Chủ nhật, ngày 24/02/2019login
  • Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện quy định pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tưGóp ý

    Cơ quan ban hành: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    Mô tả: Tài liệu kèm theo dự thảo Đề cương xây dựng Luật Đầu tư theo hình thức đối tác công tư  

  • I. Quy định pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư
    1. Quy định pháp luật điều chỉnh trực tiếp đầu tư theo hình thức đối tác công tư
    1.1. Giai đoạn 1997-2014
    Tại Việt Nam, đầu tư theo hình thức đối tác công tư dưới dạng các hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT – một trong các loại hợp đồng PPP đã xuất hiện và được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật từ năm 1997. Trong giai đoạn 1997-1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định 77/CP ngày 18/6/1997 về đầu tư theo hình thức Hợp đồng xây dựng – kinh doanh - chuyển giao (BOT) áp dụng cho nhà đầu tư trong nước, và Nghị định 62/1998/NĐ-CP ngày 15/8/1998 về đầu tư theo Hợp đồng xây dựng – kinh doanh chuyển giao (BOT), Hợp đồng xây dựng chuyển giao – kinh doanh (BTO) và Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT) áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài.
    Ngày 11/5/2007, Nghị định số 78/2007/NĐ-CP về đầu tư theo các hình thức hợp đồng BOT, BTO và BT đã được ban hành nhằm áp dụng thống nhất cho nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế.
    Tiếp đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 108/2009/NĐ-CP ngày 27/11/2009 thay thế Nghị định số 78/2007/NĐ-CP  nêu trên. Đồng thời, các Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính đã ban hành hướng dẫn cụ thể tại Thông tư số 03/2011/TT-BKHĐT và Thông tư 166/2011/TT-BTC. Các văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý cần thiết để khuyến khích các hình thức đầu tư trên cơ sở hợp đồng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm tiến hành đầu tư xây dựng, vận hành, cải tạo, mở rộng, hiện đại hóa và quản lý các công trình kết cấu hạ tầng như đường bộ, cầu, đường sắt, cảng hàng không, cảng biển, cảng sông; hệ thống cung cấp nước sạch; hệ thống thoát nước; hệ thống thu gom, xử nước thải, chất thải; nhà máy điện, đường dây tải điện...
    Có thể nói các quy định về đầu tư theo các hình thức hợp đồng BOT, BTO và BT là cơ sở pháp lý đầu tiên về hợp tác PPP trong phát triển cơ sở hạ tầng tại Việt Nam. Tuy nhiên, so với yêu cầu đặt ra, việc thu hút đầu tư dưới các hình thức này còn một số mặt hạn chế. Ngoài những yếu tố khách quan (như chi phí đầu tư lớn, độ rủi ro cao...), những bất cập trong cơ chế thực hiện cũng là nguyên nhân chủ yếu làm hạn chế đáng kể khả năng thu hút đầu tư trong lĩnh vực này.
    Do vậy, để hoàn thiện khung pháp lý về hợp tác nhà nước và khu vực tư nhân, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 71/2010/QĐ-TTG về quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công tư.
    Điểm quan trọng của khung chính sách PPP theo Quyết định 71 là xác định đầy đủ hơn các hình thức và cơ chế Nhà nước tham gia trong các dự án PPP nhằm tăng tính khả thi và hiệu quả kinh tế cho các dự án. Trên cơ sở đó khuyến khích nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư. Chính sách này nhằm mục tiêu huy động và định hướng khu vực tư nhân sử dụng nguồn vốn thương mại và các nguồn vốn khác do nhà đầu tư huy động cho các dự án PPP; qua đó nâng cao hiệu quả  đầu tư, kiểm soát nợ công trong hạn mức an toàn và mở rộng mô hình hợp tác PPP sang nhiều dự án và lĩnh vực của nền kinh tế.
    Ngoài các khung chính sách chung về PPP, để thúc đẩy các dự án đầu tư theo phương thức BOT, BTO và BT, đặc biệt là các dự án sử dụng vốn đầu tư cho các dự án kết cấu hạ tầng quan trọng, thiết yếu cần hoàn thành trong giai đoạn đến 2020 theo Quyết định 412/QĐ-TTg ngày 11/4/2007 của Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành, và địa phương đã có nhiều nỗ lực và giải pháp như đẩy mạnh công tác lập quy hoạch chi tiết, chủ động lập đề xuất dự án, xem xét các cơ chế đặc thù và tháo gỡ các khó khăn về thủ tục đầu tư; phát hành trái phiếu công trình, trái phiếu Chính phủ; hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước đối với đền bù giải phóng mặt bằng của một số dự án ở những vùng kinh tế và địa bàn khó khăn…; Quyết định 1290/QĐ-TTg ngày 26 tháng chín năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Danh mục quốc gia về các dự án kêu gọi đầu tư nước ngoài giai đoạn 2007-2010; Quyết định 2667/QĐ-BGTVT, ngày 30/8/2007, Bộ Giao thông vận tải phê duyệt danh sách các dự án BOT đang chờ vốn đầu tư trong ngành công nghiệp vận chuyển và hậu cần.
    Từ đó, có thể thấy, các văn bản điều chỉnh trong lĩnh vực đầu tư PPP  ra đời tương đối sớm, đã và đang là cơ sở pháp lý cho các hoạt động đầu tư của khu vực tư nhân vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng.
    Bên cạnh đó, nếu như trước đây cá loại hợp đồng PPP chỉ hạn chế ở các hình thức BOT, BT trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật dưới luật thì hiện nay thuật ngữ này được công nhận với tên thống nhất là đầu tư theo hình thức PPP, mang tính pháp lý ở các văn bản có giá trị pháp lý cao hơn, bao gồm:

    - Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13
    Để góp phần hoàn thiện thêm hành lang pháp luật về PPP, Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 đã bổ sung quy định về tổ chức lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án PPP vào phạm vi điều chỉnh của Luật nhằm lựa chọn được nhà đầu tư một  cách công bằng, minh bạch, cạnh tranh và hiệu quả kinh tế.
    - Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13
    Một trong những nội dung làm tăng tính khả thi, cũng như thể hiện sự cam kết của Chính phủ khi thực hiện dự án PPP là sự tham gia của Nhà nước trong các dự án này. Vì vậy, để có cơ chế thực hiện hiệu quả, Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 đã quy định một số nội dung liên quan đến dự án PPP. Theo đó, đầu tư của nhà nước vào các dự án PPP được coi là một trong lĩnh vực đầu tư công. Việc đầu tư theo hình thức PPP là một trong các nguyên tắc được khuyến khích thực hiện trong quản lý đầu tư công; điều kiện quyết định chủ trương đầu tư chương trình dự án là ưu tiên thực hiện dự án PPP.
    - Luật Xây dựng số 50/2014/QH13
    Việc quản lý của nhà nước về các hoạt động xây dựng nói chung và đối với các dự án PPP nói riêng đã có những bước tiến tích cực ở cấp luật nhằm góp phần hoàn thiện hơn khung pháp lý về PPP. Một số điều đã có quy định trên cách nhìn nhận mới của Nhà nước – thay vì quản lý đầu vào (theo hình thức đầu tư công truyền thống) và phải quản lý chất lượng xây dựng theo đầu ra. Tuy nhiên, hiện nay, những quy định về PPP trong Luật Xây dựng vẫn mang đậm tư duy quản lý chặt như đối với nhà thầu xây dựng.
    - Luật Đầu tư số 67/2014/QH13
    Luật Đầu tư đã quy định về đầu tư theo hình thức PPP, trong đó nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án ký kết hợp đồng PPP với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công.
    1.2. Giai đoạn 2015 đến nay
    Như phân tích tại Mục 1.1 nêu trên, đến thời điểm năm 2014, tồn tại hai hệ quy định pháp lý về PPP, bao gồm: Nghị định số 108/2009/NĐ-CP về các hình thức hợp  đồng BOT, BT, BTO và Quyết định số 71/2010/QĐ-TTG về quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công tư. Tuy nhiên, việc thực hiện hai văn bản này còn gặp nhiều vướng mắc, bao gồm:
    - Vướng mắc trong thực hiện Nghị định 108/2009/NĐ-CP:
    + Nghị định chưa quy định các công cụ cần thiết nhằm bảo đảm thực hiện có hiệu quả thủ tục xây dựng, công bố dự án và lựa chọn nhà đầu tư. 
    + Các quy định về lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, hợp đồng dự án và cơ chế tài chính, huy động vốn đầu tư thực hiện dự án còn thiếu rõ ràng và chưa thật sự phù hợp với thông lệ quốc tế.
    + Công tác quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT, BTO và BT chưa được quy định đầy đủ, đồng bộ và phù hợp với yêu cầu, điều kiện thực hiện các hình thức hợp đồng dự án khác nhau; quy trình, thủ tục phê duyệt dự án, cấp Giấy chứng nhận đầu tư, thành lập doanh nghiệp dự án còn phức tạp.
    - Vướng mắc trong thực hiện Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg:
    Bên cạnh những hạn chế nêu trên của Nghị định số 108/2009/NĐ-CP, việc thực hiện Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày 9/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công  tư cũng tồn tại những bất cập chủ yếu sau:
    + Quyết định 71/2010/QĐ-TTg chưa quy định cụ thể các mô hình hợp đồng dự án PPP, tiêu chí lựa chọn dự án, cơ chế lựa chọn nhà đầu tư, thủ tục triển khai dự án, quyền, nghĩa vụ và phân chia lợi ích, rủi ro giữa Cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, cũng như cơ chế quản lý, sử dụng nguồn vốn nhà nước để tham gia hoặc hỗ trợ thực hiện dự án.
    + Một số quy định của Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg không phù hợp với Nghị định số 108/2006/NĐ-CP, đặc biệt là các quy định liên quan đến thẩm quyền, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt dự án, xác định nguồn vốn tham gia của Nhà nước... Sự thiếu tương thích giữa văn bản này đã gây nghi ngại cho nhà đầu tư cũng như các nhà tài trợ về tính khả thi và tính thống nhất trong chính sách thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng tại Việt Nam.
    + Sự tồn tại đồng thời của Nghị định 108/2009/NĐ-CP và Quyết định 71/2010/QĐ-TTg để điều chỉnh các dự án BOT, BTO, BT và các dự án PPP đã dẫn đến cách hiểu không thống nhất, cho rằng đây là các hình thức đầu tư khác nhau.
    Với những lý do nêu trên, trong năm 2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2017 về PPP trên cơ sở hợp nhất, hoàn thiện Nghị định 108/2006/NĐ-CP và Quyết định 71/2010/QĐ-TTg và Nghị định số 30/2015/NĐ-CP ngày 17/3/2017 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư. Hai Nghị định nêu trên đã tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất về đầu tư theo hình thức đối tác công tư.
    Sau khi Nghị định số 15/2015/NĐ-CP và Nghị định số 30/2015/NĐ-CP được ban hành, thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao tại Nghị định, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các Bộ đã xây dựng 08 Thông tư hướng dẫn.  
    (Các văn bản hướng dẫn hình thức đầu tư theo hình thức đối tác công tư được trình bày trong Phụ lục 01)
    2. Quy định pháp luật hỗ trợ đầu tư theo hình thức đối tác công tư
    Để thực hiện dự án PPP một cách hiệu quả, đúng mục tiêu thì ngoài hành lang pháp lý trực tiếp quy định về dự án PPP thì cần hàng loạt các quy định liên quan như  pháp luật về đầu tư từ ngân sách nhà nước, pháp luật về đất đai... để hỗ trợ các dự án này, cụ thể:
    - Pháp luật về đất đai
    Một trong những nội dung mà các nhà đầu tư quan ngại khi thực hiện đầu tư dự án PPP là vấn đề đảm bảo về đất đai (chuẩn bị mặt bằng xây dựng). Vì vậy, trong Luật Đất đai số 45/2013/QH13 đã có quy định về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và trách nhiệm Nhà nước giao cho nhà đầu tư quản lý diện tích đất để thực hiện dự án PPP và các hình thức đầu tư khác theo quy định của pháp luật về đầu tư.
    - Pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công
    Hiện nay, Luật Quản lý và sử dụng tài sản công đã quy định về việc sử dụng tài sản công để để tham gia dự án PPP; sử dụng tài sản công để thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư theo loại hợp đồng BT.
    - Pháp luật về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
    Các văn bản điều chỉnh hoạt động này là Nghị định 17/2001/NĐ-CP ngày 4/5/2001 về Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức và Nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 9/11/2006 (thay thế Nghị định 17/2001/NĐ-CP); Nghị định số 38/2013/NĐ-CP ngày 23/4/2013 (thay thế Nghị định số 131/2006/NĐ-CP) và các văn bản hướng dẫn có liên quan hình thành được một khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh đáp ứng nhu cầu thu hút và sử dụng ODA phù hợp với tình hình thực tế về hiệu quả viện trợ; đảm bảo tính công khai, minh bạch trong việc cung cấp thông tin về ODA của cả phía Việt Nam và nhà tài trợ; thiết lập hệ thống quản lý ODA đồng bộ với hệ thống quản lý đầu tư và xây dựng (các cơ quan quản lý nhà nước về ODA, cơ quan chủ quản, chủ dự án, Ban quản lý dự án) và hài hoà quy trình thủ tục với nhà tài trợ; đa dạng hoá các phương thức viện trợ để thu hút tối đa nguồn vốn ODA; phân cấp mạnh đi đôi với việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm giải trình của các cấp trong quản lý và sử dụng ODA, đưa ra định hướng sử dụng vốn ODA như nguồn lực dẫn dắt đầu tư PPP. Nhờ đó, công tác vận động, thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA ngày càng đạt hiệu quả cao, mức cam kết ODA tăng đều qua các năm, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam; đồng thời thu hút sự quan tâm, hỗ trợ của nhà tài trợ đối với hình thức đầu tư mới là PPP.
        - Nguồn vay nước ngoài của Chính phủ
    Theo báo cáo của Bộ Tài chính, các dự án cơ sở hạ tầng có khả năng thu hồi toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư được áp dụng cơ chế chủ đầu tư chịu trách nhiệm vay lại để thực hiện đầu tư và hoàn trả các khoản vốn vay, gồm:
    + Vay lại nguồn vay ODA của Chính phủ: Các dự án cơ sở hạ tầng có khả năng hoàn vốn, sử dụng nguồn ODA tùy từng loại hình dự án cụ thể được xem xét áp dụng cơ chế cho vay lại một phần hoặc cho vay lại toàn bộ nhưng có hỗ trợ lãi suất hoặc cho vay lại bằng lãi suất mà Chính phủ vay nước ngoài, hoặc có thể cho vay lại với lãi suất thấp hơn lãi suất Chính phủ vay. Thời gian qua, các khoản vay loại này thường tập trung đối với các dự án cảng biển, cảng hàng không và một số dự án điện.
    + Vay thương mại nước ngoài của Chính phủ: Các dự án có khả năng hoàn vốn tốt, có nguồn thu trực tiếp song vẫn cần có sự hỗ trợ, từ Chính phủ do vốn đầu tư lớn; đây là các dự án trọng điểm quốc gia hoặc phải triển khai cấp bách (như năng lượng, điện, dầu mỏ, khí đốt, khai thác khoáng sản quan trọng, sản xuất phân bón...). Cơ chế tài chính áp dụng đối với các dự án này là ngân sách nhà nước cho vay lại toàn bộ vốn vay từ nước ngoài với điều kiện vay lại như điều kiện Chính phủ đã vay.
    - Chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
    Nhằm khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư thì ngoài điều kiện về hành lang pháp lý quy định rõ ràng về thủ tục, nội dung đầu tư thì một trong các nhân tố thúc đẩy đầu tư là chính sách ưu đãi, hỗ trợ trong đầu tư nói chung và ưu đãi riêng cho các dự án PPP.
    Về ưu đãi đầu tư, Luật Đầu tư năm 2005 và 2014 đều có quy định về nội dung ưu đãi nhà đầu tư. Căn cứ vào đặc điểm, yêu cầu từng dự án cụ thể, từng ngành nghề, địa bàn đầu tư, nhà đầu tư sẽ được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất thông thường có thời hạn hoặc toàn bộ thời gian thực hiện dự án đầu tư; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp; Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định; nguyên liệu, vật tư, linh kiện để thực hiện dự án đầu tư; Miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất. Những ưu đãi này góp phần tích cực tác động các nhà đầu tư khi họ đưa ra quyết định đầu tư dự án.
    Về hỗ trợ đầu tư, một trong các điểm về lợi thế cạnh tranh trong thu hút đầu tư các ngành nghề, địa phương chính là chính sách hỗ trợ đầu tư. Nhằm tạo điều kiện hút vốn của nhà đầu tư, căn cứ vào kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, các Bộ, ngành, địa phương hỗ trợ vốn nhà nước phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; phát triển nhà ở công trình dịch vụ, tiện ích công cộng cho người lao động trong khu khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế. Đây là điều kiện thiết yếu tạo lập môi trường đầu tư ổn định, cạnh tranh cho các nhà đầu tư tiềm năng.
    Ngoài ra, về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư trong thực hiện các dự án thuộc chương trình xã hội hóa: Đối với các dự án thuộc lĩnh vực đang được xã hội hóa (y tế, văn hóa, giáo dục, môi trường, nông nghiệp, nông thôn), một trong các chủ trương, định hướng của Nhà nước, Chính phủ là đẩy mạnh xã hội hóa thu hút các nhà đầu tư. Theo đó, bên cạnh các chính sách chung về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư nêu trên, một hệ thống các chính sách hỗ trợ riêng cho đầu tư các dự án này như:
    + Nghị định 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008, Nghị định số 59/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP quy định về chính sách xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường. Trong đó đối với từng lĩnh vực sẽ có những ưu đãi riêng, tuy nhiên các doanh nghiệp khi tham gia đầu tư vào các lĩnh vực này sẽ được ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp (từ 25% xuống còn 10%).
    + Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Trong đó, bên cạnh chính sách ưu đãi về đất đai, lần này Chính phủ tập trung ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn vào các phân ngành trồng trọt, chăn nuôi, chế biến.
    + Để hướng dẫn Quyết định số 131/2009/QĐ-TTg ngày 02/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về một chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư và quản lý, khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn, liên bộ Bộ NN&PTNT, Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT đã có thông tư số 37/2014/TTLT-BNNPTNT-BTC-BKHĐT quy định về các chính sách ưu đãi này. Cụ thể bao gồm: chính sách về đất đai, về thuế thu nhập doanh nghiệp; hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và huy động vốn; hỗ trợ giá tiêu thụ nước sạch.
    II. Tình hình thực hiện quy định pháp luật về PPP
    1. Giai đoạn từ 1997 – 2014
    Trong giai đoạn 1997 – 2014, các Bộ, ngành, địa phương đã ký kết và thực hiện hợp đồng PPP với tổng số 193 dự án. Một số Bộ, ngành, địa phương đi tiên phong, tích cực thực hiện đầu tư theo hình thức PPP như Bộ Giao thông vận tải (với 75 dự án đã và đang triển khai), các tỉnh, Thành phố như Hà Nội, Bình Phước, Bình Dương, Khánh Hòa... Ngoài ra, đa số các Bộ, ngành, địa phương đã lập danh mục các dự án PPP ưu tiên và đang tiến hành nghiên cứu, chuẩn bị dự án, chưa thực hiện đến bước ký kết hợp đồng.
    - Về loại hợp đồng: Các dự án PPP chủ yếu được thực hiện theo hai loại hợp đồng chính là BOT (120 dự án) và BT (71 dự án).
    - Về lĩnh vực: Về lĩnh vực, các dự án PPP giao thông là các dự án được thực hiện phổ biến nhất với 158 dự án, tiếp đến là các dự án trong lĩnh vực năng lượng (9 dự án), cấp nước, thoát nước và xử lý nước thải (5 dự án). Riêng đối với lĩnh vực giao thông, chưa có nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giao thông vận tải theo hình thức hợp đồng PPP nhưng đã tham gia đầu tư trực tiếp vào các cảng biển với quy mô hiện đại như bến cảng Container Tân Cảng Cát Lái (Công ty Tân Cảng); bến cảng Container Trung tâm Sài Gòn SPCT (Liên doanh DP World - Ả rập Xê - út); bến cảng Container quốc tế Sài Gòn Việt Nam SITV (Liên doanh Hutchison Hongkong)... Ước tính nguồn vốn huy động từ khu vực tư nhân trong và ngoài nước cho phát triển hạ tầng giao thông đạt 327.110 tỷ đồng. Quy định đầu tư theo hình thức PPP đã được ban hành nhưng đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, đến thời điểm hiện tại, toàn ngành vẫn chưa triển khai được dự án nào theo mô hình này. Việc thu hút tham gia của khối tư nhân chủ yếu vẫn thông qua hoạt động xã hội hóa và hình thức khác.
    Về tiến độ thực hiện, đa số các dự án đã hoàn thành giai đoạn xây dựng và đang trong giai đoạn vận hành. Một số dự án đã tiến hành nghiệm thu, bàn giao công trình, kết thúc hợp đồng là các dự án BT (do đặc thù không có giai đoạn vận hành).
     (Tổng hợp các dự án PPP đã ký kết được trình bày tại Phụ lục 02 kèm theo báo cáo này).

    2. Giai đoạn từ 2015 đến nay
    2.1. Tình hình thực hiện dự án PPP
    Do mới triển khai hai Nghị định số 15/2015/NĐ-CP và 30/2015/NĐ-CP trong thời gian gần 2 năm nên số lượng các dự án PPP mới đã lựa chọn được nhà đầu tư và đi vào vận hành là rất hạn chế. Các dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư từ ngày Nghị định số 15/2015/NĐ-CP có hiệu lực (10/4/2015) đến nay (32 dự án) chủ yếu là các dự án được nghiên cứu và triển khai theo quy định cũ (Nghị định 108/2009/NĐ-CP). 
    Theo báo cáo của các Bộ Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Y tế, Tài nguyên và Môi trường, Thông tin và Truyền thông thì các Bộ này hiện chưa triển khai dự án nào mới theo quy định của Nghị định số 15/2015/NĐ-CP.
    Đối với các địa phương, trong giai đoạn 2016-2020 có 18/63 địa phương đăng ký danh mục dự án PPP với tổng số 598 dự án, trong đó có 321 dự án dự kiến khởi công mới trong giai đoạn 2016 – 2020, 277 dự án chuyển tiếp từ năm 2011 – 2015. Tổng nhu cầu vốn cho các dự án PPP là 254.054,717 tỷ đồng, cụ thể vốn ngân sách nhà nước là 16.863,617 tỷ đồng, vốn dự kiến do nhà đầu tư huy động là 237.191,099 tỷ đồng. Các dự án được đề xuất vẫn chủ yếu áp dụng hình thức BT (256 dự án), BOT (87 dự án), BLT (6 dự án), BOO (1 dự án), BTO (11 dự án), các dự án còn lại chưa xác định cụ thể loại hợp đồng.
    2.2. Nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng nói chung và PPP nói riêng
    Nghị quyết của Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XII và Nghị quyết của Quốc hội đã thông qua mục tiêu tổng quát về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 -2020 là: "Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao hơn 5 năm trước. Đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh. Phát triển văn hoá, thực hiện dân chủ, tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, tăng cường phúc lợi xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường. Tăng cường quốc phòng, an ninh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và chủ động hội nhập quốc tế. Giữ gìn hoà bình, ổn định, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để xây dựng và bảo vệ đất nước. Nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại."
    Căn cứ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đặt ra nêu trên và khả năng huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước, theo báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội về Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 , tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2016-2020 theo giá hiện hành dự kiến khoảng 9.120- 9.750 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 32-34% GDP, trong đó: vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước 2.000 nghìn tỷ đồng, chiếm 20,5-21,9%; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước dự kiến khoảng 363-378 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,9-4%; vốn từ khu vực doanh nghiệp nhà nước dự kiến khoảng 812-869 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 8,9%; vốn đầu tư của khu vực dân cư và doanh nghiệp tư nhân dự kiến 4.326 - 4.839 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 47,4-49,6%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) dự kiến khoảng 1.592-1.635 nghìn tỷ đồng (không bao gồm phần vốn đóng góp ở trong nước), chiếm khoảng 16,8-17,5%; các nguồn vốn khác dự kiến khoảng 27,4-29,2 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 0,3%.
    Đối với mục tiêu phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đất nước, ngày 16/01/2012, Ban Chấp hành Trung ương có Nghị quyết số 13-NQ/TW về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 13-NQ/TW). Nghị quyết đã xác định một trong các giải pháp chủ yếu là “thu hút mạnh các thành phần kinh tế, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, bảo đảm lợi ích thỏa đáng của nhà đầu tư; mở rộng hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm...; có cơ chế, chính sách phù hợp để thu hút đầu tư vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng...”. Ngày 08/6/2012, Chính phủ có Nghị quyết số 16/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ triển khai thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW.
    Sau 05 năm, việc thực hiện chỉ đạo của các cấp Lãnh đạo Đảng và Chính phủ đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần nâng cao hệ thống kết cấu hạ tầng đất nước. Bên cạnh các nguồn vốn đầu tư truyền thống bao gồm ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ, ODA, vốn đầu tư từ các khu vực ngoài nhà nước thông qua hình thức BOT, BT đã góp phần thay đổi hình ảnh của các địa phương, cải thiện đáng kể hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, ví dụ: đã đưa vào sử dụng hàng nghìn km quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên, các cầu quy mô lớn như cầu Cổ Chiên, cầu Rạch Miễu, cầu Việt Trì, cầu Yên Lệnh...). Đối với ngành điện, lượng vốn đầu tư thu hút khá lớn và chủ yếu là vốn của doanh nghiệp theo hình thức IPP bao gồm cả doanh nghiệp nước ngoài. Kể từ khi có Nghị quyết 13-NQ/TW, ngành điện đã thu hút 233.400 tỷ đồng vốn vào 07 dự án có sự tham gia của khu vực tư nhân. Ngành điện đang thực hiện một số dự án BOT cung cấp điện với quy mô rất lớn, có sự tham gia của cả các nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước. Nguồn lực xã hội huy động vào đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn là khá lớn. Những năm gần đây, đầu tư của tư nhân vào ngành đã tăng đáng kể, năm 2013 tăng gấp 1,9 lần so với năm 2009. Riêng trong năm 2014, tổng vốn đầu tư của khu vực tư nhân là (trong đó chủ yếu là doanh nghiệp, dân doanh) là 40.419 tỷ đồng, chiếm 54,8% tổng đầu tư xã hội vào ngành (73.667 tỷ đồng). Việc thu hút tham gia của khối tư nhân vào lĩnh vực y tế chủ yếu vẫn thông qua hoạt động xã hội hóa và hình thức khác mà chưa áp dụng PPP. Với chính sách xã hội hóa, hệ thống y tế tư nhân phát triển, đến nay cả nước có hơn 100 bệnh viện tư nhân và trên 30.000 phòng khám chữa bệnh tư nhân cùng với hệ thống y tế công lập tham gia khám chữa bệnh. Tỷ lệ bệnh viện tư nhân chiếm khoảng 13% so với tổng số bệnh viện trên toàn quốc và chiếm khoảng 6% tỷ lệ số giường bệnh. Điều này góp phần quan trọng trong chăm sóc sức khỏe người dân, giúp giảm tải bệnh viện công. Đối với lĩnh vực giáo dục, quy định về PPP trong lĩnh vực này chưa được hướng dẫn cụ thể, đặc biệt là chưa có những quy định liên quan đến vấn đề người lao động (các chế độ đối với giáo viên, viên chức nhà nước khi thực hiện hợp tác công tư) do đó việc thu hút nguồn lực đầu tư tư nhân vào lĩnh vực này chủ yếu thông qua hình thức xã hội hóa.
    Với nhu cầu phát triển kết cấu hạ tầng ngày càng tăng, trong bối cảnh nguồn ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 50% tổng nhu cầu, việc huy động nguồn vốn dồi dào từ khu vực tư nhân là rất cần thiết; theo đó cần xây dựng cơ chế huy động vốn song hành một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ổn định, cởi mở để kịp thời đáp ứng yêu cầu huy động nguồn vốn tư nhân một cách hiệu quả.
    III. Đánh giá về cơ chế, chính sách đầu tư PPP
    1. Đánh giá chung
    Trước khi Nghị định 15/2015/NĐ-CP (15/CP) và Nghị định 30/2015/NĐ-CP (30/CP) được ban hành, dự án BOT, BTO, BT được thực hiện theo quy định tại Nghị định 108/2009/NĐ-CP (có hiệu lực từ 15/01/2010) và các văn bản hướng dẫn có liên quan như Thông tư số 03/2011/TT-BKHĐT hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 108/2009/NĐ-CP; Thông tư số 166/2011/TT-BTC quy định về quản lý, sử dụng chi phí chuẩn bị dự án và kinh phí hoạt động của CQNNCTQ trong quá trình quản lý các dự án; một số chỉ tiêu tài chính của hợp đồng dự án; điều kiện và phương thức thanh toán cho nhà đầu tư...
    Các dự án hiện đang được tiến hành thanh tra, kiểm toán hầu hết là các dự án được thực hiện theo quy định tại Nghị định 108/CP và các Thông tư hướng dẫn nêu trên. Thông qua các báo cáo thanh tra, kiểm toán, một số bất cập của Nghị định 108/CP được nêu cụ thể như sau:
    - Quy định về việc lập và công bố danh mục dự án còn chưa đảm bảo tính chặt chẽ, khoa học;
    - Quy định về các trường hợp được áp dụng chỉ định thầu còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng chỉ định thầu tràn lan;
    - Quy định về giám sát quá trình thực hiện hợp đồng và chất lượng công trình chưa chặt chẽ.
    - Đối với dự án BOT giao thông, xuất hiện các bất cập về mức phí quá cao, vị trí đặt trạm thu phí chưa đảm bảo khoảng cách 70km, thời gian thu phí chưa phù hợp...
    - Đối với dự án BT, bất cập chủ yếu là việc xác định tổng mức đầu tư công trình và giá trị quỹ đất chưa chính xác dẫn đến sự chênh lệch quá lớn giữa 02 giá trị.
    Một số bất cập nêu trên về cơ bản đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu, đánh giá và sửa đổi trong Nghị định 15/CP (có hiệu lực từ ngày 10/3/2015) và Nghị định 30/CP (có hiệu lực từ ngày 05/5/2015). Ngoài ra, một số quy định do các Bộ quản lý chuyên ngành quy định (ví dụ vị trí đặt trạm thu phí, mức giá phí dịch vụ...) không quy định cụ thể tại Nghị định khung mà được chi tiết tại các Thông tư hướng dẫn của Bộ Giao thông vận tải và Bộ Tài chính. Riêng đối với việc thanh toán dự án BT bằng quỹ đất, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 23/2015/QĐ-TTg và Bộ Tài chính cũng ban hành Thông tư số 183/2015/TT-BTC hướng dẫn nội dung này.
    Tuy nhiên, nhiều nội dung quy định tại các Nghị định số 15/2015/NĐ-CP và Nghị định số 30/2015/NĐ-CP chịu sự điều chỉnh của nhiều luật khác như Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Xây dựng và những Luật này chưa quy định cụ thể để thực hiện dự án PPP, do vậy trong quá trình triển khai thực hiện còn những khó khăn, bất cập cần có biện pháp tháo gỡ. Có thể nói, cùng một nội dung nhưng chịu sự điều chỉnh của nhiều Luật như việc quản lý, giải ngân vốn góp của Nhà nước vào dự án PPP, huy động vốn góp của nhà đầu tư vào doanh nghiệp dự án, trình tự thủ tục triển khai các dự án PPP có vốn góp của Nhà nước, lựa chọn nhà thầu đối với dự án PPP... sẽ làm tăng tính phức tạp, rủi ro trong quá trình triển khai các dự án cụ thể và kết quả làm giảm tính hấp dẫn đầu tư theo mô hình này.
    2. Đánh giá chi tiết
    2.1. Quy định chồng chéo, vướng mắc, chưa phù hợp giữa các văn bản quy phạm pháp luật về PPP
    a) Vướng mắc giữa Luật Đầu tư công và quy định về PPP
    - Về phân loại dự án PPP: 
    Hiện nay, Nghị định số 15/2015/NĐ-CP đang quy định phân loại dự án theo quy định tại Luật Đầu tư công (theo nhóm quan trọng quốc gia, nhóm A, B, C). Quy trình, thủ tục, thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư dự án PPP theo Luật Đầu tư công được quy định căn cứ vào phân loại dự án theo nhóm như trên. Một trong các tiêu chí để phân nhóm dự án nêu trên tại Luật Đầu tư công là quy mô của “vốn đầu tư công”. Tuy nhiên, đặc thù của dự án PPP không chỉ sử dụng vốn đầu tư công mà phần lớn là huy động vốn của nhà đầu tư. Do đó, việc phân loại như dự án đầu tư công là chưa hợp lý.
    Bên cạnh đó, việc phân loại dự án chỉ dựa vào quy mô vốn đầu tư công dẫn đến  trình tự, thủ tục phê duyệt chủ trương đầu tư dự án PPP có sử dụng vốn đầu tư công và không sử dụng vốn đầu tư công có sự không nhất quán. Dự án PPP nhóm A cần nhiều (99%) cũng như ít (1%) vốn Nhà nước tham gia đều yêu cầu thành lập hội đồng liên ngành để thẩm định trước khi trình Thủ tướng Chính phủ, còn dự án PPP nhóm A không có vốn góp của Nhà nước thì không cần thực hiện thủ tục này. Trong khi về bản chất các dự án PPP nhóm A (không phân biệt có sử dụng hay không sử dụng vốn nhà nước) đều có ảnh hưởng lớn tới người dân, kinh tế, xã hội.
    - Về thủ tục quyết định chủ trương đầu tư:
    Luật Đầu tư công (điểm b Khoản 3 Điều 33) quy định: “Trình tự, thủ tục, nội dung quyết định chủ trương đầu tư dự án PPP thực hiện theo quy định của Chính phủ”.
    Nghị định 15/CP (Khoản 2 Điều 17) quy định: Đối với dự án sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước, căn cứ mức vốn và nguồn vốn dự kiến sử dụng, Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đầu tư công để quyết định chủ trương sử dụng trước khi phê duyệt đề xuất dự án. Như vậy, Nghị định 15/CP chưa có quy định cụ thể về “trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư” mà chỉ có quy định về “quyết định chủ trương sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án”; tuy nhiên Nghị định 15/CP cũng không quy định rõ cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định chủ trương sử dụng phần vốn đầu tư của Nhà nước nêu trên mà dẫn chiếu lại pháp luật về đầu tư công, trong khi pháp luật về đầu tư công không có quy định về nội dung này. Tiếp đó, tại Nghị định số 136/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư công (Điều 10), đối với trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư dự án PPP nhóm A quy định như sau: Trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm A (bao gồm các dự án khẩn cấp và dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư quy định tại điểm b khoản 3 Điều 33 Luật Đầu tư công) thực hiện theo quy định tại Điều 23 của Luật Đầu tư công. Như vậy, hiện chưa có sự thống nhất giữa pháp luật về đầu tư công và quy định về đầu tư theo hình thức PPP về “trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư đối với dự án PPP”.
    Bên cạnh đó, theo quy định hiện hành của pháp luật về đầu tư công, trình tự, thủ tục phê duyệt chủ trương đầu tư dự án PPP có sử dụng vốn đầu tư công và không sử dụng vốn đầu tư công có sự không nhất quán. Dự án PPP nhóm A cần nhiều (99%) cũng như ít (1%) vốn Nhà nước tham gia đều yêu cầu thành lập hội đồng liên ngành để thẩm định trước khi trình Thủ tướng Chính phủ, còn dự án nhóm A không có vốn góp của Nhà nước thì không cần thực hiện thủ tục này. Trong khi về bản chất các dự án PPP nhóm A (không phân biệt có sử dụng hay không sử dụng vốn nhà nước) đều có ảnh hưởng lớn tới người dân, kinh tế, xã hội.
    Ngoài ra, hiện nay, Luật Đầu tư công và Nghị định 15/2015/NĐ-CP sử dụng không thống nhất các khái niệm “đề xuất dự án”; “chủ trương đầu tư”; “chủ trương sử dụng vốn nhà nước tham gia thực hiện dự án” đối với các dự án PPP có sử dụng vốn đầu tư công.
    - Về điều kiện quyết định chủ trương đầu tư dự án PPP:
    Điều 18 Luật Đầu tư công quy định điều kiện quyết định chủ trương đầu tư dự án (bao gồm dự án PPP), trong đó có nêu một số điều kiện cơ bản về quy hoạch, khả năng cân đối vốn, hiệu quả kinh tế. Quy định nêu trên chỉ phù hợp với dự án đầu tư công, chưa phù hợp với dự án PPP do việc lựa chọn dự án để thực hiện theo hình thức PPP cần quan tâm đến các yếu tố về thu hút nhà đầu tư, nguồn thu của dự án...Pháp luật về PPP (Nghị định 15/2015/NĐ-CP) cũng quy định việc nghiên cứu các yếu tố này trong đề xuất dự án cũng như quá trình thẩm định đề xuất dự án do đó điều kiện phê duyệt chủ trương đầu tư của dự án cũng phải xem xét các yếu tố nêu trên nhằm tạo sự xuyên suốt, thống nhất về quan điểm lựa chọn dự án để thực hiện theo hình thức PPP.
    - Về thủ tục thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn:
    Thực tiễn việc thực hiện thủ tục thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn theo quy định của pháp luật về đầu tư công (bao gồm các dự án PPP có sử dụng vốn đầu tư công) mang tính hình thức, chưa hiệu quả và làm tăng thủ tục đầu tư. Nguyên nhân chính là tại thời điểm thực hiện thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn, cấp có thẩm quyền chưa có cơ sở khẳng định được khả năng bố trí nguồn vốn cho từng dự án.
    Mức vốn Nhà nước hỗ trợ cho dự án PPP gắn liền với phương án tài chính của dự án; giai đoạn chủ trương đầu tư (phê duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi), phương án tài chính của dự án mang tính sơ bộ, mức độ chính xác của các thông số tài chính là không cao. Theo thông lệ quốc tế, việc xác định khả năng hỗ trợ của Nhà nước cho các dự án PPP được thực hiện ở giai đoạn phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi; mức hỗ trợ của Nhà nước thực tế phụ thuộc vào kết quả đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư.
    - Về giải ngân vốn đầu tư của nhà nước tham gia thực hiện dự án:
    Theo quy định, vốn nhà nước phải được quản lý, giải ngân theo đúng quy định của Luật đầu tư công. Tuy nhiên, đối với vốn Nhà nước hỗ trợ thực hiện dự án PPP sẽ được xác định thông qua phương án tài chính, trên cơ sở đảm bảo dự án khả thi về mặt tài chính. Do vậy, vốn Nhà nước sẽ được hòa chung vào dòng vốn của dự án (không tách thành hạng mục độc lập để thực hiện) nên không thể quản lý, giải ngân theo quy định của Luật Đầu tư công. Do vậy, cần có quy định riêng và cụ thể về việc quản lý, giải ngân phần vốn Nhà nước tham gia hỗ trợ dự án PPP.
    Kinh nghiệm tại một số nước (Ấn Độ, Indonesia) cho thấy việc giải ngân vốn đầu tư của nhà nước tham gia thực hiện dự án có thể thực hiện sau khi nhà đầu tư giải ngân vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư (không nhất thiết phải sau khi đã hoàn thành xây dựng hạng mục của công trình dự án).
    b) Vướng mắc giữa Luật Xây dựng và quy định về PPP
    - Về quyền, nghĩa vụ của chủ đầu tư và cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong dự án PPP có cấu phần xây dựng:
    Luật Xây dựng (Khoản 9 và Khoản 27 Điều 3) quy định các khái niệm chủ đầu tư (đối với dự án PPP là doanh nghiệp dự án) và người quyết định đầu tư (cá nhân hoặc người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có thẩm quyền phê duyệt dự án và quyết định đầu tư xây dựng). Theo đó, Điều 68, Điều 72 Luật Xây dựng có quy định về trách nhiệm của chủ đầu tư và người quyết định đầu tư. Tuy nhiên, Luật Xây dựng chưa quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký kết hợp đồng PPP.
    Về bản chất dự án PPP, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký kết hợp đồng PPP không phải là người quyết định đầu tư (người quyết định đầu tư trong trường hợp này là nhà đầu tư – chủ thể bỏ đa số phần vốn trong dự án). Việc Mặc dù Nghị định 15/2015/NĐ-CP có quy định trách nhiệm của CQNNCTQ trong quá trình xây dựng, tuy nhiên do Luật Xây dựng chưa quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký kết hợp đồng PPP trong Luật dẫn đến nhiều chủ đầu tư cho rằng chỉ có chủ đầu tư mới có một số quyền nhất định như tổ chức giám sát thực hiện dự án.
    - Về phê duyệt thiết kế, dự toán:
    Theo quy định tại Nghị định 15/2015/NĐ-CP, giá trị dự án được xác định ngay khi ký hợp đồng. Quá trình phê duyệt dự toán, thiết kế cơ sở, thiết kế bản vẽ thi công do nhà đầu tư thực hiện thực hiện theo Luật Xây dựng, theo đó, cơ quan chuyên môn xây dựng sẽ thẩm định thiết kế cơ sở, dự toán gửi nhà đầu tư phê duyệt.  Tuy nhiên, việc thẩm định thiết kế, dự toán có thể dẫn tới trường hợp tăng, giảm giá trị công trình so với giá trong hợp đồng, dẫn tới làm mất ý nghĩa của việc đấu thầu dự án.
    -    Về phê duyệt quyết toán công trình dự án:
    Điều 137 Luật Xây dựng quy định công trình xây dựng sau khi hoàn thành được nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng phải thực hiện quyết toán dự án đầu tư xây dựng. Đối với dự án sử dụng vốn nhà nước, người quyết định đầu tư phê duyệt quyết toán dự án đầu tư trong giới hạn tổng mức đầu tư được phê duyệt. Quy định nêu trên chỉ phù hợp với các dự án sử dụng nhà thầu thực hiện công trình; chưa phù hợp với lựa chọn nhà đầu tư do dự án PPP được quản lý theo đầu ra, nhà đầu tư không chỉ xây dựng công trình mà còn vận hành, kinh doanh thu hồi vốn trên cơ sở không thay đổi các cam kết về chất lượng dịch vụ và giá, phí dịch vụ.
    c) Vướng mắc với Luật Đất đai
    - Về quy định giao đất cho nhà đầu tư thực hiện dự án PPP
    Khoản 3 Điều 155 Luật Đất đai quy định nhà nước giao cho nhà đầu tư quản lý diện tích đất để thực hiện dự án xây dựng - chuyển giao (BT); giao đất hoặc cho thuê đất đối với nhà đầu tư để thực hiện dự án xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) và các hình thức khác theo quy định của pháp luật về đầu tư. Luật Đất đai chưa quy định cụ thể thủ tục bàn giao đất cho nhà đầu tư trúng thầu dự án PPP, đối với các dự án có cấu phần kinh doanh “O” và “L” thì quy định bàn giao đất càng quan trọng bởi liên quan đến quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư trong việc sử dụng đất mà nhà nước giao triển khai dự án PPP. Bên cạnh đó, về bản chất, dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư nhằm thực hiện dịch vụ công, do đó, trong trường hợp thu tiền sử dụng đất thì chi phí này cũng được tính vào phương án tài chính của nhà đầu tư và tổng vốn đầu tư của dự án. Do đó, việc quy định cho thuê đất đối với dự án PPP là chưa phù hợp. Bên cạnh đó, quy định hai trường hợp như nêu trên chưa đủ rõ ràng để thực hiện đối với dự án PPP trường hợp nào thì cho thuê đất và trường hợp nào thì giao đất.
    - Về thế chấp quyền sử dụng đất:
    Điều 179 Luật Đất đai chỉ cho phép thế chấp quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế khác hoặc cá nhân theo quy định của pháp luật; không cho phép các bên cho vay nước ngoài nhận thế chấp quyền sử dụng đất. Trong khi đó, nhiều dự án PPP của nhà đầu tư nước ngoài vay vốn các tổ chức tín dụng do đó các nhà đầu tư gặp khó khăn khi đàm phán khoản vay cho dự án.
    d) Vướng mắc với Luật Bảo vệ môi trường
    Điều 25 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định: “Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường là căn cứ để cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư dự án”.
    Tuy nhiên, theo Điều 35 Luật Đầu tư công, dự án không có cấu phần xây dựng chỉ “Phân tích, đánh giá sơ bộ tác động về môi trường, xã hội của dự án” và đối với dự án có cấu phần xây dựng thực hiện theo quy định của Luật Xây dựng. Theo quy định của Luật Xây dựng, nội dung báo cáo nghiên cứu tiền khả thi chỉ “xác định sơ bộ hiệu quả kinh tế - xã hội và đánh giá tác động của dự án”. Đồng thời, theo quy định tại Nghị định số 131/2015/NĐ-CP ngày 25/12/2015 hướng dẫn về dự án quan trọng quốc gia, nội dung thẩm định chủ trương đầu tư dự án quy định “đánh giá sơ bộ tác động đến môi trường, xã hội của dự án”. Trong thực tế, các số liệu được nghiên cứu, thu thập trong bước nghiên cứu tiền khả thi dự án PPP chỉ đáp ứng yêu cầu đánh giá sơ bộ tác động môi trường, xã hội, không đáp ứng được yêu cầu đánh giá tác động môi trường theo quy định.
    Do vậy, cần phân loại các dự án PPP theo mức độ tác động đến môi trường và quy định rõ Báo cáo đánh giá tác động môi trường là cơ sở để quyết định dự án đầu tư (đối với các dự án không tiềm ẩn nguy cơ đối với môi trường) và quyết định chủ trương đầu tư (đối với các dự án tiềm ẩn nguy cơ tác động môi trường).
    d) Vướng mắc với Luật Doanh nghiệp
    - Về tiến độ huy động vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư
    Theo Điều 74 và 112 Luật Doanh nghiệp quy định chủ sở hữu hoặc các cổ đông đều phải góp/thanh toán vốn đủ trong vòng 90 ngày hoặc ngắn hơn kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, dự án PPP thường có tổng vốn đầu tư lớn, do đó, nếu huy động vốn chủ sở hữu theo quy định của Luật doanh nghiệp thì sẽ có một lượng tiền rất lớn không được sử dụng và nằm trong tài khoản của doanh nghiệp dự án (nguồn vốn phải huy động mà không được sử dụng; đối với dự án đầu tư cơ sở hạ tầng phần vốn này rất lớn); điều này dẫn đến lãng phí nguồn lực.
    - Về hoạt động của doanh nghiệp dự án:
    Luật Doanh nghiệp công nhận và bảo hộ tài sản, vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp. Tức là, doanh nghiệp có quyền định đoạt đối với phần vốn chủ sở hữu của mình, có thể cổ phần hóa doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với dự án PPP, hoạt động của doanh nghiệp dự án ảnh hưởng rất lớn đến việc duy trì cung cấp dịch vụ công của dự án. Bên cạnh đó, Điều 7 Luật Doanh nghiệp quy định doanh nghiệp được làm những điều pháp luật không cấm, tuy nhiên trong phạm vi dự án PPP doanh nghiệp dự án chỉ được thực hiện những nhiệm vụ trong phạm vi, mục đích thực hiện dự án.
    Do đó, cần thiết phải có những quy định riêng đối với doanh nghiệp dự án PPP để đảm bảo thực hiện hiệu quả dự án.
    đ) Vướng mắc đối với Luật Quản lý nợ công
    Bên cạnh nguồn vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư, hầu hết các dự án PPP phải huy động một lượng lớn nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, hiện nay, bối cảnh thị trường tín dụng dài hạn trong nước chưa phát triển, cụ thể:
    - Dư nợ nguồn vốn vay tín dụng dài hạn của ngân hàng trong nước đang ở mức cao;
    - Các ngân hàng chủ yếu huy động ngắn hạn để cho vay dài hạn. Các ngân hàng phải tuân thủ quy định khống chế về hạn mức cho vay ( mức cấp tín dụng cho 1 khách hàng và 1 khách hàng cùng người liên quan lần lượt không vượt 15% và 25% vốn tự có của ngân hàng)
    - Các ngân hàng bị khống chế mức tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ tối đa sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung hạn và dài hạn….
    Để huy động nguồn tin dụng nước ngoài, rất cần một số hình thức bảo lãnh như bảo lãnh doanh thu tối thiểu, cam kết chuyển đổi ngoại tệ; bảo hiểm bên thứ ba thay thế Chính phủ thực hiện nghĩa vụ đã ký trong hợp đồng.
    Tuy nhiên, quy định tại Luật Quản lý nợ công và Nghị định số 04/2017/NĐ-CP ngày 16/01/2017 của Chính phủ về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ  chưa cho phép Chính phủ cung cấp các loại bảo lãnh nêu trên.
    e) Vướng mắc với Luật Giá
    Theo quy định của Luật Giá thì giá được xác định: “bảo đảm bù đắp chi phí sản xuất, kinh doanh thực tế hợp lý, có lợi nhuận phù hợp…” và được “điều chỉnh giá khi các yếu tố hình thành giá thay đổi”.
    Tuy nhiên, đối với dự án PPP, yếu tố cấu thành giá cơ bản được xác định ngay từ đầu. Với quy định nêu trên thì mức giá sẽ được xác định ngay từ đầu và không thay đổi trong quá trình khai thác (khoảng trên 20 năm). Với mức giá như vậy sẽ quá cao tại thời điểm ban đầu, vượt quá mức chi trả của người sử dụng và dự án không hiệu quả; không phù hợp với cơ chế thị trường.
    Do đó, cần có quy định về giá dịch vụ phù hợp với cơ chế thị trường cũng như quy trình, thủ tục liên quan đến điều chỉnh giá, phí dịch vụ trong dự án PPP (dẫn tới điều chỉnh các nội dung của hợp đồng).
    2.2. Việc thực hiện dự án PPP trong thực tiễn còn nhiều bất cập
    a) Công tác chuẩn bị đầu tư còn sơ sài
    Về việc xây dựng Danh mục dự án, Điều 9 Nghị định 108/2009/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao, Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao -  Kinh doanh, Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (Nghị định 108/CP) yêu cầu các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lập Danh mục dự án BOT, BTO và BT của ngành, địa phương mình. Tuy nhiên, ngoài một số điều kiện liên quan đến quy hoạch, lĩnh vực đầu tư và khả năng cân đối nguồn vốn thực hiện dự án BT, Nghị định 108/CP và Thông tư số 03/2011/TT-BKHĐT không quy định cụ thể tiêu chí xem xét dự án được lựa chọn vào Danh mục dự án. Điều này dẫn đến tình trạng một số địa phương đề xuất dự án không thực sự cấp bách, không có tính khả thi. Bên cạnh đó, tình trạng xây dựng Danh mục dự án sơ sài, thiếu thông tin và luận cứ tại nhiều địa phương không chỉ gây khó khăn trong việc tham gia ý kiến và/hoặc phê duyệt Danh mục dự án mà còn hạn chế khả năng tiếp cận đầy đủ thông tin về dự án của nhà đầu tư. Theo đó, sự sơ sài trong công tác chuẩn bị đầu tư là một trong những bất cập mà các cơ quan thanh tra, kiểm toán đã nêu đối với các dự án BOT giao thông của Bộ Giao thông vận tải và BT trên địa bàn Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh trong thời gian qua.
    b) Thông tin dự án chưa được công khai, minh bạch, hạn chế sự tiếp cận thông tin của nhà đầu tư
    Nghị định 108/CP (Điều 14) quy định sau bước công bố danh mục dự án, trường hợp chỉ có 01 nhà đầu tư đăng ký thực hiện dự án thì được phép áp dụng hình thức chỉ định thầu. Quy định này dẫn đến tình trạng thông tin dự án chưa thực sự được công khai rộng rãi đến các nhà đầu tư cũng như cộng đồng, dân cư. Từ đó, xuất hiện thực trạng hình thức chỉ định thầu được áp dụng tràn lan đối với các dự án BOT, BT trong thời gian qua.
    c) Việc quản lý, giám sát chất lượng công trình dự án còn lỏng lẻo
    Về giám sát, quản lý chất lượng của cơ quan nhà nước đối với công trình dự án, Điều 31 Nghị định 108/CP quy định: Doanh nghiệp dự án tự quản lý, giám sát hoặc thuê tổ chức tư vấn độc lập để quản lý, giám sát thi công xây dựng, nghiệm thu các hạng mục và toàn bộ công trình theo thiết kế đã thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật về xây dựng và thỏa thuận tại Hợp đồng dự án; Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chịu trách nhiệm giám sát, đánh giá việc tuân thủ các nghĩa vụ của Nhà đầu tư và Doanh nghiệp dự án trong việc thực hiện các yêu cầu về quy hoạch, mục tiêu, quy mô, tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng công trình, tiến độ huy động vốn và thực hiện Dự án theo thỏa thuận trong Hợp đồng dự án. Điều 51 Thông tư 03/2011/BKHĐT-TT hướng dẫn bổ sung nguyên tắc giám sát thi công xây dựng và nghiệm thu công trình BT thực hiện theo thủ tục quy định đối với dự án sử dụng nguồn vốn Nhà nước.
    Quy định này dẫn đến thực tiễn là cơ chế kiểm tra giám sát các hoạt động đầu tư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoạt động mang tính hình thức, không hiệu quả, hầu như phó thác toàn bộ cho nhà đầu tư từ giai đoạn lập dự án, phê duyệt dự án và thực hiện dự án, nhiều khối lượng, đơn giá vượt gấp 20 lần thực tế nhưng vẫn được chấp nhận và hoàn thiện thủ tục để thanh toán nhưng không có cơ chế kiểm soát. Dự án đầu tư do nhà đầu tư lập và tự phê duyệt sai lệch quá lớn so với thực tế. Do thiếu cơ chế giám sát, nên ngân sách nhà nước phải thanh toán cho các dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT lớn hơn chi phí đầu tư thực tế khoảng 30%  đến 100%.
    d) Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (GCNÐKÐT) kéo dài, làm chậm tiến độ dự án
    Thủ tục cấp GCNĐKĐT được quy định từ Nghị định 108/CP và được giữ nguyên tại Nghị định 15/CP. Quy định xuất hiện nhiều bất cập, ảnh hưởng đến tiến độ dự án như:
    - Thủ tục cấp GCNĐKĐT thường kéo dài (vì phải lấy ý kiến các cơ quan liên quan và thực hiện thủ tục thẩm tra), làm chậm tiến độ thực dự án.
    - Thủ tục cấp GCNĐKĐT được thực hiện sau khi các Bộ, ngành, địa phương đã phê duyệt BCNCKT; đấu thầu, đàm phán và ký kết thỏa thuận đầu tư với nhà đầu tư; do đó, việc thẩm tra lại dự án khi đã hoàn tất giao dịch theo thị trường sẽ không đảm bảo tính khoa học. Trong quá trình triển khai, dự án đã thực hiện lấy ý kiến các Sở, ngành liên quan trong các quá trình nghiên cứu, lập dự án; lập, phê duyệt hồ sơ mời thầu; đàm phán hợp đồng với nhà đầu tư. UBND cấp tỉnh là CQNNCTQ phê duyệt dự án và ký kết hợp đồng, đồng thời là cơ quan thẩm tra và cấp GCNĐKĐT. Vì vậy, việc tiếp tục lấy ý kiến các Sở, ngành, cơ quan liên quan trong quá trình thẩm tra, cấp GCNĐKĐT là thủ tục không cần thiết.
    Bên cạnh đó, thông lệ quốc tế (trong quy định tại các luật của Hàn Quốc, Phillippes, Ấn Độ, Singapore, Úc...) không quy định việc cấp GCNĐKĐT đối với dự án PPP; thay vào đó, hợp đồng PPP được xem là cơ sở pháp lý quan trọng nhất của dự án.
    Do đó, dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 15/CP đã bãi bỏ thủ tục cấp GCNĐKĐT được quy định tại Nghị định 15/CP. Đồng thời, dự thảo lược bỏ quy định về ký kết thỏa thuận đầu tư do tài liệu này chỉ nhằm mục đích phục vụ việc thẩm tra GCNĐKĐT của cơ quan cấp giấy.
    đ) Việc thực hiện dự án BT còn nhiều bất cập
    Đối với dự án BT, việc khắc phục các vấn đề nêu tại Mục 1 và điểm a, b, c Mục này đều có ảnh hưởng tích cực tới việc triển khai dự án BT. Bên cạnh đó, với đặc thù sử dụng quỹ đất để thanh toán cho nhà đầu tư, xuất hiện một số bất cập khác. Cụ thể:
    - Quỹ đất để thanh toán cho các dự án BT ngày càng hạn chế; trong khi đó các hình thức thanh toán cho nhà đầu tư BT từ quyền kinh doanh các dự án thương mại khác không áp dụng được (ví dụ: TP. HCM đề xuất cho phép xây dựng các cầu vượt bộ hành theo hình thức BT; nhà nước thanh toán cho nhà đầu tư bằng việc cho phép gắn các tấm quảng cáo điện tử bên thành cầu…).
    - Dự án BT được giám sát chất lượng công trình và thanh quyết toán như quy định đối với một dự án đầu tư công; tuy nhiên, quy định hiện hành chỉ yêu cầu phê duyệt BCNCKT ở mức thiết kế cơ sở. Quy định này không đảm bảo chính xác giá trị công trình để bố trí nguồn đất thanh toán phù hợp và sai khác nhiều so với giá trị công trình được thanh quyết toán.
    - Dự án BT có tính chất khác với các dự án thực hiện theo các loại hợp đồng còn lại – công trình BT được thực hiện như công trình đầu tư bằng vốn nhà nước; sau khi hoàn thành xây dựng, nhà đầu tư chuyển giao ngay cho nhà nước và không vận hành; việc thanh toán cho nhà đầu tư bằng quỹ đất (không phải bằng tiền).
    e) Công tác lựa chọn nhà đầu tư cần sửa đổi để phù hợp với thực tiễn hơn
    - Về bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu
    Theo quy định của Điều 6 Luật Đấu thầu  và Điều 2 Nghị định 30/CP, nhà đầu tư tham dự thầu phải độc lập về pháp lý và độc lập về tài chính với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bên mời thầu (không có cổ phần hoặc vốn góp trên 30% của nhau). Hiện nay, một số ý kiến cho rằng quy định về bảo đảm cạnh tranh nêu trên tạo sự phân biệt đối xử và hạn chế sự tham gia của các doanh nghiệp nhà nước (100% vốn nhà nước) tham gia các dự án PPP do Bộ, ngành, địa phương trực tiếp quản lý là cơ quan nhà nước có thẩm quyền của dự án (ví dụ: Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam - VEC không được tham dự các dự án PPP do Bộ GTVT làm cơ quan nhà nước có thẩm quyền).
    - Về thời gian trong lựa chọn nhà đầu tư
    Quy định về tổng thời gian tại Nghị định 30/CP đã được nghiên cứu kỹ dựa trên thực tiễn triển khai và kinh nghiệm các nước (tại Úc từ 16-19 tháng, Nam Phi từ 10-26 tháng, Ai-len khoảng 18 tháng). Tuy nhiên, hiện nay, một số Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh có góp ý quy trình lựa chọn nhà đầu tư hiện nay chiếm rất nhiều thời gian, thủ tục và kiến nghị xem xét nghiên cứu tinh giảm quy trình và thời gian thực hiện. Đây không phải là điểm vướng mắc của quy định pháp lý mà chủ yếu bắt nguồn từ việc ngại nghiên cứu, chuẩn bị dự án bài bản và xu hướng muốn áp dụng hình thức chỉ định nhà đầu tư của một số Bộ, ngành, địa phương; tuy vậy, các khoảng thời gian này cũng cần được rà soát lại, điều chỉnh phù hợp với đặc điểm dự án và tình hình thực tế.
    g) Quy định về các cơ chế bảo lãnh của Chính phủ về doanh thu tối thiểu, chuyển đổi ngoại tệ, rủi ro chính sách
    Để thu hút được các nhà đầu tư, tổ chức tài chính cho các dự án PPP hiện nay, Chính phủ cần quy định rõ hơn các cơ chế, chính sách để bảo đảm rủi ro cho dự án, như: bảo lãnh doanh thu tối thiểu (hoặc bảo đảm lưu lượng); bảo đảm chuyển đổi ngoại tệ (tỷ giá và lượng ngoại tệ cung ứng sẵn sàng trong quá trình chuyển đổi); bảo đảm rủi ro về chính sách, chính trị... Tuy nhiên, hiện nay những quy định này chưa rõ ràng trong Nghị định 15/CP. Thực tiễn triển khai ở các dự án BOT giao thông, Bộ Giao thông vận tải với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước lĩnh vực giao thông vận tải đã nhiều lần kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về nội dung này.
    Trước yêu cầu đó, Bộ KH&ĐT đã lấy ý kiến các Bộ, ngành, địa phương về định hướng nghiên cứu, mở rộng một số hình thức bảo lãnh để quy định trong dự thảo Nghị định. Một số Bộ, ngành đặc biệt là Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước có ý kiến cho rằng các cơ chế bảo lãnh đặc thù nêu trên chỉ nên được xem xét áp dụng đối với từng trường hợp cụ thể do nguồn lực của nhà nước để thực hiện bảo lãnh là có hạn. Thêm vào đó, các quy định về bảo đảm đầu tư nêu trên cho các dự án PPP chưa được quy định trong các văn bản cấp luật do đó việc thực hiện bảo lãnh cho các dự án chưa thể thực hiện được.
    h) Quy định về quyết toán công trình dự án PPP
    Việc quy định quyết toán công trình dự án PPP sau khi hoàn thành giai đoạn xây dựng theo quy định hiện nay tại Nghị định 15/CP và các văn bản hướng dẫn (quyết toán như dự án sử dụng vốn nhà nước) sẽ không đảm bảo khoa học, vì bản chất dự án PPP là nhà nước lựa chọn nhà đầu tư để đầu tư xây dựng vận hành dự án trong suốt vòng đời 20-30 năm, hoàn toàn khác với dự án sử dụng vốn nhà nước – nhà nước lựa chọn nhà thầu để thi công công trình. Việc thực hiện quyết toán công trình theo quy định nêu trên cũng là một điểm bất cập, gây bức xúc dư luận trong thời gian vừa qua.
    Theo kinh nghiệm quốc tế tại Hàn Quốc, giá công trình là trọn gói và không quyết toán chi phí xây dựng; nhà nước kiểm soát qua bộ chỉ số yêu cầu về chất lượng công trình/dịch vụ được quy định tại hợp đồng dự án. Luật PPP tại các nước khác hầu hết không có quy định về “quyết toán” mà chỉ quy định về “nghiệm thu” công trình.
    Nhiều ý kiến cho rằng đây là nội dung khó, còn nhiều ý kiến trái chiều nên cần được nghiên cứu kỹ lưỡng.
    i) Quy định trong các ngành, lĩnh vực về tiêu chí quản lý đầu ra của dự án, suất đầu tư và vận hành công trình dự án
    Khác với dự án đầu tư công, dự án PPP được quản lý theo đầu ra (chỉ đặt ra yêu cầu và để nhà đầu tư có sự chủ động, sáng tạo trong việc triển khai công trình, dịch vụ) thay vì quản lý đầu vào (áp đặt sẵn một công trình, dịch vụ). Điều này giúp tạo sự chủ động, sáng tạo cũng như trách nhiệm cho nhà đầu tư trong suốt vòng đời dự án. Tuy nhiên, hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể của các Bộ, ngành về tiêu chí quản lý đầu ra, suất đầu tư và vận hành công trình dự án. 
    k) Quy định về chế tài xử lý vi phạm
    Quá trình triển khai các dự án PPP cho thấy nhiều nhà đầu tư không tuân thủ các cam kết trong hợp đồng dự án như cam kết về tiến độ góp vốn chủ sở hữu hoặc xảy ra tình trạng chuyển nhượng dự án giữa các nhà đầu tư ngay từ sau khi có kết quả lựa chọn nhà đầu tư. Điều này dẫn đến việc triển khai dự án bị chậm trễ, tăng chi phí dự án. Tuy nhiên, quy định về chế tài xử lý vi phạm được cụ thể./.
     
    PHỤ LỤC 01:
    Quy định pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công tư
    (Kèm theo Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện quy định pháp luật về đầu tư
    theo hình thức đối tác công tư)

    Số văn bản    Ngày ban hành    Cơ quan
    ban hành    Nội dung
    Giai đoạn 1997 - 2014
    Nghị định 77/CP    18/6/1997    Chính phủ    Quy chế đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT
    Nghị định 62/CP    15/8/1998    Chính phủ    Quy chế đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT
    Nghị định số 78/2007/NĐ-CP    11/5/2007    Chính phủ    Đầu tư theo hình thức Hợp đồng BOT, BTO, BT
    Nghị định số
    108/2009/NĐ-CP
    (thay thế 78/CP)    27/11/2009    Chính phủ    Đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT
    Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg    9/11/2010    Thủ tướng
    Chính phủ    Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công – tư
    Nghị định số 24/2011/NĐ-CP    05/4/2011    Chính phủ    Nghị định sửa đổi một số điều của Nghị định số 108/2009/NĐ-CP
    Thông tư số 03/2011/TT-BKHĐT    27/01/2011    Bộ Kế hoạch và Đầu tư    Hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 108/2009/NĐ-CP
    Thông tư số 166/2011/TT-BTC    27/11/2011    Bộ Tài chính    Quy định về quản lý, sử dụng chi phí chuẩn bị dự án và kinh phí hoạt động của CQNNCTQ trong quá trình quản lý các dự án; một số chỉ tiêu tài chính của hợp đồng dự án; điều kiện và phương thức thanh toán cho nhà đầu tư
    Giai đoạn từ 2015 đến nay
    Nghị định số 15/2015/NĐ-CP    14/02/2015    Chính phủ    Nghị định về đầu tư theo hình thức đối tác công tư
    Nghị định số 30/2015/NĐ-CP    17/3/2015    Chính phủ    Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư
    Quyết định số 23/2015/QĐ-TTg    26/6/2015    Thủ tướng Chính phủ    Quy định cơ chế Nhà nước thanh toán bằng quỹ đất cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án BT
    Thông tư 23/2015/TT-BCT    13/7/2015    Bộ Công Thương    Quy định trình tự, thủ tục đầu tư dự án nhà máy nhiệt điện theo hình thức hợp đồng BOT
    Thông tư số 38/2015/TT-BCT    30/10/2015    Bộ Công Thương    Quy định chi tiết một số nội dung về đầu tư theo hình thức PPP thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương
    Thông tư số 183/2015/TT-BTC     17/11/2015    Bộ Tài chính    Hướng dẫn thực hiện thanh toán bằng quỹ đất cho nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư Xây dựng – Chuyển giao quy định tại Quyết định số 23/2015/QĐ-TTg ngày 26/6/2015
    Thông tư số 86/2015/TT-BGTVT
        31/12/2015    Bộ Giao thông vận tải    Hướng dẫn về lĩnh vực đầu tư và nội dung báo cáo nghiên cứu khả thi dự án PPP trong lĩnh vực GTVT
    Thông tư số 02/2016/TT-BKHĐT    01/3/2016    Bộ Kế hoạch và Đầu tư    Hướng dẫn lựa chọn sơ bộ dự án, lập, thẩm định, phê duyệt đề xuất dự án và báo cáo nghiên cứu khả thi dự án PPP
    Thông tư số 55/2016/TT-BTC    22/3/2016    Bộ Tài chính    Hướng dẫn một số nội dung về quản lý tài chính dự án PPP và chi phí lựa chọn nhà đầu tư;
    Thông tư số 06/2016/TT-BKHĐT    28/6/2016    Bộ Kế hoạch và Đầu  tư    Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 15/2015/NĐ-CP
    Thông tư số 75/2017/TT-BTC    21/7/2017    Bộ Tài chính    Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 55/2016/TT-BTC
    Thông tư số 06/2016/TT-BKHĐT    28/6/2016    Bộ Kế hoạch và Đầu tư    Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 15/2015/NĐ-CP
    Thông tư số 21/2016/TT-BTTTT    30/9/2016    Bộ Thông tin và Truyền thông    Quy định chi tiết một số nội dung về đầu tư theo hình thức đối tác công tư thuộc phạm vi quản lý của Bộ Thông tin và Truyền thông
    Thông tư số 14/2017/TT-BNNPTNT    05/7/2017    Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn    Hướng dẫn thực hiện một số nội dung về đầu tư theo hình thức đối tác công tư trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
    Thông tư số 75/2017/TT-BTC    21/7/2017    Bộ Tài chính    Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 55/2016/TT-BTC
     

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com