Thứ ba, ngày 22/01/2019login
  • Báo cáo tổng kết thi hành Luật giám định tư pháp 2012Góp ý

    Cơ quan ban hành: Bộ Tư pháp

    Mô tả: Tài liệu kèm theo Dự thảo Đề cương Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giám định tư pháp được đăng tải lấy ý kiến nhân dân trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp

  • Luật giám định tư pháp số 13/2012/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/6/2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.
    Triển khai nhiệm vụ soạn thảo Luật sửa đổi, bổ sung giám định tư pháp, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương tiến hành tổng kết đánh giá tình hình 5 năm (2013 - 2018) thực hiện Luật giám định tư pháp. Từ thực tiễn công tác quản lý nhà nước về giám định tư pháp và trên cơ sở Báo cáo tổng kết của 12 Bộ, cơ quan ngang Bộ,56 Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương , Bộ Tư pháp tổng kết, đánh giá thi hành Luật giám định tư pháp với các nội dung cơ bản như sau:
    I. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI, THI HÀNH LUẬT GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP
    1. Kết quả đạt được
    1.1. Về triển khai thực hiện Luật
    1.1.1. Về ban hành kế hoạch triển khai thi hành Luật
    Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của công tác triển khai thi hành Luật giám định tư pháp, đưa Luật vào cuộc sống là việc làm thường xuyên, liên tục, bám sát các nhiệm vụ được Chính phủ giao nên ngay sau khi được Quốc hội thông qua Luật giám định tư pháp, Bộ Tư pháp đã chủ động tham mưu, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1549/QĐ-TTg ngày 16/10/2012 phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Luật giám định tư pháp.
    Kế hoạch triển khai thi hành Luật giám định tư pháp bao gồm tổng thể các biện pháp, nhiệm vụ cụ thể nhằm bảo đảm triển khai thi hành Luật trong cuộc sống, gắn với phân công, giao nhiệm vụ cụ thể, trách nhiệm tổ chức thực hiện của từng Bộ, ngành và địa phương, cụ thể như sau: (1) Tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật giám định tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức và nhân dân về vị trí, vai trò của hoạt động giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng cũng như trong cải cách tư pháp; (2) Tổ chức rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật, thống kê các văn bản cầnđược sửađổi, thay thế hoặc bãi bỏđể phù hợp với quy định của Luật giám định tư pháp; (3) Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành Luật giám định tư pháp; (4) Xây dựng và tổ chức thực hiện các Đề án bảo đảm triển khai thi hành Luật giám định tư pháp; (5)Rà soát, lập và công bố danh sách đội ngũ giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc và tổ chức chuyên môn ở các lĩnh vực giám định tài chính, ngân hàng, xây dựng, văn hóa, thông tin và truyền thông, khoa học và công nghệ, kế hoạch và đầu tư, và các lĩnh vực giám định khác; (6)Chuẩn bị các nguồn lực (về tổ chức, bộ máy, nhân lực, vật lực) cho việc bảo đảm triển khai thực hiện nhiệm vụ được phân công của các Bộ, ngành và địa phương; (7) Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ giám định tư pháp và kiến thức pháp lý cho người giám định tư pháp; bồi dưỡng, tập huấn kiến thức về giám định tư pháp cho người tiến hành tố tụng.
    Trên cơ sở Kế hoạch triển khai thi hành Luật giám định tư pháp của Thủ tướng Chính phủ, đã có 03 Bộ ,hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành Kế hoạch triển khai Luật giám định tư pháp .
    Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao tổ chức rà soát, lập danh mục các văn bản về tố tụng cần sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ để phù hợp với Luật giám định tư pháp; ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng các quy định của Luật giám định tư pháp về trưng cầu, yêu cầu giám định và đánh giá, sử dụng kết luận giám định tư pháp; văn bản hướng dẫn thống kê về trưng cầu, yêu cầu giám định, đánh giá chất lượng hoạt động giám định và sử dụng kết luận giám định trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử theo thẩm quyền .
    1.1.2. Rà soát văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp với Luật giám định tư pháp  
    Là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giám định tư pháp, Bộ Tư pháp đã có văn bản đề nghị các Bộ, cơ quan ngang Bộ và và một số Bộ, ngành có liên quan rà soát các quy định về giám định tư pháp và có liên quan của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự và Luật tố tụng hành chính và kiến nghị sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự và Luật tố tụng hành chính. Hiện nay các quy định có liên quan đến giám định tư pháp tại các Bộ luật, luật nêu trên và Luật giám định tư phápđã có sự thống nhất, liên thông, đồng bộ với nhau, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động giám định tư pháp và hoạt động tố tụng.
    1.1.3. Xây dựng, ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật giám định tư pháp
    Thực hiện nhiệm vụ được giao triển khai, thi hành Luật giám định tư pháp, trong thời gian qua, các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã tích cực, tập trung vào việc xây dựng văn bản hướng dẫn thực hiện Luật giám định tư phápở lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý để trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền. Tính đến nay, các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật giám định tư pháp lên tới 40 văn bản (của Chính phủ và các Bộ, ngành ban hành), cụ thể gồm: 02 Nghị định của Chính phủ, 01 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 07 Thông tư của Bộ Tài chính, 05 Thông tư của Bộ Công an, 07 Thông tư của Bộ Y tế; 02 Thông tư của Bộ Thông tin và Truyền thông, 02 Thông tư của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 02 Thông tư của Bộ Tài nguyên và Môi trường, 02 Thông tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; các Bộ: Giao thông vận tải, Xây dựng, Khoa học và Công nghệ, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, mỗi cơ quan ban hành 01 Thông tư; Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành 01 Quyết định, 01 Thông tư liên tịch giữa Viện kiểm sát tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tư pháp, 01 Quy chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát tối cao, Tòa án nhân dân tối cao . Các văn bản pháp luật nêu trên đã hướng dẫn cụ thể về: Tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục bổ nhiệm giám định viên, lập danh sách tổ chức, người giám định tư pháp theo vụ việc ở các lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, xây dựng, tài chính, ngân hàng, văn hóa, thông tin và truyền thông, tài nguyên và môi trường, giao thông vận tải, khoa học và công nghệ; về phí/chi phí giám định tư pháp và chế độ, chính sách đối với người làm giám định tư pháp (chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp; phụ cấp trách nhiệm giám định...), quy trình giám định chuẩn (lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự)... tạo điều kiện cho tổ chức, hoạt động và quản lý nhà nước về giám định tư pháp ở nhiều lĩnh vực.
    Một số địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh đã thực sự quan tâm, chủ động tham mưu, trình Hội đồng nhân dân ban hành Nghị quyết về chế độ, chính sách thu hút chuyên gia, tổ chức có năng lực tham gia hoạt động giám định tư pháp, trên cơ sở đó ban hành quy định về chế độ, chính sách thu hút người làm giám định tại địa phương mình , qua đó tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác giám định.
    1.1.4. Công tác tuyên truyền, phổ biến về Luật giám định tư pháp
    Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật giám định tư pháp và tổ chức 02 Hội nghị triển khai thi hành Luật giám định tư pháp và thực hiện tuyên truyền, phổ biến các nội dung củaLuật bằng nhiều hình thức như biên soạn, phát hành sách, phối hợp với các cơ quan báo chí tổ chức thực hiện các chuyên mục, chương trình, tin, bài phổ biến nội dung của Luật.
    Một số Bộ và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật giám định tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành bằng nhiều hình thức như biện soạn, cấp phát miễn phí tài liệu phổ biến các quy định về giám định tư pháp ở địa phương, đăng tải văn bản về giám định tư pháp trên cổng thông tin điện tử của Bộ và tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tổ chức tập huấn cho đại diện các Sở, ban, ngành chuyên môn, tổ chức giám định tư pháp và cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương.
    1.2. Tổ chức, hoạt động, quản lý giám định tư pháp
    1.2.1. Về củng cố, kiện toàn tổ chức giám định tư pháp công lập
    Hệ thống tổ chức giám định tưpháp công lập, hoạt động giám định chuyên trách trong 03 lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự đã được củng cố, hoàn thiện một bước rất quan trọng, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động giám định được các Bộ chủ quản lĩnh vực giám định quan tâm đầu tư bảo đảm điều kiện hoạt động của các tổ chức giám định tư pháp thuộc thẩm quyền quản lý, cụ thể như sau:
    - Viện Pháp y quốc gia được củng cố, kiện toàn nhân sự lãnh đạo, thành lập Phân viện tại thành phố Hồ Chí Minh, Viện pháp y Quân đội được kiện toàn biên chế theo Biểu biên chế tổ chức quân số năm 2013;lực lượng pháp y công an nhân dân bổ sung, tăng cường mạnh . Trung tâm pháp y cấp tỉnh được củng cố, kiện toàn, từ khi có Luật đã thành lập thêm được 29 Trung tâm pháp y cấp tỉnh, nâng tổng số lên 62 Trung tâm pháp y trong cả nước , chỉ còn 01 tỉnh chưa thành lập Trung tâm pháp y theo quy định của Luật giám định tư pháp. Lực lượng giám định viên pháp y của ngành y tế cũng được củng cố, tăng cường .
    - Hệ thống tổ chức pháp y tâm thần được tổ chức lại theo hướng tập trung, hiệu quả, phù hợp với thực tiễn yêu cầu của hoạt động tố tụng, theo đó ngoài Viện pháp y tâm thần Trung ương đã được thành lập từ trước, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa (Quyết định số 1836/QĐ-TTg ngày 29/10/2015), Bộ trưởng Bộ Y tế đã quyết định thành lập 05 Trung tâm pháp y tâm thần khu vực đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ, tỉnh Đắk Lăk, tỉnh Thừa Thiên Huế và tỉnh Phú Thọ.
    - Hệ thống tổ chức giám định kỹ thuật hình sự được Bộ Công an củng cố, trong đó Viện Khoa học hình sự được kiện toàn lãnh đạo, bổ sung biên chế, cải tiến mô hình tổ chức, tiếp nhận phòng kỹ thuật phòng chống tội phạm, thành lập Phòng giám định kỹ thuật số và điện tử, thành lập Phân viện tại Đà Nẵng, triển khai Đề án thành lập Trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ kỹ thuật hình sự và pháp y thuộc Viện Khoa học hình sự; tăng cường nguồn đào tạo, biên chế cho lực lượng kỹ thuật hình sựvà 63Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an cấp tỉnh.
    Phòng giám định kỹ thuật hình sự thuộc Bộ Quốc phòng được quan tâm kiện toàn Lãnh đạo, bổ sung biên chế quân số đảm bảo đáp ứng yêu cầu giám định của hoạt động điều tra hình sự trong quân đội, đồng thời đáp ứng yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng ngoài quân đội trong trường hợp cần thiết.
    1.2.2. Về củng cố, phát triển các tổ chức giám định vụ việc và Văn phòng giám định tư pháp
    - Các tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc ở các lĩnh vực tài chính, thuế, ngân hàng, xây dựng, Thông tin và Truyền thông… được các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quan tâm, có bước phát triển về số lượng và tăng cường hơn về chất lượng, cụ thể là đã lập và công bố 179 tổ chức tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định, lựa chọn, trưng cầu tổ chức giám định. Các Bộ, ngành chủ quản đã phân công đơn vị đầu mối về giám định, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan tiến hành tố tụng trong việc trưng cầu tổ chức giám định đáp ứng các yêu cầu giám định tư pháp phục vụ cho việc giải quyết các vụ án nói chung, án tham nhũng, kinh tế nói riêng.
    - Văn phòng giám định tư pháp là loại hình tổ chức giám định tư pháp mới theo mô hình xã hội hóa được thể chế hóa theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 do giám định viên tư pháp đủ điều kiện thành lập hoạt động trong 06 lĩnh vực: tài chính, xây dựng, ngân hàng, cổ vật, di vật và bản quyền tác giả. Hiện nay có 01 Văn phòng giám định Sài Gòn được Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cho phép thành lập theo Quyết định số 5152/QĐ-UBND ngày 20/9/2013.
    1.2.3. Về tăng cường cơ sở vật chất cho các tổ chức giám định tư pháp
    - Bộ Công an đã, đang triển khai một số dự án tiếp tục đầu tư trang thiết bị, phương tiện cho lực lượng kỹ thuật hình sự gồm: Dự án “Hiện đại hóa công tác kỹ thuật hình sự” cho giai đoạn từ 2016 đến 2020, Dự án “Đầu tư chiều sâu phòng thí nghiệm giám định hóa” và Dự án “Xây dựng tàng thư gen tội phạm quốc gia”. Từ đó, lực lượng kỹ thuật hình sự từ Trung ương đến địa phương đã được trang bị, tiếp cận với nhiều hệ thống thiết bị tiên tiến, hiện đại được sản xuất từ Mỹ, Nhật, Úc, CHLB Đức, Ý, Hàn Quốc... thay thế những thiết bị cũ được viện trợ từ các nước XHCN trước đây hoặc trang bị mới.
    - Bộ Quốc phòng đã đầu tư xây dựng trụ sở Viện pháp y Quân đội, Phòng giám định kỹ thuật hình sự tại vị trí đóng quân mới, đầu tư mua sắm mới các trang thiết bị phục vụ công tác giám định kỹ thuật hình sự. Ngoài ra, Viện pháp y Quân đội còn được đầu tư theo Dự án “Nâng cấp cơ sở giám định gen phục vụ công tác xác định hài cốt liệt sỹ”.
     - Bộ Y tế đã phê duyệt Dự án xây dựng cơ sở Viện Pháp y quốc gia, năm 2016 đã ghi vốn 30 tỷ đồng phục vụ việc thực hiện Dự án; triển khai xây dựng phòng xét nghiệm ADN cho Viện Pháp y quốc gia và thực hiện dự án bổ sung cho Khoa hoá pháp I, dự án trang thiết bị cho Khoa hóa pháp II. Viện Pháp y tâm thần Trung ương và Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa đã được tăng cường, đầu tư nâng cấp trụ sở, trang thiết bị. Hàng năm ngoài kinh phí thường xuyên bảo đảm hoạt động, trung bình Bộ Y tế cấp 60 tỷ đồng cho các tổ chức giám định tư pháp trực thuộc để sửa chữa, nâng cấp trụ sở, mua sắm trang thiết bị giám định .
    - Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng, tỉnh Kiên Giang, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Bình Thuận và một số tỉnh, thành phố khác đã đầu tư xây dựng trụ sở và bổ sung, hỗ trợ kinh phí mua sắm các trang thiết bị giám định giá trị nhiều tỷ đồng bảo đảm điều kiện hoạt động của Trung tâm pháp y, Phòng kỹ thuật hình sự tại địa phương
    1.2.4. Củng cố, phát triển đội ngũ người giám định tư pháp
    Hiện nay, tổng số giám định viên tư pháp trong toàn quốc ở các lĩnh vực là 6.154 người ; số người giám định tư pháp theo vụ việc được lựa chọn, công bố là 1.630 người  trong các lĩnh vực xây dựng, tài chính, ngân hàng, tài nguyên môi trường, giao thông vận tải...
    Đội ngũ giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc có sự phát triển ngày càng nhanh cả về số lượng và chất lượng. Tất cả giám định viên tư pháp được bổ nhiệm đều có trình độ đại học trở lên, đối với giám định viên pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự phải có chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ giám định trước khi được bổ nhiệm, nhiều giám định viên tư pháp có trình độ sau đại học.
    Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức pháp luật cho đội ngũ người giám định tư pháp được nhiều Bộ, ngành và địa phương quan tâm thực hiện tốt như Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Vĩnh Phúc, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch...
    1.3. Về hoạt động giám định tư pháp
    Hoạt động giám định tư pháp chủ yếu được thực hiện theo trưng cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng. Theo báo cáo của các Bộ, ngành và địa phương, hoạt động giám định tư pháp chủ yếu là được thực hiện theo trưng cầu của cơ quan điều tra trong Công an nhân dân và Quân đội nhân dân, còn lại là trưng cầu giám định của các cấp tòa án, cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao .
    Lĩnh vực giám định được trưng cầu chủ yếu là pháp y , pháp y tâm thần  và kỹ thuật hình sự  (90%), các lĩnh vực giám định về: xây dựng , tài chính , ngân hàng , thông tin và truyền thông , kế hoạch và đầu tư ... có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây, lĩnh vực khoa học và công nghệ , văn hóa , nông nghiệp và phát triển nông thôn , công thương ... cũng có nhưng thấp; nhu cầu giám định trong giao dịch dân sự do đương sự tự yêu cầu giám định chưa phổ biến, phát sinh chủ yếu ở lĩnh vực pháp y tâm thần, chuyên ngành dấu vết tài liệu trong kỹ thuật hình sự, xây dựng...
    Việc trưng cầu giám định được cơ quan tiến hành tố tụng các cấp thực hiện theo mẫu thống nhất của liên ngành tố tụng cấp Trung ương và ngày càng đi vào nề nếp. Việc tiếp nhận trưng cầu, yêu cầu giám định được các tổ chức, cơ quan giám định thực hiện nhanh gọn, nhất là đối với lĩnh vực có tổ chức chuyên trách như pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự, hầu hết là đáp ứng kịp thời yêu cầu; việc tiếp nhận và thực hiện giám trong những lĩnh vực không có tổ chức chuyên trách cũng từng bước được các Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ quản và các Sở, ngành chuyên môn quan tâm tiếp nhận, thực hiện và cũng có nhiều thay đổi, cơ bản đáp ứng yêu cầu của hoạt động tố tụng nói chung như xây dựng, thông tin và truyền thông, văn hóa... Tuy nhiên, đối với một số vụ việc giám định trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, đất đai... phục vụ giải quyết án tham nhũng, kinh tế còn hạn chế, gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, thời hạn thực hiện giám định 1 số vụ việc bị kéo dài.
    1.4. Về chi phí giám định tư pháp
    Về chi phí giám định tư pháp, trước khi có Luật giám định tư pháp, ngày 28/3/2012, Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIII thông qua Pháp lệnh chi phí giám định, định giá; chi phí người làm chứng, người phiên dịch trong hoạt động tố tụng. Tiếp đó, ngày 14/8/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 81/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về chi phí giám định, định giá; chi phí người làm chứng, người phiên dịch trong hoạt động tố tụng. Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 215/2015/TT-BTC ngày 31/12/2015hướng dẫn về lập dự toán, chấp hành và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động trưng cầu giám định, định giá, triệu tập người làm chứng, người phiên dịch của cơ quan tiến hành tố tụng.
    1.5.Về chế độ đãi ngộ đối với tổ chức, người giám định tư pháp
    - Đời sống vật chất, tinh thần đối của đội ngũ giám định viên tư pháp được Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương quan tâm, chăm lo chuyển biến nhiều so với trước đây. Hiện nay, giám định viên tư pháp trong 03 lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự được hưởng phụ cấp hệ số 0,3/mức lương cơ sở/tháng, theo quy định tại Thông tư số 02/2009/TT-BTP ngày 17/9/2009 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp; giám định viên pháp y, pháp y tâm thần được hưởng chế độ ưu đãi nghề đối với công chức, viên chức công tác tại các cơ sở y tế công lập theo quy định của Nghị định số 56/2011/NĐ-CP ngày 4/7/2011 của Chính phủ. Khi thực hiện giám định, người giám định được hưởng tiền bồi dưỡng giám định tư pháp theo quy định tại Quyết định số 01/QĐ-TTg ngày 01/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ với mức tăng trung bình gấp từ 02 đến 2,5 lần so với quy định tại Quyết định số 74/2009/QĐ-TTg ngày 7/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡnggiám định tư pháp.
    - Thực hiện quy định tại Điều 38 của Luật giám định tư pháp, Chính phủ đã ban hành Nghị định59/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2014sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường theo hướng bổ sung thêm lĩnh vực giám định tư pháp;
    Ngoài ra, Bộ Công an có chính sách hỗ trợ cán bộ làm công tác pháp y trong lực lượng Công an nhân dân được kéo dài thời gian công tác, hưởng trợ cấp tiền lương, tiêu chuẩn nghỉ dưỡng và phụ cấp độc hại; một số tỉnh, thành phố như: thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Nghệ An, Lâm Đồng, Bình Định, Bình Dương, Tiền Giang, Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Vĩnh Phúc... đã có chính sách hỗ trợ tài chính, thu hút cho người làm giám định tư pháp thuộc thẩm quyền quản lý. Đây là những “điểm sáng” về sự quan tâm, chủ động trong chính sách hỗ trợ người làm giám định tư pháp.
    1.6. Về quản lý nhà nước và trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với công tác giám định tư pháp
    Triển khai thực hiện Luật giám định tư pháp, nhiều Bộ, cơ quan ngang Bộ đã quan tâm hơn đến việc triển khai Luật như Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Xây dựng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giao thông vận tải v.v, trong đó tập trung xây dựngnhiều văn bản hướng dẫn thi hành Luật; các Bộ, cơ quan ngang Bộ ở Trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã thực hiện nhiều giải pháp để củng cố, kiện toàn tổ chức giám định tư pháp; nâng cao số lượng, chất lượng đội ngũ người giám định tư pháp; tăng cường công tác kiểm tra, thanh trahoạt động giám định tư pháp; liên ngành tố tụng cấp Trung ương và Bộ Tư pháp đã ban hành Quy chế phối hợp liên ngành về giám định tư pháp; ở địa phương, nhiều UBND cấp tỉnh cũng đã ban hành Quy chế phối hợp giữa các Sở, ban, ngành liên quan đến giám định tư pháp. Do đó, tổ chức và hoạt động giám định tư pháp đã đạt được những kết quả đáng kể, phục vụ tốt hơn cho hoạt động tố tụng nói chung, giải quyết án tham nhũng, kinh tế nói riêng. Có thể nói, công tác quản lý nhà nước về giám định tư pháp có bước đổi mới quan trọng với việc “phân định” thẩm quyền, trách nhiệm, sự “cộng đồng trách nhiệm” giữa cơ quan đầu mối quản lý nhà nước với các Bộ, ngành quản lý lĩnh vực giám định, các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan, tổ chức liên quan tạo sự “tương tác” trong việc giải quyết khó khăn, vướng mắc của hoạt động giám định góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.
    Bộ Tư pháp với vai trò là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý về giám định tư pháp đã tích cực, hoàn thành việc xây dựng, ban hành các văn bản về giám định tư pháp; ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc các Bộ, ngành và địa phương triển khai, thực hiện Đề án, Luật giám định tư pháp;chủ động phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Công an tổ chức 4 Hội nghị giải quyết cơ bản tình trạng nợ đọng tiền bồi dưỡng giám định tư pháp; ban hành Chương trình khung về bồi dưỡng kiến thức pháp lý cho người giám định tư pháp (Quyết định số 966/QĐ-BTP ngày 25/5/2015); ban hành tài liệu bồi dưỡng kiến thức pháp lý cho người giám định tư pháp làm cơ sở để các Bộ, ngành, địa phương tổ chức bồi dưỡng phù hợp với đối tượng thuộc thẩm quyền quản lý; đồng thời nghiên cứu và tham mưu, đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền về công tác giám định tư pháp nói chung, những khó khăn, vướng mắc về giám định tư pháp trong giải quyết án tham nhũng, kinh tế nói riêng; thường xuyên tổ chức họp liên ngành với các Bộ, ngành, cơ quan có liên quan nhằm tăng cường thông tin về giám định tư pháp; chủ động hoặc phối hợp với Bộ, ngành (Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam...) tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp lý, chuyên môn, nghiệp vụ giám định cho giám định viên tư pháp  và chủ động, tích cực trong việc chủ trì, phối hợp với cơ quan liên quan xây dựng một số quy chế phối hợp giữa Bộ và các cơ quan tiến hành tố tụng cấp Trung ương nhằm tạo cơ chế thực hiện đồng bộ công tác giám định tư pháp.
    1.6. Đánh giá chung
    - Công tác triển khai tổ chức thi hành Luật giám định tư pháp đã được tiến hành kịp thời từ trung ương đến địa phương; các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành hệ thống tương đối đồng bộ, hoàn chỉnh các văn bản quy định chi tiết và các văn bản chỉ đạo, đôn đốc thi hành Luật giám định tư pháp.
    - Luật giám định tư pháp đã đi vào đời sống xã hội, tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành ở Trung ương và địa phương về ý nghĩa, vai trò của công tác giám định tư pháp, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống các quy định về giám định tư phápở các lĩnh vực, tiếp tục hoàn thiện thiết chế tổ chức, cơ chế hoạt động và quản lý nhà nước về giám định tư pháp.Công tác giám định tư pháp có những bước chuyển biến tích cực, ngày càng nề nếp, hiệu quả, phục vụ tốt hơn cho hoạt động tố tụng.
    - Về cơ bản, nhiều bộ, ngành, địa phương đã tuân thủ và thực hiện tương đối nghiêm quy định của Luật giám định tư pháp trong việc củng cố, hoàn thiện tổ chức, đội ngũ người giám định tư pháp, hoạt động giám định tư pháp và quản lý nhà nước về giám định tư pháp.
    2. Một số tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện Luật giám định tư pháp
    2.1. Về ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Luật
    Mặc dù đã có rất nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện Luật giám định tư pháp được ban hành (trên 40 văn bản từ Nghị định đến Thông tư, Thông tư liên tịch) nhưng vẫn còn chưa đầy đủ, chất lượng một số văn bản hướng dẫn thực hiện cũng còn hạn chế như chưa rõ ràng, cụ thể nên khó thực hiện. Đặc biệt là sau hơn 05 năm thi hành, đến nay, còn một số văn bản chưa được một số Bộ, ngành ban hành như: (1) Quy trình giám định chuẩn ở một số lĩnh vực ; (2) Hướng dẫn về định mức chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí giám định ở tất cả các lĩnh vực đang khiến cho hoạt động giám định tư pháp còn có khoảng trống quy định cụ thể để thực thi trên thực tế về chi phí giám định từ ngày 01/01/2017 đến nay; (3) Hướng dẫn của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp Trung ương về căn cứ, cách thức đánh giá, sử dụng kết luận giám định trong các vụ án; (4) Quy định cụ thể chỉ tiêu thống kê về giám định tư pháp trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính ; (5) Sửa đổi quy định về bảo đảm nguồn kinh phí cho trưng cầu giám định của các cơ quan tiến hành tố tụng, nhất là hệ thống cơ quan điều tra; (6) Hướng dẫn về cung cấp dịch vụ giám định của các tổ chức giám định tư pháp công lập ; (7) Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về giám định tư pháp cho đội ngũ người tiến hành tố tụng chưa được thực hiện thường xuyên.
    Những vướng mắc trên chủ yếu xuất phát từ khâu tổ chức thực hiện vì các Bộ, ngành, cơ quan chức năng đã được giao nhiệm vụ cụ thể ngay trong Luật giám định tư pháp, trong các Đề án, trong Nghị định hướng dẫn Luật hoặc trong Kế hoạch triển khai thực hiện Luật mà Chính phủ đã giao.  
    2.2. Về tổ chức giám định tư pháp công lập
    Theo quy định tại Điều 12 của Luật giám định tư pháp thì tổ chức pháp y có ở cả ngành y tế, công an và quân đội, nhất là ở địa phương, vừa có Trung tâm pháp y - tổ chức giám định tư pháp công lập và cũng có giám định viên pháp y làm giám định pháp y tử thi ở Phòng Kỹ thuật hình sự Công an cấp tỉnh. Điều này dẫn đến có sự trùng lặp, chồng chéo nhất định về chức năng, nhiệm vụ giữa hai lực lượng này;ở một số địa phương chưa có sự phối hợp tốt, chưa cân đối trong việc tiếp nhận trưng cầu, thực hiện giám định pháp y giữa hai lực lượng pháp y y tế và công an. Để khắc phục tình trạng này, từ năm 2015, Bộ Y tế đã chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Tư pháp nghiên cứu, xây dựng dự thảo văn bản (trước là dự thảo Thông tư liên tịch, sau này là dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ) quy định cơ chế phối hợp giữa hai lực lượng pháp y ở địa phương để trình Thủ tướng Chính phủ nhưng đến nay vẫn chưa được ban hành.
    Một số lĩnh vực có nhu cầu giám định ngày càng cao như tài chính, ngân hàng... nhưng không có tổ chức giám định đầu mối chuyên trách dẫn đến việc trưng cầu gặp khó khăn.
    2.3. Về phạm vi lĩnh vực cho phép thành lập Văn phòng giám định tư pháp
    Điều 14 của Luật giám định tư pháp quy định cho phép thành lập Văn phòng giám định tư pháp ở lĩnh vực tài chính, xây dựng, ngân hàng và 3 chuyên ngành của lĩnh vực văn hóa là cổ vật, di vật, bản quyền tác giả. Tuy nhiên, đến nay cả nước chỉ mới có 01 Văn phòng giám định tư pháp Sài Gòn được thành lập ở lĩnh vực tài chính tại Thành phố Hồ Chí Minh nhưng hoạt động cũng rất cầm chừng, hạn chế. Đặc biệt, những lĩnh vực được phép thành lập Văn phòng giám định tư pháp nêu trên có tăng về số lượng trưng cầu giám định nhưng chưa lớn, chưa thường xuyên, chỉ tập trung ở một số thành phố như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội nên không đủ việc cho Văn phòng giám định hoạt động theo trưng cầu của cơ quan tố tụng dẫn đến không phát triển được Văn phòng giám định ngoài công lập; còn lĩnh vực mà xã hội thực sự có nhu cầu lớn, thường xuyên, cần cho phép thành lập Văn phòng giám định tư pháp như giám định tài liệu, AND, số khung, số máy… thì lại không được thành lập. Nhiều địa phương cho rằng phạm vi xã hội hóa các Văn phòng giám định như vậy là hẹp, cần có sự thay đổi, điều chỉnh.
    2.4. Về đội ngũ người làm giám định tư pháp
    - Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định tư pháp; lập và đăng tải danh sách người giám định tư pháp của các Bộ, ngành chủ quản, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có chuyển biến nhiều so với trước đây nhưng vẫn chưa kịp thời, danh sách đội ngũ người làm giám định tư pháp được lập nhiều khi không sát với thực tế, chưa thực sự bảo đảm chất lượng, chưa sát vào nhu cầu của hoạt động tố tụng cũng có phần nguyên nhân vì thiếu thông tin, số liệu cụ thể từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng.
    - Phần lớn đội ngũ người làm giám định tư pháp tại một số lĩnh vựcngoài các lĩnh vực có tổ chức giám định tư pháp chuyên trách chưa được các Bộ, ngành chủ quản đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu, chủ yếu dựa vào kiến thức chuyên môn thuần túy để thực hiện giám định, nên còn lúng lúng, khó khăn khi thực hiện giám định. Các giám định viên kiêm nhiệm thì chủ yếu làm công tác chuyên môn, không đủ thời gian và điều kiện tập trung vào công tác giám định, có tâm lý e ngại, không muốn làm giám định vì trách nhiệm pháp lý rất cao, trong khi các điều kiện để thực hiện giám định chưa bảo đảm.
    2.5. Về hoạt động giám định tư pháp
    2.5.1. Về trưng cầu giám định
    - Vẫn còn một số lĩnh vực giám định địa phương chưa có đủ điều kiện để giám định như xây dựng, sở hữu trí tuệ, tài chính, ma túy tổng hợp, vật liệu nổ... nên cơ quan tiến hành tố tụng phải trưng cầu tổ chức giám định ở cấp Trung ương, gây quá tải cho tổ chức đó và làm kéo dài thời gian làm giám định, ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án hoặc còn có vụ việc cơ quan trưng cầu yêu cầu người giám định xem xét, đánh giá, cho ý kiến cả về những vấn đề pháp lý của vụ án, vượt quá phạm vi chuyên môn giám định.
    -Có thực tế là các cơ quan điều tra chưa hướng đến trưng cầu các tổ chức chuyên môn có năng lực ở ngoài khu vực nhà nướcnên chưa bảo đảm sự cân đối trong trưng cầu giám định hoặc một số trường hợp cơ quan trưng cầu không cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu, thông tin cần thiết cho việc thực hiện giám định nên việc bổ sung hồ sơ làm kéo dài thời hạn thực hiện giám định.
    2.5.2. Về tiếp nhận trưng cầu, thực hiện giám định
    - Việc tiếp nhận trưng cầu giám định và tổ chứcthực hiện giám định ở một sốlĩnh vực như tài chính, ngân hàng...đang tập trung về cấp Trung ương và trải qua nhiều cấp hành chính nên thường chậm, không bảo đảm thời gian theo yêu cầu của cơ quan tố tụng;nhiều trường hợp việc giám định kéo dài ảnh hưởng đến thời hạn giải quyết, nhiều vụ án phải tạm đình chỉ nhiều lần để chờ kết quả giám định; một sốcơ quan, tổ chức được trưng cầu còn từ chối, đùn đẩy việc tiếp nhận trưng cầu giám định.
    - Việc thực hiện giám định ở một số lĩnh vực còn có những tồn tại, khó khăn, vướng mắc , nhất là những lĩnh vực chưa có hoặc thiếu quy trình giám định chuẩn…nên còn nhiều khó khăn, lúng túng trong việc lựa chọn phương pháp, cách thức tiến hành giám định, áp dụng các quy định về tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật của lĩnh vực chuyên môn.
    - Một số trường hợp, nội dung yêu cầu giám định là nghiệp vụ chuyên môn mới phát sinh, rất phức tạp, khối lượng công việc lớn , vượt quá khả năng của một nhóm hoặc của một tổ chức làm giám định, cần có sự phối hợp của nhiều cơ quan, ngành hoặc ý kiến chính thống của Bộ, ngành chủ quản nhưng chưa có cơ chế hữu hiệu để tổ chức thực hiện.
    - Điều kiện thực hiện giám định ở nhiều lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực giám định không có tổ chức chuyên trách như tài chính, ngân hàng, môi trường, giao thông, khoa học công nghệ... còn hạn chế, chưa thực sự được bảo đảm nên việc giám định bị chậm hoặc gặp nhiều khó khăn, có thể ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng giám định.
    - Chất lượng kết luận giám định trong một số trường hợp chưa thực sự bảo đảm, còn chung chung, không đầy đủ, rõ ràng những nội dung được yêu cầu; có sự khác nhau giữa các kết luận giám định về cùng một vấn đề được trưng cầu trong một số trường hợp, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng.
    - Trong quá trình xem xét, đánh giá kết luận giám định, người tiến hành tố tụng còn lúng túngtrong việc đánh giá, sử dụng kết luận giám định; có vụ việc, cơ quan thực hiện giám định, người giám định né tránh, từ chối tham dự phiên toà để trình bày, giải thích kết luận giám định hoặc nếu có tham dự thì cũng chỉ trả lời mang tính hình thức khiến cho cơ quan tiến hành tố tụng gặp khó khăn trong đánh giá, sử dụng kết luận giám định và giải quyết vụ án. 
    - Còn có tình trạng do không có sự thống nhất về nhận thức, quan điểm giữa các cơ quan tố tụng về việc cần hay không cần trưng cầu giám định hoặc đánh giá, sử dụng kết luận, phải trưng cầu giám định nhiều lần, kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
    2.6. Chi trả tiền bồi dưỡng giám định, chi phí giám định, chi phí định giá tài sản
    Về chi trả tiền bồi dưỡng giám định tư pháp, trong thời gian qua, tình trạng nợ đọng tiền bồi dưỡng giám định tư pháp đã được Bộ Tư pháp, Bộ Công an và các cơ quan có liên quan quan tâm giải quyết, có nhiều biến chuyển, cơ bản được khắc phục. Tuy nhiên, trừ lĩnh vực pháp y tâm thần, pháp y, còn giám định ở một số lĩnh vực khác như ngân hàng, tài chính vẫn còn có vụ việc chưa được chi trảkịp thời hoặc gặp khó khăn trong xác định, thống nhất về tổng chi phí cần thiết và hợp lý cho việc thực hiện giám định, đây cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cho Văn phòng giám định tư pháp Sài Gòn gặp khó khăn về cơ chế tài chính nên hoạt động bị hạn chế. Chi phí cần thiết chi trả cho người giám định tham dự phiên tòa còn chưa được một số cơ quan tố tụng quan tâm, gây khó khăn cho tổ chức, người giám định được triệu tập tham dự phiên tòa.
    2.7. Về quản lý nhà nước, trách nhiệm của cơ quan tố tụng
    Các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy nhân nhân dân cấp tỉnh là các cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về giám định tư pháp ở lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý và địa phương mình. Tuy nhiên, hiện nay, một số Bộ, ngành chủ quản, địa phương chưa thực sự quan tâm chăm lo đến tổ chức, hoạt động giám định tư pháp ở lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý; các cơ quan tiến hành tố tụng cấp Trung ương chưa quan tâm chỉ đạo thực hiện thống kê, dự báo nhu cầu giám định và đánh giá chất lượng hoạt động giám định trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử để cung cấp cho các cơ quan quản lý, việc phối hợp với các Bộ, ngành quản lý về giám định tư pháp cũng còn chừng mực. Do đó, việc thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước đang gặp rất nhiều khó khăn do thiếu thông tin, căn cứ thực tế cho việc chăm lo tổ chức, hoạt động giám định tư pháp và giải quyết các vướng mắc, khó khăn phát sinh.
    Đặc biệt, Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giám định tư pháp trong toàn quốc, Sở Tư pháp đầu mối giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về giám định tư pháp ở địa phương nhưng theo mô hình hiện nay thì chỉ làm đầu mối, kết nối thông tin màkhông quản lý nhân lực, vật lực và chuyên môn giám định nên hạn chế quyền năng về quản lý nhà nước.
    3. Nguyên nhânchủ yếu của những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc
    3.1.Nhận thức của một số Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan tiến hành tố tụng cấp Trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đặc biệt là của người đứng đầu chưa xác định đầy đủvềtầm quan trọng của công tác giám định tư pháp đối với hoạt động tố tụng cũng như trách nhiệm của cơ quan mình đối với công tác giám định tư pháp. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về giám định tư pháp ở nhiều Bộ, ngành, địa phương còn hình thức, hạn chế.
    3.2. Công tác tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao về giám định tư pháp ở một số Bộ, ngànhcòn nhiều tồn tại; việc chỉ đạo, triển khai thực hiện nhiệm vụthuộc thẩm quyền quản lý chưa được đề cao, còn chưa chủ động, thiếu kiểm tra, giám sát dẫn đến nhiều nhiệm vụ được giao vẫn chưa được thực hiện hoặc đã thực hiện nhưng chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đây là nguyên nhân chính khiến cho một số khó khăn, vướng mắc lâu năm trong hoạt động giám định chưa được khắc phục như vấn đề kinh phí bảo đảm chi trả chi phí giám định, quy trình giám định chuẩn trong một số lĩnh vực giám định, trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong việc thống kê, đánh giá, dự báo nhu cầu giám định để thông tin, phối hợp với các cơ quan quản lý...
    3.3. Một số quy định của Luật giám định tư pháp và các văn bản hướng dẫn chưa thực sự cụ thể, rõ ràng vàkhả thi, cụ thể như sau:
    - Phạm vi các lĩnh vực được phép thành lập Văn phòng giám định tư pháp; điều kiện thành lập Văn phòng giám định tư pháp không khả thi.
    - Quy định về hồ sơ bổ nhiệm giám định viên tư pháp, các trường hợp miễn nhiệm giám định viên tư pháp chưa phù hợp với thực tế.
    - Quy trình bổ nhiệm giám định viên tư pháp, lập danh sách, điều chỉnh danh sách tổ chức, người giám định tư pháp chưa bảo đảm căn cứ thực tế nhu cầu giám định của hoạt động tố tụng.
    - Thiếu quy định mang tính nguyên tắc phân cấp trong tiếp nhận trưng cầu và thực hiện giám định giữa cấp Trung ương và địa phương.
    II. ĐỀ XUẤT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP
    1. Bối cảnh và một số yêu cầu sửa đổi, bổ sung Luật giám định tư pháp
    Luật giám định tư pháp ra đời trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định của Pháp lệnh giám định tư pháp và các quy định có liên quan khác, đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc củng cố, kiện toàn tổ chức, đội ngũ người giám định tư pháp, hoàn thiện cơ chế hoạt động, quản lý giám định tư pháp trong cả nước nước. Sau 05 năm thi hành, một số quy định của Luật giám định tư pháp đã bộc lộ sự chưa phù hợp với tình hình hiện nay.Thời gian qua, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính đã được sửa đổi, bổ sung, trong đó có một số quy định về giám định tư pháp đã thay đổi, do vậy, có những quy định của Luật giám định tư pháp cần phải sửa đổi, bổ sung cho thống nhất. Đặc biệt trước yêu cầu đẩy mạnh cải cách tư pháp, cải cách hành chính, đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng thì một số vấn đề liên quan đến tổ chức, cơ chế hoạt động, quản lý giám định tư pháp cũng cần được xem xét, tính toán đến trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật giám định tư pháp có liên quan đến pháp luật tố tụng như vấn đề mở rộng phạm vi hoạt động giám định tư pháp cho phù hợp với tinh thần mở rộng dân chủ, tăng cường tranh tụng tại phiên tòa; mở rộng phạm vi cho phép thành lập Văn phòng giám định tư pháp ở một số lĩnh vực thực sự có nhu cầu lớn mà hiện nay đang do Nhà nước bảo đảm để giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, bảo đảm phù hợp với quy luật cung cầu của cơ chế thị trường liên quan đến phạm vi xã hội hóa theo Nghị quyết số 49-NQ/TW về cải cách tư pháp; chính sách ưu đãi, thu hút các tổ chức, nhà chuyên môn có năng lực tham gia hoạt động giám định tư pháp phù hợp với tính chất đặc thù của lĩnh vực giám định tư pháp có liên quan đến chính sách ưu đãi xã hội hóa và các đạo luật về thuế...   
    Từ những lý do nêu trên thì việc nghiên cứu, đề xuất để sửa đổi, bổ sung Luật giám định tư pháp là yêu cầu tất yếu và cần thiết. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, mặc dù nhiều vấn đề đã được Luật giám định tư pháp quy định nhưng chưa được một số bộ, ngành thực hiện một cách đầy đủ, chẳng hạn như việc ban hành hướng dẫn về quy chuẩn chuyên môn mà trong đó cần quy định rõ thời hạn giám định từng loại việc trong từng lĩnh vực giám định, hoặc về thống kê giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng cũng như chưa thực sự có giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám định ở một số lĩnh vực... Do vậy, việc rà soát kỹ các quy định của Luật giám định tư pháp để phân loại những quy định hợp lý và những quy định bất cập để xác định rõ nguyên nhân xuất phát từ quy định của Luật hay do công tác tổ chức thi hành hay do yêu cầu của tình hình mới đặt ra. Việc định hướng sửa đổi, bổ sung phải xuất phát từ những vấn đề bất cập rõ ràng từ quy định của Luật và yêu cầu thực tiễn đặt ra trong tình hình mới có nhiều thay đổi.
    2. Một số định hướng lớn sửa đổi, bổ sung Luật giám định tư pháp
    Trên cơ sở kiến nghị của các Bộ, ngành, địa phương từ thực tiễn triển khai, thi hành Luật giám định tư pháp, kết hợp với kết quả nghiên cứu trong quá trình thực hiện Luật, có thể nêu một số định hướng lớn sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giám định tư pháp, cụ thể như sau:
    2.1.Mở rộng phạm vi hoạt động giám định tư pháp thông qua việc sửa đổi, mở rộng quyền tự yêu cầu giám định của người tham gia tố tụng để bảo đảm điều kiện, phương tiện tìm kiếm chứng cứ phục vụ cho việc bảo vệ quyền và lợi ích của họ khi tham gia tố tụng theo tinh thần mở rộng dân chủ, tăng cường tranh tụng tại tòa.
    2.2.Bổ sung quy định mang tính nguyên tắc về thời hạn giám định, quy định trách nhiệm của các Bộ, ngành chuyên quản lĩnh vực giám định trong việc ấn định thời hạn giám định cụ thể đối với từng loại việc giám định trong quy trình giám định để bảo đảm tính đồng bộ, tương thích với quy định của pháp luật tố tụng, đặc biệt là khắc phục tình trạng chậm trễ trong tiếp nhận, thực hiện giám định trong thời gian qua, gây ảnh hưởng đến tiến độ xử lý các vụ án, vụ việc về tham nhũng, kinh tế.
    2.3. Bổ sung một số quy định về căn cứ, cách thức trưng cầu giám định, đánh giá, sử dụng kết luận của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như trách nhiệm của các cơ quan trưng cầu giám định để khắc phục những tồn tại hiện nay về giám định tư pháp mà nguyên nhân xuất phát từ chính các cơ quan tố tụng, nhất là tình trạng lạm dụng giám định tư pháp để gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố và xét xử theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng.
    2.4. Bổ sung quy định mang tính phân cấp trong tiếp nhận trưng cầu và thực hiện giám định ở cấp Trung ương và cấp tỉnh để khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh trong tiếp nhận và thực hiện giám định ở nhiều địa phương và Bộ, ngành chủ quản.  
        2.5.Mở rộng phạm vi xã hội hóa giám định tư pháp theo hướng cho phép thành lập Văn phòng giám định tư pháp ở một số lĩnh vực, chuyên ngành giám định thực sự có nhu cầu lớn, thường xuyên như giám định dấu vết tài liệu... để đáp ứng nhu cầu bức thiết của các đương sự trong các vụ án dân sự, hành chính và một số cơ quan nhà nước như thanh tra, kiểm toán, ngân hàng... nhằm phát huy mạnh mẽ các nguồn lực xã hội cho giám định tư pháp, bảo đảm đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu giám định tư pháp của hoạt động tố tụng trước yêu cầu đẩy mạnh cải cách tư pháp, giảm gánh nặng cho đầu tư của nhà nước
    Đây là vấn đề lớn, liên quan đến nội dung Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp. Để xử lý được vấn đề này trong dự án sửa đổi, bổ sung Luật giám định tư pháp thì Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp sẽ phải báo cáo Ban Cán sự Đảng Chính phủ để báo cáo Bộ Chính trị hoặc Ban Bí thư cho phép mở rộng phạm vi xã hội hóa giám định tư pháp theo hướng cho phép xã hội hóa ở các lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực, chuyên ngành giám định có nhu cầu lớn, thường xuyên nêu trên, thay vì chỉ lĩnh vực có nhu cầu giám định không lớn, không thường xuyên như hiện nay, để giải quyết vướng mắc về cơ sở chính trị cho việc sửa đổi, bổ sung Luật giám định tư pháp. Có như vậy việc xây dựng dự án sửa đổi, bổ sung Luật giám định tư pháp mới phù hợp với quy luật cung cầu trong cơ chế thị trường và thực sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn về vấn đề này.
    2.6. Sửa đổi quy định về cơ chế quản lý nhà nước, cụ thể như sau:
    Để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về giám định tư pháp thì cần giao nhiệm vụ quản lý cho trực tiếp cho các Bộ, ngành quản lý ở từng lĩnh vực giám định và các cơ quan này chịu trách nhiệm trước Chính phủ về bảo đảm (nguồn nhân lực và các điều kiện cần thiết khác phù hợp với đặc thù lĩnh vực chuyên môn của mình) đáp ứng tốt yêu cầu giám định của hoạt động tố tụng vì bản chất hoạt động giám định là hoạt động chuyên môn phục vụ cho tố tụng, không nên giao cho Bộ Tư pháp quản lý chung như hiện nay. Việc bỏ nhiệm vụ quản lý chung của Bộ Tư pháp rất phù hợp với tinh thần cải cách hành chính hiện nay, đặc biệt, phù hợp với nguyên tắc bảo đảm phát huy vai trò, tăng cường trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang Bộ trong việc giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lĩnh vực chuyên môn được giao, khắc phục tình trạng chồng chéo, cắt khúc, thiếu hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác giám định tư pháp.
    Mặt khác, trong thực tế Bộ Tư pháp không trực tiếp quản lý nhân lực, chuyên môn và kinh phí của hoạt động giám định tư pháp, chỉ là đầu mối, kết nối thông tin, đôn đốc các Bộ, ngành và địa phương; trong khi đó mỗi lĩnh vực giám định tư pháp đã có Bộ, cơ quan ngang Bộ là cơ quan quản lý trực tiếp lĩnh vực chuyên môn đó. Do đó, mặc dù đã cố gắng, song việc thực hiện quản lý chung của ngành tư pháp không thể có điều kiện sâu sát và rất khó khăn.
    Trên đây là báo cáo tổng kết 05 năm thi hành Luật giám định tư pháp và một số định hướng sửa đổi, bổ sung Luật giám định tư pháp trong thời gian tới./.
     

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com