Thứ ba, ngày 22/01/2019login
  • Tờ trình đề nghị xây dựng Luật Công tác xã hộiGóp ý

    Cơ quan ban hành: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

    Mô tả: Tài liệu kèm theo Dự thảo Luật được lấy ý kiến nhân dân trên Cổng thông tin của Chính phủ

  • Kính gửi:  Chính phủ

    Thực hiện nhiệm vụ của Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 488/2017/QĐ-TTg ngày 14/4/2017 phê duyệt Đề án “Đổi mới, phát triển trợ giúp xã hội giai đoạn 2017-2025 và tầm nhìn đến năm 2030”, thực hiện Luật Ban hành văn  bản quy phạm pháp luật năm 2015, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xin trình Chính phủ đề nghị xây dựng Luật Công tác xã hội (sau đây gọi chung là Luật) như sau:
    I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT
    1. Chủ trương, chính sách của Đảng đối với công tác xã hội (CTXH):  CTXH là một trong số các công cụ quan trọng để bảo đảm an sinh xã hội, công bằng xã hội. “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta” . Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật chăm lo đời sống các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, góp phần ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định: “Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội”, “chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người”, “Bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội…; phát triển hài hòa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, không ngừng nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh …”  “Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỉ lệ hộ nghèo; cải thiện điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân”.
    Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 cũng nhấn mạnh: “Nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội, tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng với hình thức hỗ trợ thích hợp; …Củng cố, nâng cấp hệ thống cơ sở trợ giúp xã hội, phát triển mô hình chăm sóc người có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào triển khai các mô hình chăm sóc người cao tuổi, trẻ em mồ côi, người khuyết tật, nhất là mô hình nhà dưỡng lão”. Thể chế quan điểm của Đảng, Hiến pháp năm 2013 khẳng định "Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội” (Điều 34); “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác" (Khoản 2 Điều 59)…
    2. Ảnh hưởng và các tác động kinh tế - xã hội đến CTXH:  Sau hơn ba mươi năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội: Chính trị - xã hội ổn định, kinh tế tăng trưởng khá, đời sống nhân dân được cải thiện, nâng cao, tuy nhiên, kinh tế, văn hoá và xã hội phát triển thiếu bền vững. Nhiều vấn đề bức xúc nảy sinh, nhất là các vấn đề xã hội, chưa được giải quyết có hiệu quả. Trên một số mặt, một số lĩnh vực, một bộ phận nhân dân chưa được thụ hưởng đầy đủ, công bằng thành quả của công cuộc đổi mới, kinh tế phát triển, tuy nhiên bất bình đẳng xã hội cũng có xu hướng tăng lên. Bất bình đẳng xã hội trở thành lực cản, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, lâu dài làm mất ổn định xã hội. Có thể nói, công bằng xã hội trở thành đòi hỏi tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội.
    Sự thay đổi cấu trúc gia đình truyền thống, sự di cư nông thôn ra thành thị, mật độ dân số tăng ở các vùng thành thị làm nảy sinh các vấn đề xã hội phức tạp, các tệ nạn xã hội, tình hình tội phạm gia tăng, trẻ em bị bỏ rơi, bị bóc lột lao động. CTXH hướng đến trợ giúp cho các cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng, đặc biệt là các đối tượng yếu thế như người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người già, nạn nhân của bạo hành và tệ nạn xã hội...phát triển khả năng và sử dụng các nguồn lực riêng của họ và của cộng đồng, xã hội để giải quyết vấn đề khó khăn của mình. CTXH cũng hướng đến hỗ trợ giải quyết các vấn đề an sinh xã hội như tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, phòng chống bạo lực, xóa bỏ bất đình đẳng. Nhiệm vụ của CTXH là hỗ trợ con người phát triển những tiềm năng của họ, làm phong phú cuộc sống của họ, phòng ngừa những vấn đề khó khăn đến với họ và giúp họ giải quyết được vấn đề của chính mình. CTXH nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội.
    3. Thành tựu đã đạt được trong CTXH: Ở Việt Nam, tinh thần tương thân tương ái, “lá lành đùm lá rách” là nét văn hóa truyền thống tốt đẹp. Trong đó, nhiều hoạt động là cơ sở cho phát triển CTXH như phòng ngừa, can thiệp-trị liệu, phát triển cộng đồng và trợ giúp, hỗ trợ đối với người cao tuổi, trẻ em mồ côi, khuyết tật, những người gặp hoàn cảnh khó khăn do các cá nhân, tổ chức thực hiện như Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội Chữ thập đỏ…từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng. Nếu tính tới hệ thống hàng ngàn ngôi chùa đã thực hiện các hoạt động nuôi trẻ mồ côi, người không nơi nương tựa; cung cấp thức ăn và chỗ ngủ cho người lang thang, cơ nhỡ; chữa bệnh cho người ốm; tư vấn và trợ giúp các khúc mắc tâm lý, tâm linh, tình cảm cho các gia đình và cộng đồng kể từ khi Phật giáo du nhập (khoảng thế kỷ thứ II), thì có thể nói các hoạt động có đặc thù CTXH đã xuất hiện ở nước ta rất sớm. Chính nhờ có những thế mạnh này mà nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như công tác xóa đói giảm nghèo, vấn đề dân số và gia đình, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trợ giúp các đối tượng yếu thế, người già cô đơn, người khuyết tật … góp phần tạo ra nền tảng ổn định cho phát triển kinh tế - xã hội.
    Mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH đã được hình thành nhiều nhất ở ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, tiếp theo là ở các ngành Y tế, Giáo dục .. Các tỉnh, thành phố từng bước tiếp tục phát triển các cơ sở có cung cấp dịch vụ CTXH đối với người già, người tâm thần, bảo vệ trẻ em, trợ giúp người khuyết tật phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng trên cơ sở bổ sung thêm chức năng, nhiệm vụ và kiện toàn cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ sở.
    Đội ngũ công chức, viên chức, nhân viên và cộng tác viên làm công tác xã hội hiện có khoảng trên 200 nghìn người, trong đó có công chức, viên chức và người lao động làm việc tại các cơ sở xã hội công lập và ngoài công lập, gần 100 nghìn người làm việc tại các hội, đoàn thể các cấp; trên 100 nghìn cộng tác viên giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội, bảo vệ trẻ em và phát triển cộng đồng…tạo thành một mạng lưới cán bộ, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội trợ giúp các đối tượng yếu thế ở các cơ sở và cộng đồng, góp phần trợ giúp cho người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn tiếp cận, thụ hưởng các chính sách phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục, học nghề, tìm việc làm để ổn định cuộc sống. Trong công tác đào tạo nghề công tác xã hội chuyên nghiệp, so với những năm đầu triển khai Quyết định số 32/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020, số lượng các cơ sở có đào tạo chuyên ngành công tác xã hội tăng nhanh … Đội ngũ giảng viên, cán bộ, nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội phát triển cả về số lượng và chất lượng .
    Bên cạnh đó, nhận thức về vai trò, vị trí của nghề CTXH trong quá trình xây dựng nền an sinh xã hội tiên tiến của đất nước ở nhiều cấp, ngành đã có sự thay đổi. Nhiều địa phương đã chủ động, quyết liệt triển khai Đề án phát triển nghề CTXH trên địa bàn. Số lượng người dân có nhu cầu trợ giúp xã hội được tiếp cận, thụ hưởng dịch vụ CTXH ngày càng gia tăng. Công tác truyền thông đã được chú trọng thông qua việc đăng tải hàng nghìn tin, bài, phim, tài liệu tuyên truyền, đã góp phần nâng cao nhận thức về nghề công tác xã hội.
    4. Những tồn tại, hạn chế của CTXH: Bên cạnh những thành tựu đạt được, lĩnh vực công tác xã hội vẫn còn những khó khăn, tồn tại, hạn chế như:
    Theo thống kê, ở nước ta hiện nay, số người cần tiếp cận, sử dụng các dịch vụ CTXH lớn, chiếm khoảng 28% dân số, trong đó trong đó có khoảng 11,5 triệu người cao tuổi, 7,6 triệu người khuyết tật, 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hàng triệu người hưởng trợ cấp người có công với cách mạng, 1,6 triệu hộ nghèo chiếm tỷ lệ 6,72%, 1,3 triệu hộ cận nghèo chiếm 5,32%, khoảng 2,83 triệu đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, hơn 1,8 triệu hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hàng năm, khoảng 254 nghìn người nhiễm HIV được phát hiện, hơn 210 nghìn người nghiện ma tuý (bạo lực gia đình và bạo hành ở các cấp độ khác nhau có xu hướng tăng); ngoài ra, còn nhiều phụ nữ, trẻ em bị ngược đãi, bị buôn bán, bị xâm hại hoặc lang thang kiếm sống trên đường phố; hàng ngàn xã đặc biệt khó khăn và có vấn đề xã hội (tệ nạn xã hội, cuộc sống nghèo khổ); và các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội nảy sinh các vấn đề xã hội (đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt).
    Đối tượng cần được can thiệp, trợ giúp của công tác xã hội ngày càng tăng, tuy nhiên các dịch vụ CTXH chưa đa dạng, chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân. Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội còn thiếu; năng lực cung cấp dịch vụ công tác xã hội và chăm sóc, trợ giúp các đối tượng của các cơ sở đạt hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu của đối tượng. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ, nhân viên, cộng tác viên CTXH còn mỏng, đa số được đào tạo từ ngành nghề khác hoặc một số ít thậm chí không được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, chưa dựa vào cộng đồng.
     Cơ cấu các dịch vụ CTXH có sự kết hợp của các cơ quan/đơn vị công lập và ngoài công lập chưa được xác định rõ ràng. Các dịch vụ CTXH chuyên nghiệp chưa được cung cấp cho người dân tại cộng đồng, làm giảm hiệu quả của các chính sách phúc lợi xã hội. Việc cung cấp dịch vụ xã hội chủ yếu là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước. Trong những giai đoạn đầu, công tác xã hội chuyên nghiệp chủ yếu cung cấp các dịch vụ CTXH trong lĩnh vực bảo trợ xã hội. Các dịch vụ CTXH chuyên sâu đối với các cá nhân, nhóm đối tượng đặc thù bắt đầu phát triển, bao gồm chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, dịch vụ chăm sóc người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí; trợ giúp các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, hỗ trợ các gia đình có nhu cầu, bảo trợ xã hội với người khuyết tật, người già, phụ nữ, trị liệu tâm lý xã hội, tham vấn, hỗ trợ mọi người trong cơn  khủng hoảng, trợ giúp trong giải quyết các mối quan hệ.
     5. Về những tồn tại, bất cập của pháp luật: đến nay, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có trên 15 Bộ luật, Luật; 7 Pháp lệnh và hơn 50 Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, thông tư và các văn bản chỉ đạo khác có nội dung quy định CTXH là cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện CTXH ở Việt Nam… Các văn bản quy phạm pháp luật này đã tạo tiền đề pháp lý quan trọng để các Bộ, ngành, địa phương từng bước phát triển nghề công tác xã hội chuyên nghiệp tại Việt Nam. Đặc biệt, thực hiện Quyết định số 32/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính về việc phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 (Đề án 32), các Bộ, ngành và địa phương đã triển khai đạt được những kết quả quan trọng trên các lĩnh vực ban hành văn bản quy phạm pháp luật, phát triển các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội và phát triển mạng lưới cán bộ, nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội; đào tạo công tác xã hội; truyền thông và hợp tác quốc tế phát triển nghề công tác xã hội. Một số quy định về công tác xã hội để trợ giúp các đối tượng như người cao tuổi, người khuyết tật, bảo vệ trẻ em, người nhiễm HIV, người nghiện ma tuý, người bán dâm, bạo lực gia đình đã được quy định tại nhiều bộ luật, luật chuyên ngành như: Bộ luật Lao động; Luật Người cao tuổi; Luật Người khuyết tật; Luật Trẻ em; Luật Phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và nhiều chương trình, Đề án liên quan đến trợ giúp xã hội.
    Tuy nhiên, khuôn khổ pháp lý phát triển nghề công tác xã hội chưa được quy định rõ ràng, hoàn chỉnh, đặc biệt là vai trò, nhiệm vụ của công chức, viên chức, nhân viên công tác xã hội; cấp chứng chỉ hành nghề; cấp, thu hồi, điều chỉnh giấy phép hoạt động của các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội và điều kiện thành lập, hoạt động và điều kiện giải thể cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng dịch vụ CTXH chưa được xác định cụ thể trong hệ thống văn bản pháp luật; chưa có Luật quy định riêng về công tác xã hội làm cơ sở định hướng phát triển CTXH trong các ngành, lĩnh vực hiện đang được điều chỉnh bởi các luật chuyên ngành; nhiều văn bản pháp luật quy định về công tác xã hội có giá trị pháp lý tương đối thấp, chủ yếu là nghị định và thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành liên quan.
    Qua nghiên cứu, so sánh với pháp luật các nước cho thấy, nếu so với các nước phát triển trên thế giới và ngay cả với nhiều nước trong khu vực (như Philippin), thì các quy định liên quan đến CTXH ở Việt Nam còn một khoảng cách lớn và có sự thiếu hụt, ví dụ như thiếu quy định pháp lý về phê duyệt, giám sát, cấp phép đào tạo CTXH theo chuẩn nghề nghiệp, hay quy định pháp luật về thi sát hạch chuyên môn và cấp giấy phép hành nghề trong một số lĩnh vực chuyên biệt của CTXH…. Với sự phát triển và ghi nhận của pháp luật, trên thế giới, CTXH đã có quá trình phát triển hơn 100 năm; công tác xã hội chuyên nghiệp đã tồn tại ở nhiều quốc gia, tính đến nay, có khoảng 140 quốc gia là thành viên của Hiệp hội Cán bộ xã hội Quốc tế; khoảng 100 quốc gia tham gia Hiệp hội đào tạo công tác xã hội thế giới.
    Tóm lại, những vấn đề bất cập nêu trên không thể chỉ giải quyết bằng các biện pháp hành chính, kinh tế, bằng tuyên truyền, giáo dục,… mà đòi hỏi phải có sự điều chỉnh, can thiệp bởi pháp luật và đặc biệt là cần ban hành một đạo luật để giải quyết đầy đủ, toàn diện các vấn đề liên quan đến CTXH, nhất là vai trò, nhiệm vụ của CTXH; quy định quyền và nghĩa vụ của đối tượng sử dụng dịch vụ công tác xã hội; quyền và nghĩa vụ của người hành nghề công tác xã hội, điều kiện thành lập cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội (những vấn đề bắt buộc phải điều chỉnh bằng luật theo tinh thần Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp); cùng các cơ chế và chính sách huy động các nguồn lực từ xã hội, thu hút sự tham gia của cộng đồng vào CTXH, đề cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, phát huy vai trò của các tổ chức, cá nhân đối với CTXH, thực hiện các chính sách an sinh xã hội cũng như giải quyết các vấn đề xã hội còn tồn tại hiện nay có hiệu quả, khả thi. Mặt khác, việc ban hành văn bản về CTXH dưới hình thức một đạo luật mới có thể thể chế hóa cũng như phù hợp với tinh thần Điều 34, Điều 59 Hiến pháp năm 2013: "Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội; Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác”.
    Từ các lý do trên, Việt Nam cần sớm xây dựng và ban hành Luật CTXH. Việc xây dựng, trình Quốc hội xem xét, ban hành Luật Công tác xã hội không chỉ đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế và khu vực mà còn là sự quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng: “Ưu tiên xây dựng các luật về kinh tế, về các quyền công dân…” (Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII). Nghị quyết số 48/NQ-TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 cũng nhấn mạnh: “…ban hành kịp thời, đồng bộ và tổ chức thực thi các pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội”.
    II. MỤC ĐÍCH, QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG LUẬT
    1. Mục đích
    Tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi, dễ tiếp cận, hiệu lực và hiệu quả thúc đẩy phát triển CTXH chuyên nghiệp góp phần phòng ngừa; can thiệp, trợ giúp cá nhân, nhóm, gia đình, cộng đồng, người dân gặp hoàn cảnh khó khăn hoặc có nhu cầu phát huy tiềm năng tự vươn lên trong cuộc sống nhằm bảo đảm an sinh xã hội, công bằng xã hội, góp phần vào sự nghiệp phát triển bền vững đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.
    2. Quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật CTXH
    a) Thể chế hóa các chủ trương của Đảng và Nhà nước về bảo đảm an sinh xã hội.
    b) Ghi nhận đầy đủ, toàn diện các quyền về an sinh xã hội; cụ thể hóa Điều 34, Điều 59 Hiến pháp năm 2013 về quyền được bảo đảm an sinh xã hội; tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác.
    c) Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật; bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp của các nước trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quyền được bảo đảm an sinh xã hội.
    d) Bảo đảm phát triển kinh tế đi đôi với công bằng xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
    đ) Bảo đảm phát huy tiềm năng của cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn tự giải quyết vấn đề của mình và tự vươn lên trong cuộc sống.
    e) Bảo đảm sử dụng, huy động hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện CTXH.
    III. ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG, PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT CÔNG TÁC XÃ HỘI
    1. Đối tượng áp dụng
    Luật CTXH áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia và có liên quan đến hoạt động công tác xã hội làm việc trong các lĩnh vực an sinh xã hội, y tế, giáo dục, tư pháp, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các lĩnh vực liên quan khác.
    2. Phạm vi điều chỉnh
    Luật CTXH quy định vai trò, nhiệm vụ của công tác xã hội, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng dịch vụ công tác xã hội; tiêu chuẩn, điều kiện, quyền và nghĩa vụ của người hành nghề công tác xã hội; cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội; quy trình, thủ tục thực hiện dịch vụ công tác xã hội; các điều kiện bảo đảm cung cấp dịch vụ công tác xã hội; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với công tác xã hội.
    IV. MỤC TIÊU, NỘI DUNG CỦA CHÍNH SÁCH, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TRONG ĐỀ NGHỊ XÂY DỰNG LUẬT
    Mục tiêu tổng thể của Luật CTXH
    - Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân về an sinh xã hội; thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng về bảo đảm an sinh xã hội, về công tác xã hội;
    - Góp phần bảo đảm phát triển kinh tế đi đôi với công bằng xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế;
    - Thực hiện các chính sách phòng ngừa, can thiệp – trị liệu – phục hồi chức năng và trợ giúp đối tượng vươn lên; qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mọi thành viên trong xã hội; nhất là nhóm yếu thế dễ bị tổn thương, những người già cả, neo đơn, khuyết tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi…;
    - Chuyên nghiệp hóa hoạt động công tác xã hội nhằm can thiệp kịp thời và hỗ trợ hiệu quả đối với cá nhân, nhóm, gia đình, cộng đồng, người dân gặp hoàn cảnh khó khăn hoặc có nhu cầu;
    - Nâng cao chất lượng, hiệu quả và phát triển dịch vụ công tác xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân về chất lượng dịch vụ;
    - Xã hội hóa nghề công tác xã hội nhằm tăng khả năng tiếp cận của công dân đối với các dịch vụ công tác xã hội; đồng thời giảm gánh nặng chi phí từ ngân sách nhà nước.
        1. Chính sách 1: Tăng khả năng tiếp cận dịch vụ CTXH có chất lượng của các nhóm đối tượng thụ hưởng chính sách an sinh xã hội
    a) Mục tiêu của chính sách
    - Thể chế hóa quy định của Hiến pháp "Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội” (Điều 34); “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác" (Khoản 2 Điều 59)…;
    - Đáp ứng nhu cầu trợ giúp xã hội ngày càng cao của công dân, nhất là nhóm yếu thế dễ bị tổn thương, những người già cả, neo đơn, khuyết tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi…;
    - Người dân được thụ hưởng đầy đủ, có chất lượng các dịch vụ CTXH trong tất cả các ngành, lĩnh vực mà Nhà nước tổ chức và có điều kiện lựa chọn các hình thức cung cấp dịch vụ phù hợp, đáp ứng nhu cầu của đối tượng và toàn xã hội;
    -    Góp phần bảo đảm phát triển kinh tế đi đôi với công bằng xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
    b) Nội dung của chính sách
    Quy định các quyền của đối tượng thụ hưởng dịch vụ CTXH; nghĩa vụ của người hành nghề CTXH; quy định việc thành lập và giải thể cơ sở cung ứng dịch vụ CTXH độc lập/chuyên nghiệp…
    c) Giải pháp thực hiện chính sách và lý do lựa chọn giải pháp
    Có 3 giải pháp được đánh giá tác động (xem Báo cáo đánh giá tác động), trong đó, giải pháp được lựa chọn là nội dung của Luật CTXH sẽ quy định về các nội dung của chính sách nêu trên (quy định các quyền của đối tượng thụ hưởng dịch vụ CTXH; nghĩa vụ của người hành nghề CTXH; quy định việc thành lập cơ sở cung ứng dịch vụ CTXH độc lập/chuyên nghiệp…).
    Lý do lựa chọn giải pháp: đã được phân tích chi tiết tại Báo cáo đánh giá tác động chính sách.

        2. Chính sách 2: Kiện toàn, chuẩn hóa đội ngũ những người làm công tác xã hội
    a) Mục tiêu của chính sách
    - Chuyên nghiệp hóa hoạt động công tác xã hội, bảo đảm can thiệp kịp thời và hỗ trợ hiệu quả đối với cá nhân, nhóm, gia đình, cộng đồng, người dân gặp hoàn cảnh khó khăn hoặc có nhu cầu;
    - Nâng cao chất lượng, hiệu quả và phát triển dịch vụ công tác xã hội, đáp ứng nhu cầu của người dân về chất lượng dịch vụ.
    b) Nội dung của chính sách
    Quy định tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình hoạt động, chế độ, chính sách đối với người hành nghề CTXH; nâng cao năng lực, đào tạo, bồi dưỡng đối với người hành nghề CTXH chuyên nghiệp và những người làm CTXH;…
    c) Giải pháp thực hiện chính sách và lý do lựa chọn giải pháp
    Có 3 giải pháp được đánh giá tác động (xem Báo cáo đánh giá tác động), trong đó, giải pháp được lựa chọn là nội dung của Luật CTXH sẽ quy định về các nội dung của chính sách nêu trên.
    Lý do lựa chọn giải pháp: đã được phân tích chi tiết tại Báo cáo đánh giá tác động chính sách.
    3. Chính sách 3: Mở rộng, phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ công tác xã hội đáp ứng nhu cầu người dân
    a) Mục tiêu của chính sách
    -    Hình thành hệ thống cung cấp dịch vụ CTXH phù hợp với các đối tượng có nhu cầu trong xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội về cung cấp dịch vụ CTXH và bảo đảm chất lượng của dịch vụ CTXH (đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng dịch vụ).
    -    Góp phần tăng khả năng tiếp cận của công dân đối với các dịch vụ CTXH; góp phần bảo đảm nhu cầu được trợ giúp xã hội của nhóm yếu thế trong xã hội.
    -    Chuẩn hóa và chuyên nghiệp hóa hoạt động của các tổ chức cung ứng dịch vụ CTXH.
    -     Góp phần sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện CTXH.
    b) Nội dung của chính sách
    - Quy định điều kiện thành lập, tổ chức hoạt động và giải thể cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội công lập, ngoài công lập (cơ sở hoạt động độc lập/chuyên nghiệp). Theo đó, mở rộng phạm vi tổ chức, cơ quan có thể tham gia cung ứng dịch vụ CTXH; ngoài tổ chức cung cấp dịch vụ CTXH công lập do nhà nước quản lý, cấp kinh phí và thực hiện cung cấp dịch vụ CTXH còn có các tổ chức thực hiện cung cấp dịch vụ CTXH ngoài nhà nước có đủ điều kiện theo quy định, ký hợp đồng với cơ quan quản lý nhà nước về CTXH ở địa phương để cung cấp dịch vụ CTXH; Quy định tiêu chuẩn cụ thể của cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH;
    - Quy định về chất lượng dịch vụ CTXH, cơ chế giám sát, quản lý và đánh giá chất lượng.
    c) Giải pháp thực hiện chính sách và lý do lựa chọn giải pháp
    Có 3 giải pháp được đánh giá tác động (xem Báo cáo đánh giá tác động), trong đó, giải pháp được lựa chọn là nội dung của Luật CTXH sẽ quy định về các nội dung của chính sách nêu trên.
    Lý do lựa chọn giải pháp: đã được phân tích chi tiết tại Báo cáo đánh giá tác động chính sách.
    4. Chính sách 4: Phát triển công tác xã hội trong các ngành, lĩnh vực
    a) Mục tiêu của chính sách
    - Tăng cường trách nhiệm của các ngành, lĩnh vực trong việc bảo đảm vấn đề an sinh xã hội, thực hiện chính sách an sinh xã hội và CTXH;
    - Thúc đẩy việc tổ chức hoạt động CTXH theo lĩnh vực, phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực và đáp ứng nhu cầu của đối tượng được trợ giúp xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu chung của Luật CTXH;
    - Góp phần bảo đảm một số quyền con người được Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm hài hòa, tương thích của pháp luật Việt Nam về CTXH với pháp luật quốc tế (Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về quyền trẻ em, quyền của người khuyết tật,....).
        b) Nội dung của chính sách
        Quy định các ngành, lĩnh vực đặc thù cần thực hiện CTXH bao gồm lĩnh vực bảo trợ xã hội,  y tế và sức khỏe tâm thần, giáo dục, tư pháp; đồng thời Luật CTXH giao cho Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có liên quan, Viện trưởng Viện  KSNDTC, Chánh án TANDTC quy định cụ thể về điều kiện, quy trình, hình thức thực hiện CTXH trong một số lĩnh vực đặc thù và các nhóm đối tượng đặc biệt cần sự giúp đỡ (CTXH đối với người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em, người nhiễm HIV/AIDS; người nghiện ma túy, mại dâm; học sinh, sinh viên; bệnh nhân và thân nhân của họ; người mới ra tù, cán bộ làm trong các trại giam,...).
        c) Giải pháp thực hiện chính sách và lý do lựa chọn giải pháp
        Có 3 giải pháp được đánh giá tác động (xem Báo cáo đánh giá tác động), trong đó, giải pháp được lựa chọn là nội dung của Luật CTXH sẽ quy định về các nội dung của chính sách nêu trên.
        Lý do lựa chọn giải pháp: đã được phân tích chi tiết tại Báo cáo đánh giá tác động chính sách.
        5. Chính sách 5: Phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước đối với CTXH
    a) Mục tiêu của chính sách
    - Phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan trung ương, địa phương trong quản lý nhà nước đối với CTXH nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đối với CTXH;
    - Bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong CTXH phù hợp với xu hướng và quy định của pháp luật về phân cấp, phân quyền.
    b) Nội dung của chính sách
    Quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp đối với CTXH; xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan trung ương trong hoạt động xây dựng, ban hành và tổ chức thực thi, hướng dẫn, giám sát, thanh tra , kiểm tra việc thi hành pháp luật về CTXH (trách nhiệm của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các bộ, ngành có liên quan); trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc thực thi pháp luật và chính sách về CTXH.
    c) Giải pháp thực hiện chính sách và lý do lựa chọn giải pháp
    Có 3 giải pháp được đánh giá tác động (xem Báo cáo đánh giá tác động), trong đó, giải pháp được lựa chọn là nội dung của Luật CTXH sẽ quy định về các nội dung của chính sách nêu trên.
    Lý do lựa chọn giải pháp: đã được phân tích chi tiết tại Báo cáo đánh giá tác động chính sách.
    6. Chính sách 6: Khuyến khích xã hội hóa phát triển công tác xã hội
    a) Mục tiêu của chính sách:  
    - Đẩy mạnh xã hội hóa đối với hoạt động công tác xã hội nhằm tăng khả năng tiếp cận của công dân đối với các dịch vụ công tác xã hội;
    -  Góp phần phát huy năng lực của xã hội và sự đóng góp của cộng đồng đối với việc giải quyết các vấn đề xã hội;
    - Khuyến khích sự đóng góp, ủng hộ của cộng đồng; phát huy tinh thần tương thân, tương ái để giải quyết các vấn đề khó khăn trong cuộc sống của mọi thành viên trong xã hội.    
    b) Nội dung của chính sách
    Quy định không hạn chế đối tượng tham gia CTXH; quyền của người dân tham gia CTXH; chính sách khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động CTXH; quy định vai trò, trách nhiệm của Hiệp hội những người làm công tác xã hội; quy định về huy động sự tham gia của người dân và thu hút các nguồn lực của khu vực tư nhân vào CTXH; quy định thúc đẩy các hoạt động từ thiện, thiện nguyện của các cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực CTXH (dịch vụ CTXH miễn phí).
    c) Giải pháp thực hiện chính sách và lý do lựa chọn giải pháp
    Có 3 giải pháp được đánh giá tác động (xem Báo cáo đánh giá tác động), trong đó, giải pháp được lựa chọn là nội dung của Luật CTXH sẽ quy định về các nội dung của chính sách nêu trên.
    Lý do lựa chọn giải pháp: đã được phân tích chi tiết tại Báo cáo đánh giá tác động chính sách.
    V. DỰ KIẾN NGUỒN LỰC, ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM CHO VIỆC THI HÀNH LUẬT SAU KHI ĐƯỢC QUỐC HỘI THÔNG QUA
    1. Dự kiến nguồn lực
    a) Nguồn lực cho công tác xây dựng Luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật về CTXH
    - Bố trí đầy đủ, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức, chuyên gia, cộng tác viên có đủ năng lực, trình độ (từ các Bộ, ngành, Chính phủ, Quốc hội) làm công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật về CTXH gồm: xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách, lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; soạn thảo, chỉnh lý văn bản quy phạm pháp luật; thẩm định, thẩm tra đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; hợp nhất, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật; kiểm soát thủ tục hành chính và theo dõi thi hành pháp luật.
    - Cơ sở vật chất cho việc xây dựng Luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật về CTXH: hiện đại hóa phương tiện, kỹ thuật bảo đảm cho công tác xây dựng Luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật về CTXH; xây dựng cơ sở dữ liệu về đối tượng phục vụ cho công tác quy hoạch và phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ CTXH và mạng lưới, đội ngũ người làm công tác xã hội.
    - Kinh phí xây dựng Luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật về CTXH, gồm: kinh phí cho xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách, lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; soạn thảo, chỉnh lý văn bản quy phạm pháp luật; thẩm định, thẩm tra đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; hợp nhất, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật; kiểm soát thủ tục hành chính và theo dõi thi hành pháp luật.
    b) Nguồn lực cho công tác tổ chức thực hiện
    - Bố trí đầy đủ, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động có đủ năng lực, trình độ (từ các Bộ, ngành, Chính phủ, Quốc hội) cho công tác tổ chức thực hiện Luật CTXH gồm: cán bộ làm công tác quản lý, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm việc trong các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH; thường xuyên tập huấn, bồi dưỡng, chuyên nghiệp hóa đội ngũ người làm CTXH.
    - Cơ sở vật chất cho việc tổ chức thi hành Luật: hiện đại hóa phương tiện, kỹ thuật, cơ sở vật chất bảo đảm nhằm góp phần nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ CTXH; xây dựng cơ sở dữ liệu về đối tượng phục vụ cho công tác quy hoạch, phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ CTXH và mạng lưới, đội ngũ người làm công tác xã hội và công tác giám sát, đánh giá.
    - Kinh phí tổ chức thi hành Luật, gồm: tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức về CTXH; kinh phí triển khai các chính sách quy định trong Luật; và kinh phí giám sát, đánh giá việc triển khai thi hành Luật.
    2. Về điều kiện bảo đảm cho việc thi hành sau khi Luật được Quốc hội thông qua
    a) Đối với Quốc hội
    Quốc hội cần thực hiện quyền giám sát việc thi hành Luật, bảo đảm các quy định hiệu lực, hiệu quả của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành. Những phản hồi của xã hội trong quá trình thi hành pháp luật chính là thước đo hiệu quả công tác xây dựng pháp luật, giúp cho việc phát hiện kịp thời những tồn tại, hạn chế và những vấn đề mới phát sinh nhằm có giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật.
    b) Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
    - Ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết Luật CTXH thuộc thẩm quyền của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ được giao trong Luật; đề nghị, trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung các đạo luật có liên quan để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật;
    - Tổ chức triển khai thi hành Luật CTXH và văn bản dưới luật về CTXH; kiện toàn hệ thống tổ chức, bộ máy; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyên nghiệp hóa đội ngũ người làm CTXH; chú trọng việc triển khai, thực hiện các văn bản có liên quan về CTXH của Bộ, ngành, trên cơ sở đó đưa ra những vấn đề ưu tiên và lộ trình từng bước sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới hệ thống văn bản hướng dẫn chi tiết Luật CTXH.
    c) Các Bộ, ngành
    -    Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các Bộ, ngành có liên quan trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình tiến hành rà soát các quy định trong hệ thống văn bản hiện hành về CTXH (từ Nghị định, Thông tư, Quyết định, các tài liệu hướng dẫn,...); việc triển khai, thực hiện các văn bản có liên quan về CTXH, trên cơ sở đó sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới hệ thống văn bản hướng dẫn chi tiết Luật CTXH, bảo đảm tính hệ thống, đầy đủ, tương thích với pháp luật quốc tế (Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về quyền trẻ em, quyền của người khuyết tật,...) đồng thời tiến tới hòa nhập với xu hướng phát triển chung của quốc tế (ở các quốc gia đang phát triển và phát triển như Philippin, Mỹ, Úc,... ).
    - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các Bộ, ngành có liên quan trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện truyền thông, nâng cao nhận thức của người dân, cán bộ, công chức và toàn xã hội về CTXH; tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về CTXH; Bồi dưỡng, tập huấn, kiện toàn đội ngũ người làm CTXH.
    - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các Bộ, ngành có liên quan trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện việc theo dõi thi hành pháp luật về CTXH, dựa trên các nội dung sau:
    + Xây dựng các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật và theo dõi, đánh giá mức độ tuân thủ Luật, văn bản quy định chi tiết Luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; tiến hành pháp điển hóa các quy định pháp luật về CTXH trong các văn bản pháp luật liên quan phù hợp với tình hình thực tế theo chỉ đạo, phân công của Chính phủ.
    + Dựa trên hệ thống pháp luật về CTXH, tiến hành thanh tra, kiểm tra và xử lý hoặc đề xuất xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về CTXH; tổ chức các hình thức tập hợp thông tin, báo cáo, xây dựng cơ sở dữ liệu, giám sát, kiểm tra việc thực thi luật pháp, chính sách có liên quan đến CTXH và khuyến nghị với các cấp có thẩm quyền.
    VI. THỜI GIAN DỰ KIẾN TRÌNH QUỐC HỘI XEM XÉT, THÔNG QUA DỰ ÁN LUẬT
    1. Trình Quốc hội đưa dự án Luật vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019.
    2. Sau khi được Quốc hội thông qua Chương trình xây dựng luật: Tổ chức triển khai nghiên cứu, xây dựng dự án Luật theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
    3. Dự kiến trình Quốc hội xem xét thông qua vào năm 2020.
    Trên đây là nội dung đề nghị xây dựng Luật Công tác xã hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xin trình Chính phủ để đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội năm 2019./.
     

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com