lá và hoạt động rất hiệu quả như Thái Lan, Malaixia, Australia... Xem thêm chi tiết phần đánh giá tác động của việc thành lập Quỹ PCTHTL trong Báo cáo đánh giá tác động của Luật.
    Thứ năm, Quyết định số 1315/QĐ-TTg ngày 21/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Công ước khung về kiểm soát thuốc lá quy định: “Thành lập Quỹ Phòng chống tác hại của thuốc lá và nâng cao sức khỏe cộng đồng” và giao Bộ Tài chính “chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan xây dựng lộ trình tăng thuế phù hợp đối với các sản phẩm thuốc lá; nghiên cứu đề xuất thành lập Quỹ PCTHTL và nâng cao sức khỏe cộng đồng”.
    Từ các lý do trên, Ban Soạn thảo đề nghị giữ nguyên như Dự án Luật.
    3. Về phương thức trích nộp kinh phí từ doanh nghiệp kinh doanh thuốc lá cho phòng, chống tác hại của thuốc lá và nâng cao sức khoẻ cộng đồng
    Đa số các ý kiến, trong đó có ý kiến của Bộ Tài chính, Bộ Công thương và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thuốc lá đều nhất trí với quy định tại Điều 27 của dự thảo Luật là: “Các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu thuốc lá có nghĩa vụ trích nộp một khoản kinh phí cho phòng, chống tác hại của thuốc lá và nâng cao sức khỏe cộng đồng. Kinh phí trích nộp được tính bằng 2% giá xuất xưởng hoặc giá nhập khẩu đối với mỗi bao, hộp hoặc gói thuốc lá. Toàn bộ nguồn kinh phí trích nộp của doanh nghiệp kinh doanh thuốc lá được sử dụng đầu tư trực tiếp cho công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá và nâng cao sức khoẻ cộng đồng.”.
    Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng việc có nguồn kinh phí ổn định, bền vững để chi cho công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá và nâng cao sức khoẻ cộng đồng là hết sức cần thiết nhưng nên quy định theo hướng trích 2% từ thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá và tăng thuế tiêu thụ đặc biệt từ 65% hiện nay lên 67% hoặc quy định theo hướng thu phí phòng, chống tác hại thuốc lá và nâng cao sức khoẻ cộng đồng bằng 2% giá xuất xưởng hoặc giá nhập khẩu đối với mỗi bao, hộp hoặc gói thuốc lá.
    Về vấn đề này, Ban Soạn thảo có ý kiến như sau:
    Thứ nhất, nếu dự án Luật quy định heo hướng trích 2% từ thuế tiêu thụ đặc biệt và tăng thuế tiêu thụ đặc biệt từ 65% hiện nay lên 67% sẽ gây khó khăn trong tổ chức thực hiện việc trích thuế vì tất cả các nguồn thu thuế đều là thu ngân sách và việc chi ngân sách sẽ thực hiện theo Luật Ngân sách nhà nước. Mặt khác, nếu thực hiện được phải sửa đổi Luật thuế tiêu thụ đặc biệt.
    Thứ hai, nếu dự án Luật quy định theo hướng thu phí phòng, chống tác hại thuốc lá và nâng cao sức khoẻ bằng 2% giá xuất xưởng hoặc giá nhập khẩu đối với mỗi bao, hộp hoặc gói thuốc lá lại không phù hợp với nguyên tắc, tiêu chí, mục đích của Pháp lệnh phí, lệ phí.
    Để khắc phục các hạn chế nêu trên, Dự thảo Luật cần quy định một phương thức mới, linh hoạt hơn và phù hợp với các nguyên tắc lập pháp của Việt Nam đối với việc huy động, tạo lập nguồn kinh phí riêng cho phòng, chống tác hại của thuốc lá. Do đó, phương án quy định doanh nghiệp có nghĩa vụ trích nộp một khoản kinh phí từ giá bán thuốc lá theo tỷ lệ nhất định để chi cho phòng chống tác hại của thuốc lá và kinh phí này được tính vào giá thuốc lá do người sử dụng chi trả sẽ bảo đảm phù hợp với các quy định của pháp luật về thuế hiện hành của Việt Nam.
    Thứ ba, việc thu thêm một khoản kinh phí từ giá thuốc lá cho phòng, chống tác hại của thuốc lá cũng không ảnh hưởng đến kinh doanh của doanh nghiệp vì kinh phí được tính vào giá thuốc lá do người sử dụng chi trả. Khi giá thuốc lá tăng cũng là một biện pháp tốt để giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá. Trong lộ trình tăng thuế, Bộ Tài chính đang cân nhắc, nghiên cứu để để xuất một lộ trình tăng thuế phù hợp cho đến khi thuế đạt khoảng 80% giá bán lẻ thuốc lá, bảo đảm nguồn thu ngân sách, tính hiệu quả của chính sách thuế trong điều tiết giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá cũng như bảo đảm nguồn kinh phí trích từ thuế cho hoạt động phòng, chống tác hại của thuốc lá. Do vậy, quy định thu thêm một khoản kinh phí chi cho phòng, chống tác hại của là hoàn toàn phù hợp với lộ trình tăng thuế thuốc lá của Nhà nước ta.
    Từ các lý do trên, Ban Soạn thảo đề nghị giữ nguyên như Dự án Luật.
    Trên đây là những nội dung cơ bản của Dự án Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, Bộ Y tế kính trình Chính phủ xem xét và cho ý kiến chỉ đạo.

    Nơi nhận:
    - Như trên;
    - Các Phó Thủ tướng;
    - Văn phòng Quốc hội;
    - Văn phòng Chính phủ;
    - Bộ Tư pháp;
    - Lưu: VT, KCB, PC.    BỘ TRƯỞNG
    TRƯỞNG BAN SOẠN THẢO







    Nguyễn Quốc Triệu    

     

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com