Thứ ba, ngày 22/01/2019login
  • Báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng Luật Công tác xã hộiGóp ý

    Cơ quan ban hành: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

    Mô tả: Tài liệu kèm theo Dự thảo Luật được lấy ý kiến nhân dân trên Cổng thông tin của Chính phủ

  • I. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ BẤT CẬP CẦN GIẢI QUYẾT
    1. Bối cảnh xây dựng chính sách
    Sau hơn ba mươi năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội: Chính trị - xã hội ổn định, kinh tế tăng trưởng khá, đời sống nhân dân được cải thiện, nâng cao, tuy nhiên, kinh tế, văn hoá và xã hội phát triển thiếu bền vững. Nhiều vấn đề bức xúc nảy sinh, nhất là các vấn đề xã hội, chưa được giải quyết có hiệu quả. Trên một số mặt, một số lĩnh vực, một bộ phận nhân dân chưa được thụ hưởng đầy đủ, công bằng thành quả của công cuộc đổi mới, kinh tế phát triển, tuy nhiên bất bình đẳng xã hội cũng có xu hướng tăng lên. Bất bình đẳng xã hội trở thành lực cản, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, lâu dài làm mất ổn định xã hội. Có thể nói, công bằng xã hội trở thành đòi hỏi tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội. Giải quyết vấn đề này, không có cách nào khác là khi tăng trưởng kinh tế, phải đi liền với giải quyết vấn đề xã hội.
    Công tác xã hội hướng đến trợ giúp cho các cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng, đặc biệt là các đối tượng yếu thế như người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người già, nạn nhân của bạo hành và tệ nạn xã hội... phát triển khả năng và sử dụng các nguồn lực riêng của họ và của cộng đồng, xã hội để giải quyết vấn đề khó khăn của mình. Công tác xã hội cũng hướng đến hỗ trợ giải quyết các vấn đề an sinh xã hội như tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, phòng chống bạo lực, xóa bỏ bất đình đẳng. Nhiệm vụ của công tác xã hội là hỗ trợ con người phát triển những tiềm năng của họ, làm phong phú cuộc sống của họ, phòng ngừa những vấn đề khó khăn đến với họ và giúp họ giải quyết được vấn đề của chính mình. Khác với hoạt động từ thiện, về phương pháp giúp đỡ, trong công tác xã hội đòi hỏi tuân thủ nguyên tắc “Tự giúp”; nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề của đối tượng được giúp đỡ. Hoạt động từ thiện lại dựa trên nền tảng “Cho” và “Nhận”, nên người được giúp đỡ thường tỏ ra thụ động đón nhận sự trợ giúp đó. Về kết quả hoạt động, từ thiện thường giúp đối tượng giải quyết vấn đề tức thời nên kết quả không bền vững còn công tác xã hội là trực tiếp, lâu dài và bền vững vì không chỉ giúp đối tượng giải quyết vấn đề tại thời điểm hiện tại mà còn trang bị những kiến thức, kỹ năng để có khả năng giải quyết vấn đề trong tương lai. Công tác xã hội là hoạt động, hình thức thực hiện công bằng xã hội, an sinh xã hội một cách tự giác, bền vững.
    An sinh xã hội luôn là mối quan tâm của Đảng và Nhà nước ta, được thể hiện trong nhiều văn kiện của Đảng cũng như trong các văn bản pháp luật của Nhà nước; với các chủ trương: “từng bước xây dựng chính sách bảo trợ xã hội đối với toàn dân, theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, mở rộng và phát triển sự nghiệp bảo trợ xã hội, tạo lập nhiều hệ thống và hình thức bảo trợ xã hội cho những người có công với cách mạng và những người gặp khó khăn” (Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI); “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất của mọi thành viên trong xã hội. Chăm lo đời sống những người già cả, neo đơn, tàn tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi” (Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội - năm 1991); “Thực hiện các chính sách bảo trợ trẻ em mồ côi, lang thang cơ nhỡ, người già neo đơn, nạn nhân chiến tranh, người tàn tật” (Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII); “Phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là trong tình hình kinh tế khó khăn, suy giảm”…“Tiếp tục sửa đổi, hoàn chỉnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, trợ giúp mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế dễ bị tổn thương vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống”... (Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI). Nghị quyết số 15/NQ-TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hành TW Đảng  khóa XI về “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020” cũng đã xác  định “Chính sách xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ..”.
    Bảo đảm thực hiện an sinh xã hội và hệ thống phúc lợi xã hội, Đảng và Nhà nước ta coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội. Tuy nhiên, còn có những vấn đề bất cập của thực tiễn cũng như quy định của pháp luật dẫn đến những khó khăn trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách nêu trên. Cụ thể:
    a)    Các vấn đề bất cập của thực tiễn
    Thứ nhất, sự gia tăng các đối tượng cần trợ giúp và nhu cầu sử dụng dịch vụ công tác xã hội do tác động của các vấn đề kinh tế - xã hội
    Theo thống kê, ở nước ta hiện nay, số người cần tiếp cận, sử dụng các dịch vụ CTXH lớn, chiếm khoảng 28% dân số, trong đó trong đó có khoảng 11,5 triệu người cao tuổi, 7,6 triệu người khuyết tật, 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hàng triệu người hưởng trợ cấp người có công với cách mạng, 1,6 triệu hộ nghèo chiếm tỷ lệ 6,72%, 1,3 triệu hộ cận nghèo chiếm 5,32%, khoảng 2,83 triệu đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, hơn 1,8 triệu hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hàng năm, khoảng 254 nghìn người nhiễm HIV được phát hiện, hơn 210 nghìn người nghiện ma tuý (bạo lực gia đình và bạo hành ở các cấp độ khác nhau có xu hướng tăng); ngoài ra, còn nhiều phụ nữ, trẻ em bị ngược đãi, bị buôn bán, bị xâm hại hoặc lang thang kiếm sống trên đường phố; hàng ngàn xã đặc biệt khó khăn và có vấn đề xã hội (tệ nạn xã hội, cuộc sống nghèo khổ); và các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội nảy sinh các vấn đề xã hội (đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt).
    Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, hàng triệu cá nhân, gia đình, nhóm gặp phải các vấn đề xã hội (ly thân, ly hôn, bạo lực, bạo hành, nghèo đói, bị xâm hại, bỏ nhà đi lang thang, tệ nạn xã hội...); các vấn đề xã hội này luôn là vấn đề nổi cộm cần giải quyết, là mối quan tâm của mọi quốc gia. Tại Việt Nam, cùng với các vấn đề xã hội còn có các vấn đề về sức khoẻ mà con người gặp phải khi điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, như: các bệnh liên quan đến rối nhiễu tâm trí, tâm thần ngày càng trở nên trầm trọng hơn vì áp lực cuộc sống trong xã hội; trong đó bao gồm cả rối nhiễu thần kinh nhẹ như lo lắng, phiền muộn, hay rối nhiễm tâm thần; tuy nhiên, vấn đề về sức khoẻ nghiêm trọng nhất hiện nay đó là bệnh HIV/AIDS và sự lây lan nhanh chóng của căn bệnh HIV cùng với với tệ nạn mại dâm và ma tuý.
    Thứ hai, đối tượng có nhu cầu cung cấp dịch vụ công tác xã hội ngày càng cao về số lượng và ngày càng đa dạng các đối tượng trong xã hội cần được trợ giúp
    Ðối tượng cần trợ giúp xã hội chiếm một số lượng rất lớn trong tổng số dân số ở nước ta. Đối tượng phục vụ của Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội gồm người già, người tàn tật, người nhiễm HIV/AIDS, trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi; bệnh nhân ở các bệnh viện, thân chủ ở tòa án, học sinh ở trường học, trường giáo dưỡng; các gia đình có vấn đề (nghèo khổ, ly hôn, ly thân, bạo lực trong gia đình, sao nhãng trẻ em...) và các cộng đồng nghèo, yếu kém, chậm phát triển, có đông đối tượng có vấn đề xã hội. Tuy nhiên, hiện nay sự quan tâm, nhận thức về đối tượng cần trợ giúp xã hội và mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội của nhiều cấp, nhiều ngành và cộng đồng còn hạn chế nên nhiều nhóm đối tượng như: người khuyết tật, người bị bệnh tâm thần, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nhiễm HIV/AIDS thường bị kỳ thị, coi thường, xa lánh. Gia đình đối tượng phải chăm sóc lâu ngày nên chán nản, cùng với khó khăn về kinh tế đã buông xuôi, để lang thang hoặc phó mặc cho xã hội. Do vậy, đối tượng bảo trợ xã hội rất thiệt thòi trên bình diện quyền con người. 
    -  Đối với nhóm đối tượng người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí: Số người bị rối nhiễu tâm trí ở Việt Nam lớn, ước tỉnh khoảng 10% dân số, tương đương khoảng 9 triệu người, trong đó số người tâm thần nặng ước tính 2,5% số người rối nhiễu tâm trí (tương đương 200 ngàn người, đang được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng), số người có hành vi nguy hiểm cho gia đình, cộng đồng khoảng 154.000 người (đập phá tài sản, đánh người, gây án mạng, đi lang gây rối, mất trật tự an toàn xã hội); số người tâm thần có xu hướng gia tăng đặc biệt là các thành phố, đô thị lớn. Do áp lực của cuộc sống, áp lực kinh tế, tác động của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế và nhiều nguyên nhân khác nhau nên số người tâm thần có xu hướng gia tăng, đặc biệt tại các thành phố, đô thị lớn. Dự báo, đến năm 2020: do sự thay đổi lối sống, phát triển kinh tế, thiên tai và ô nhiễm môi trường, cùng với sự hạn chế của hệ thống dịch vụ công tác xã hội, nên số người bị rối nhiễu tâm trí, người bị tâm thần gia tăng đến năm 2020. Như vậy, việc chăm sóc và phục hồi chức năng cho người mắc bệnh tâm thần là một thách thức lớn và là một gánh nặng đối với cộng đồng và toàn xã hội. Điều này tạo sức ép rất lớn về trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần ở Việt Nam. 
    - Đối với nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: Sự biến động số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở mỗi nhóm trẻ em rất khác nhau trong giai đoạn 2010-2015. Đến năm 2018, tổng số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên phạm vi toàn quốc là 1,5 triệu, trong đó gồm 256.000 trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi, 280.000 trẻ em khuyết tật nặng và trẻ nhiễm chất độc hóa học, 96.650 trẻ nhiễm HIV/AIDS, 600.000 trẻ em bị tự kỷ, bị down, bị thiểu năng trí tuệ và 163.000 trẻ em là nạn nhân của thảm họa thiên tai.
    - Đối với người khuyết tật: Việt Nam có khoảng 7,6 triệu người khuyết tật, trong đó có 3,6 triệu là nữ và hơn 5 triệu người sống ở nông thôn, khoảng 1,2 triệu trẻ em khuyết tật  . Trong đó, theo báo cáo của các địa phương, tổng số người khuyết tật được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng  đối với đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng là 794.394 người, tại các cơ sở bảo trợ xã hội là 8.218 người, trợ cấp bảo hiểm xã hội là 49.030 người và trợ cấp hàng tháng khác là 229.981 người. Tuy nhiên, theo ước tính của tổ chức Y tế thế giới (WHO) người khuyết tật Việt Nam chiếm khoảng 10% dân số tương đương khoảng 9 triệu người, trong đó khoảng 2 triệu là trẻ em. Tỉ lệ khuyết tật trên dân số dự kiến sẽ còn tiếp tục tăng lên nhiều do những nguyên nhân phát triển xã hội, tai nạn, do ô nhiễm môi trường...
    - Đối với người cao tuổi: Việt Nam có khoảng 11,5 triệu người cao tuổi. Đến nay, cả nước có khoảng 1.524.192 người cao tuổi được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, khoảng 10.000 người cao tuổi đang được nuôi dưỡng, chăm sóc tại các cơ sở bảo trợ xã hội. Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, hiện nay, cả nước có hơn 2,7 triệu người cao tuổi đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội.
    Như vậy, số lượng người cao tuổi tăng nhanh, nhưng số lượng cơ sở chăm sóc người cao tuổi còn thiếu về số lượng, không đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, nhất là trong điều kiện hệ thống cơ sở chăm sóc người cao tuổi chưa được quy hoạch tổng thể, dài hạn; cơ sở vật chất lạc hậu, trang thiết bị thiếu thốn; chưa có các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, trị liệu, tư vấn, tham vấn, phục hồi chức năng cho người cao tuổi.
    - Đối với các nhóm đối tượng khác: Nhóm đối tượng cần được trợ giúp còn lại là người nghiện ma tuý, người nhiễm HIV, phụ nữ bị bạo hành và các đối tượng thuộc diện bảo trợ xã hội đều có xu hướng tăng. Ngoài ra, cần phải kể đến những người đi chăm sóc người thân ở các bệnh viện, đặc biệt là những người thuộc hộ nghèo, hộ kinh tế khó khăn, ở xa bệnh viện, cơ sở chữa bệnh hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn (về điều kiện ăn, ở, sinh hoạt ...) do thiếu các dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ.
    Thứ ba, sự gia tăng các hoạt động và tổ chức cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tự phát và thiếu tính chuyên nghiệp
    Mạng lưới các cơ quan cung cấp dịch vụ CTXH đã được hình thành nhiều nhất ở ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, tiếp theo là ở các ngành Y tế, Giáo dục. Đến nay, 63 tỉnh, thành phố có cung cấp dịch vụ công tác xã hội  là 418 cơ sở công tác xã hội; 30 trung tâm Điều dưỡng người có công, còn lại là của các tổ chức xã hội; 120 cơ sở cai nghiện và hàng trăm cơ sở dịch vụ việc làm; hầu hết Bệnh viện tuyến Trung ương, nhiều bệnh viện tuyến tỉnh có cung cấp dịch vụ CTXH cho bệnh nhân và cơ sở giáo dục - đào tạo có cung cấp dịch vụ CTXH; hội, đoàn thể chính trị-xã hội các cấp đều có cung cấp dịch vụ CTXH đối với các nhóm yếu thế, đáp ứng nhu cầu trợ giúp xã hội. Các tỉnh, thành phố từng bước tiếp tục phát triển các cơ sở có cung cấp dịch vụ CTXH đối với người già, người tâm thần, bảo vệ trẻ em, trợ giúp người khuyết tật phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng trên cơ sở bổ sung thêm chức năng, nhiệm vụ và kiện toàn cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ sở.
    Tuy nhiên, các hoạt động trợ giúp, hỗ trợ người cao tuổi, trẻ em mồ côi, khuyết tật, những người gặp hoàn cảnh khó khăn hiện nay chủ yếu do các cá nhân, tổ chức như Hội Chữ Thập đỏ, phụ nữ, thanh niên thực hiện ...và hầu hết các hoạt động trợ giúp hiện nay có nguồn gốc là hoạt động tự phát và tự nguyện của các tổ chức tôn giáo, trên tinh thần giúp người và từ thiện. Các hoạt động này chưa được thừa nhận là một nghề nên cũng chưa đòi hỏi các điều kiện, tiêu chuẩn hay có các yêu cầu về kiến thức chuyên môn, kỹ thuật cũng như các kỹ năng đặc thù, cần thiết trong quá trình hoạt động trợ giúp hay thực hiện dịch vụ (về bản chất, đây là một dịch vụ công nên cần phải được quy định chặt chẽ…).
     Bên cạnh đó, các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH còn chưa chuyên nghiệp, đặc biệt ở các cấp huyện, cơ sở và cộng đồng, mặc dù vẫn có một số cơ quan chức năng đảm nhiệm thực thi CTXH từ trung ương đến địa phương. Các Hội, Hiệp hội liên quan đến nghề CTXH ở Việt Nam còn rất mới, non trẻ và đang ở trong giai đoạn dần hình thành và phát triển. Các hoạt động DVCTXH mang tính chuyên nghiệp vẫn do nhiều tổ chức phi chính phủ thực hiện là chủ yếu dưới các tên gọi: trung tâm, hội, văn phòng... viên chức CTXH hoạt động trong các cơ quan nhà nước chủ yếu vẫn mang tính chất bán chuyên nghiệp.
    Tình trạng nhiều cơ quan hoạt động bán chuyên nghiệp là chủ yếu dẫn đến chất lượng, hiệu quả CTXH chưa cao. CTXH đang được công chức, viên chức ở nhiều Bộ, ngành tham gia, tuy nhiên, những cán bộ này trên thực tế là cán bộ thuộc biên chế của những tổ chức, cơ quan, đơn vị cụ thể, do vậy trước hết họ phải thực hiện chức trách  và nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị; CTXH chưa phải là công việc chính thường xuyên của họ. Những cán bộ thuộc biên chế  cơ quan, đơn vị mà công việc của họ gắn bó chặt chẽ với việc thực hiện CTXH cũng không ổn định. Trên thực tế, do các yếu tố khác nhau, việc thay đổi vị trí công tác của cán bộ ở các cơ quan, đơn vị luôn thay đổi. Trong nhiều trường hợp, người đang quen việc, có nhiều thế mạnh trong việc thực hiện công việc liên quan đến CTXH lại không ổn định. Kiến thức, kỹ năng về CTXH  của cán bộ ở các cơ quan, đơn vị mà công việc của họ liên quan chặt chẽ với việc thực hiện CTXH  nhìn chung còn chưa đáp ứng với yêu cầu công tác; chưa được tập huấn, bồi dưỡng trang bị kiến thức, kỹ năng về CTXH, đặc biệt là các vấn đề về kỹ năng tư vấn, tiếp xúc, bảo vệ... Trên thực tế, mạng lưới viên chức, nhân viên CTXH còn chưa đầy đủ; hạn chế về nhận thức, thiếu về lực lượng, yếu về chất lượng nên tổ chức hoạt động chưa hiệu quả; nguồn lực về kinh phí cũng như điều kiện làm việc còn nhiều khó khăn. Chế độ, chính sách đối với viên chức làm ở một số vị trí khá nguy hiểm đến sức khoẻ, tính mạng (như chăm sóc người tâm thần, HIV/AIDS, người bị các bệnh dễ lây nhiễm, người là nhân chứng, bảo vệ nạn nhân...) còn chưa thỏa đáng, chế độ bảo vệ, chế độ đãi ngộ cho họ chưa tương xứng với công việc mà họ thực hiện.
    Bên cạnh đó, đội ngũ chuyên gia, các nhà nghiên cứu, các giảng viên có trình độ cao về CTXH còn rất ít. Việt Nam đã có trên 55 cơ sở đào tạo đang tiến hành đào tạo CTXH, cao đẳng, cử nhân, có một số cơ sở đào tạo thạc sĩ nhưng đội ngũ giảng viên còn thiếu, nhiều trường thiếu giáo viên được đào tạo căn bản về CTXH, hệ thống giáo trình, tài liệu tham khảo còn chưa đủ, chưa bài bản, chưa thống nhất...nên phần nào ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra. Công tác xã hội chưa được hình thành như một nghề cơ bản nên việc đào tạo, sử dụng, tuyển dụng các sinh viên công tác xã hội vào đúng vị trí công tác chuyên môn, từng bước chuyên nghiệp hoá nghề công tác xã hội còn gặp nhiều khó khăn, thiếu các chuyên môn, kỹ năng cần thiết trợ giúp nhóm các đối tượng cần trợ giúp nêu trên.
    Thứ tư, số lượng cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội gia tăng nhưng chất lượng dịch vụ còn bất cập, do cơ sở pháp lý quy định về điều kiện, tiêu chuẩn hành nghề; tiêu chuẩn dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn
    b)    Các vấn đề bất cập của pháp luật
    Kết quả rà soát hệ thống pháp luật  cho thấy, hiện nay các văn bản pháp luật có liên quan đến CTXH còn nhiều bất cập, cụ thể:
    Một là, khuôn khổ pháp lý phát triển nghề công tác xã hội chưa được quy định rõ ràng, hoàn chỉnh, đặc biệt là vai trò, nhiệm vụ của công chức, viên chức, nhân viên công tác xã hội; cấp chứng chỉ hành nghề; cấp, thu hồi, điều chỉnh giấy phép hoạt động của các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội và điều kiện thành lập, hoạt động và điều kiện giải thể cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng dịch vụ CTXH chưa được xác định cụ thể trong hệ thống văn bản pháp luật; chưa có Luật quy định riêng về công tác xã hội làm cơ sở định hướng phát triển CTXH trong các ngành, lĩnh vực hiện đang được điều chỉnh bởi các luật chuyên ngành; nhiều văn bản pháp luật quy định về công tác xã hội có giá trị pháp lý tương đối thấp, chủ yếu là nghị định và thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành liên quan.
    Hai là, trong hệ thống văn bản pháp luật, các chính sách liên quan đến CTXH còn chưa rõ ràng làm định hướng cho việc triển khai các biện pháp, giải pháp, quy định pháp luật (chính sách an sinh xã hội mới chỉ được nêu trong các văn kiện của Đảng, quy định của Hiến pháp 2013  và chưa được thể chế hóa thành chính sách của Nhà nước do các văn bản quy định về vấn đề này mới chủ yếu có trong các thông tư). Pháp luật hiện hành cũng chưa có chính sách, các biện pháp cụ thể để bảo đảm thực hiện chính sách, chủ trương của Đảng về an sinh xã hội và hệ thống phúc lợi xã hội  phù hợp với các quy định, tinh thần Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân.
    Ba là, pháp luật hiện hành chưa có quy định về quy trình, quy chuẩn, quy phạm kỹ thuật trong thực hiện các dịch vụ công tác xã hội; chưa có quy định về tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề của người làm CTXH và các quy định khác liên quan nhằm kiểm soát các hành vi vi phạm của người làm CTXH. Pháp luật cũng chưa có quy định ràng buộc về yêu cầu kỹ năng, quy trình trợ giúp các đối tượng có nhu cầu trong các DVCTXH nhằm bảo đảm lợi ích của người thụ hưởng các dịch vụ CTXH, kiểm soát chất lượng dịch vụ CTXH đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra.
    Bốn là, pháp luật chưa xác định CTXH như một nghề, xác định vị trí, vai trò, nhiệm vụ và nghĩa vụ cơ bản của những người làm CTXH nên thiếu cơ sở ràng buộc trách nhiệm của họ, làm cơ sở cho việc hủy hoặc thu hồi giấy phép cho những cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật về CTXH , qua đó nâng cao chất lượng dịch vụ do những người này cung cấp; đồng thời bảo đảm quyền lợi của các đối tượng được thụ hưởng hay có nhu cầu thụ hưởng các dịch vụ trợ giúp.
    Năm là, pháp luật chưa quy định các vấn đề cơ bản về hoạt động CTXH, hành nghề CTXH và quản lý nhà nước đối với nghề CTXH...nói chung nên khó khăn cho việc lồng ghép, đưa các quy định cụ thể về CTXH vào các văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực chuyên ngành (nhất là các đạo luật) cũng như tổ chức triển khai trên thực tế.
    Sáu là, pháp luật thiếu các quy định cụ thể về yêu cầu kiến thức, kỹ năng CTXH cần thiết cho những người hoạt động chuyên nghiệp cần có trong khi các tổ chức, hiệp hội CTXH cũng chưa ban hành “Bộ quy tắc thực hành” hay giao cho các ngành cụ thể đào tạo cấp chứng chỉ, xây dựng bộ quy tắc ứng xử, công nhận bằng cấp của những người được đào tạo về CTXH từ các nguồn khác nhau. Điều này đã ảnh hưởng đến chất lượng của những người đang thực hiện nhiệm vụ thuộc về CTXH cũng như ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của những đối tượng có liên quan, nhất là những người mà theo chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật cùa Nhà nước cần phải được hưởng trợ giúp xã hội.  
    2. Mục tiêu xây dựng chính sách
    a) Mục tiêu chung:
    - Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân về an sinh xã hội; thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng về bảo đảm an sinh xã hội, về công tác xã hội;
    - Góp phần bảo đảm phát triển kinh tế đi đôi với công bằng xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
    b) Mục tiêu cụ thể:
    - Thực hiện các chính sách phòng ngừa, can thiệp – trị liệu – phục hồi chức năng và trợ giúp đối tượng vươn lên; qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mọi thành viên trong xã hội; nhất là nhóm yếu thế dễ bị tổn thương, những người già cả, neo đơn, khuyết tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi…;
    - Chuyên nghiệp hóa hoạt động công tác xã hội nhằm can thiệp kịp thời và hỗ trợ hiệu quả đối với cá nhân, nhóm, gia đình, cộng đồng, người dân gặp hoàn cảnh khó khăn hoặc có nhu cầu;
    - Nâng cao chất lượng, hiệu quả và phát triển dịch vụ công tác xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân về chất lượng dịch vụ;
    - Xã hội hóa nghề công tác xã hội nhằm tăng khả năng tiếp cận của công dân đối với các dịch vụ công tác xã hội; đồng thời giảm gánh nặng chi phí từ ngân sách nhà nước.
    II. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH
    Để giải quyết tổng thể các vấn đề bất cập như đã nêu tại Mục I của Báo cáo, có 3 phương án sau:
    Phương án 1: Không sửa đổi hay ban hành mới (không ban hành Luật CTXH) mà chỉ tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, tăng cường nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, công dân về các quy định liên quan đến CTXH trong các văn bản pháp luật hiện hành);
    Phương án 2: Sửa đổi các văn bản pháp luật liên quan (các luật và văn bản dưới luật có liên quan đến các vấn đề bất cập nêu tại Mục I của Báo cáo);
    Phương án 3: Ban hành Luật Công tác xã hội.
    Trên cơ sở phân tích những mặt tích cực, cũng như những điểm còn hạn chế của hệ thống pháp luật về CTXH cho thấy,  Phương án 1 giữ nguyên hiện trạng pháp luật về CTXH  là không thể khắc phục được những hạn chế, bất cập hiện nay. Nếu lựa chọn phương án này thì có 2 thách thức quan trọng đặt ra: Thứ nhất, hệ thống quản lý nhà nước về CTXH phải tiếp tục duy trì, chấp nhận những bất cập về tính thống nhất, đồng bộ, tính dễ thay đổi và kém hiệu quả của hệ thống chính sách, pháp luật về CTXH. Những bất cập tiềm ẩn trong hệ thống văn bản, chính sách dưới luật sẽ tác động, ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động CTXH trong thực tế. Thứ hai, việc tiếp tục duy trì ở mức độ văn bản dưới luật các quy định về CTXH… sẽ không bảo đảm được mục tiêu phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; không phát huy tiềm năng của cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn tự giải quyết vấn đề của mình và tự vươn lên trong cuộc sống góp phần bảo đảm an sinh xã hội.
    Trường hợp thực hiện phương án 2 là nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành khác nhau để lồng ghép các quy định cốt lõi, căn bản về CTXH, nghề CTXH, hệ thống dịch vụ CTXH vào các luật chuyên ngành cũng gặp những hạn chế như: Thứ nhất, các văn bản pháp luật về CTXH và nghề CTXH sẽ quy định tản mạn ở nhiều văn bản khác nhau, thiếu tính thống nhất, đồng bộ, thậm chí vẫn chồng chéo; khó quản lý, khó áp dụng và thực hiện. Nếu sửa đổi, bổ sung thì vẫn mang tính chắp vá các quy định mà chưa thực hiện được một bước trong cải cách lập pháp đã và đang là một nhu cầu cần thiết đặt ra trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Thứ hai, do có những luật vừa được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới nên bổ sung  sẽ mất nhiều chi phí, chậm thời gian cho những lần sửa đổi, bổ sung văn bản, mà có thể không cải thiện được môi trường pháp lý về CTXH, không thể pháp điển hoá các quy định pháp luật về CTXH cho thống nhất và đồng bộ. Thứ ba, không có một văn bản pháp lý chuyên ngành chính làm nền tảng để thực hành CTXH thì thiếu tính hệ thống, các quy đình của pháp luật sẽ tản mạn.
    Phân tích và đánh giá tác động của 3 phương án nêu trên cho thấy cần thiết ban hành Luật CTXH với các chính sách cụ thể như phân tích, đánh giá dưới đây:
    1. Chính sách 1: Tăng khả năng tiếp cận dịch vụ CTXH và dịch vụ có chất lượng của các nhóm đối tượng thụ hưởng chính sách an sinh xã hội
    a) Xác định vấn đề bất cập
    CTXH là công cụ để bảo đảm an sinh xã hội, công bằng xã hội. Do đó, với sự phát triển kinh tế - xã hội, người dân ngày càng có nhu cầu lớn đối với các dịch vụ CTXH. Các nhiệm vụ mà công tác xã hội thực hiện tại Việt Nam tuy nhiên không rõ nét, được hiểu dưới khái niệm bảo trợ xã hội hoặc các vấn đề về tệ nạn xã hội . Vai trò chính của công tác xã hội trong việc giải quyết những “tệ nạn xã hội” hiện có đã được xác định. Việc tổ chức cung cấp các dịch vụ công tác xã hội nhằm hỗ trợ các trung tâm cai nghiện, trung tâm phục hồi, chữa bệnh, giáo dục- lao động xã hội cho gái mại dâm và những người vi phạm pháp luật cũng như các trung tâm chăm sóc và hỗ trợ cho những người bị nhiễm HIV/AIDS, những phụ nữ bị buôn bán qua biên giới trở về hoà nhập cộng đồng là nhu cầu bức thiết của xã hội.
    Dịch vụ CTXH nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội. Dịch vụ công tác xã hội còn áp dụng cho gia đình, trẻ em, bạo lực, bạo hành hoặc bị bóc lột, các gia đình đang phải chịu các áp lực từ việc nghèo đói, từ các nhu cầu do sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế hay là nơi có nguy cơ về buôn bán trẻ em hoặc bị ép buộc tham gia vào các hoạt động mại dâm. Trẻ em khuyết tật cũng có các nhu cầu cụ thể riêng mà chưa được xã hội nhận biết một cách đầy đủ.
    Đối với các gia đình có vấn đề, mâu thuẫn, khủng hoảng, nhân viên công tác xã hội có thể giúp đỡ các gia đình đánh giá các mối quan hệ không phù hợp và nâng cao khả năng để giải quyết các vấn đề của gia đình thông qua việc sử dụng các phương pháp như tham vấn, làm việc với gia đình hoặc liệu pháp gia đình. Trong những tình huống phải can thiệp là bạo lực trong gia đình, dịch vụ công tác xã hội giúp từng thành viên của gia đình và toàn thể gia đình có thể sống cùng nhau một cách an toàn, hòa thuận, giải quyết các bất hòa và xử lý các vấn đề của gia đình. Bạo lực gia đình là một vấn đề có ảnh hưởng nhiều đến xã hội. Điều cần thiết ở đây là cần có dịch vụ công tác xã hội để bảo vệ an toàn cho nạn nhân (thường là phụ nữ) mà không bị cản trở bởi các thủ phạm (thường là nam giới).
    Đối với trẻ em, công tác xã hội đóng một vai trò chủ đạo trong việc đưa ra các dịch vụ dành cho trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt. Đối với một số loại nguy cơ của trẻ em, chẳng hạn như buôn bán người, trọng tâm hiện nay là tập trung giúp trẻ tiếp cận tư vấn và hỗ trợ pháp lý, vì vậy thuộc về trách nhiệm của ngành tư pháp. Tuy nhiên, nhân viên công tác xã hội không chỉ để thực hiện các dịch vụ hỗ trợ dựa vào cộng đồng (như giáo dục, tập huấn và chăm sóc cá nhân) mà còn giúp họ định hướng cuộc sống cho trẻ em ).
    Đối với các cá nhân khác trong cộng đồng: Các cá nhân (người lớn) và gia đình cũng cần có nhu cầu về trợ giúp xã hội (như là người mắc bệnh tâm thần, người tàn tật, người già không được gia đình chăm sóc hoặc nơi mà sự chăm sóc đang phải chịu sức ép rất lớn), dịch vụ công tác xã hội có thể đóng vai trò trong việc thực hiện hàng loạt các chức năng nhằm thúc đẩy việc nâng cao cuộc sống cho các cá nhân và gia đình cũng như khuyến khích cho các cộng đồng vững mạnh hơn.
    Xét về số lượng, số người cần tiếp cận, sử dụng các dịch vụ CTXH lớn, chiếm khoảng 28% dân số, trong đó trong đó có khoảng 11,5 triệu người cao tuổi, 7,6 triệu người khuyết tật, 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hàng triệu người hưởng trợ cấp người có công với cách mạng, 1,6 triệu hộ nghèo chiếm tỷ lệ 6,72%, 1,3 triệu hộ cận nghèo chiếm 5,32%, khoảng 2,83 triệu đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, hơn 1,8 triệu hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hàng năm, khoảng 254 nghìn người nhiễm HIV được phát hiện, hơn 210 nghìn người nghiện ma tuý, nhiều gia đình có bạo lực và bạo hành ở các cấp độ khác nhau; ngoài ra, còn nhiều phụ nữ, trẻ em bị ngược đãi, bị buôn bán, bị xâm hại hoặc lang thang kiếm sống trên đường phố; hàng ngàn xã đặc biệt khó khăn và có vấn đề xã hội (tệ nạn xã hội, cuộc sống nghèo khổ); và các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội nảy sinh các vấn đề xã hội (đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt).
    Cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội, hàng triệu cá nhân, gia đình, nhóm gặp phải các vấn đề xã hội (ly thân, ly hôn, bạo lực, bạo hành, nghèo đói, bị xâm hại, bỏ nhà đi lang thang, tệ nạn xã hội...); các vấn đề xã hội này luôn là vấn đề nổi cộm cần giải quyết, là mối quan tâm của mọi quốc gia.
    Như vậy, có thể thấy nhu cầu của người dân được thụ hưởng dịch vụ CTXH và thụ hưởng dịch vụ có chất lượng cao là rất lớn, tuy nhiên pháp luật còn chưa được điều chỉnh phù hợp để tăng khả năng tiếp cận; mở rộng đối tượng được tiếp cận thụ hưởng dịch vụ CTXH, nâng cao chất lượng dịch vụ và từ đó, nâng cao chất lượng sống của người dân.. Ví dụ, về đối tượng, Thông tư 23/2010/TT-BLĐTBXH quy định một số cơ sở để tiến hành can thiệp, nhưng mới tập trung vào nhóm trẻ em bị lạm dụng tình dục và bạo lực mà không tạo ra một cơ chế để can thiệp cho những trường hợp khác; mục đích bảo vệ trẻ em khỏi tất cả các nguy cơ đã được quy định tại Nghị định 144/2013/NĐ-CP, nhưng chỉ giải quyết các vi phạm quyền trẻ em ở mức độ tổng quát mà không đưa ra những quyền hạn cần thiết để hành động trong những tình huống cụ thể;  Luật Con nuôi chưa quy định cho nhân viên công tác xã hội có được vai trò trong việc đánh giá tình hình của trẻ, làm việc với cha/mẹ đẻ nếu trẻ không phải mồ côi hoàn toàn và kết nối với các gia đình nhận nuôi.
    Những vấn đề bất cập nêu trên đòi hỏi có sự điều chỉnh của pháp luật để thực hiện chính sách tăng khả năng tiếp cận dịch vụ CTXH và dịch vụ có chất lượng của các nhóm đối tượng thụ hưởng chính sách an sinh xã hội.
    b) Mục tiêu của chính sách
    - Thể chế hóa quy định của Hiến pháp "Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội” (Điều 34); “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác" (Khoản 2 Điều 59)…
             - Đáp ứng nhu cầu trợ giúp xã hội ngày càng cao của công dân, nhất là nhóm yếu thế dễ bị tổn thương, những người già cả, neo đơn, tàn tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi…;
    -    Người dân được thụ hưởng đầy đủ, có chất lượng các dịch vụ CTXH trong tất cả các ngành, lĩnh vực mà Nhà nước tổ chức và có điều kiện lựa chọn các hình thức cung cấp dịch vụ phù hợp, đáp ứng nhu cầu của đối tượng và toàn xã hội;
    -    Góp phần bảo đảm phát triển kinh tế đi đôi với công bằng xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
    c) Các giải pháp đề xuất
    Phương án 1: Giữ nguyên như hiện trạng
    Phương án 2: quy định việc thành lập và giải thể cơ sở cung ứng dịch vụ CTXH độc lập/chuyên nghiệp (điều kiện thành lập, tiêu chuẩn hoạt động…) và điều kiện hoạt động của các tổ chức có hoạt động dịch vụ CTXH.
    Phương án 3: như phương án 2 nhưng bổ sung quy định các quyền của đối tượng thụ hưởng dịch vụ CTXH (người sử dụng dịch vụ CTXH) và nghĩa vụ của người hành nghề CTXH.
    d) Đánh giá tác động của các giải pháp
    Phương án 1: Giữ nguyên như hiện nay.
    Tác động tích cực: Không có nhiều tác động tích cực;
    Tác động tiêu cực: Nếu giữ nguyên như hiện nay thì sẽ ảnh hưởng đáng kể đến quyền và lợi ích của những người có quyền được hưởng các dịch vụ CTXH; hệ thống các dịch vụ công về CTXH kém phát triển, trì trệ, không đáp ứng nhu cầu của xã hội; các quyền con người, quyền công dân về an sinh xã hội cũng như các chính sách an sinh xã hội không đi vào cuộc sống;
    Phương án 2:
    Tác động tích cực: Việc chuẩn hóa điều kiện thành lập, giải thể cơ sở cung cấp dịch vụ (công lập, ngoài công lập) sẽ góp phần nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ CTXH đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, nhu cầu của xã hội đồng thời tương thích với pháp luật quốc tế; bảo đảm được quyền của những người yếu thế trong xã hội.
    - Tăng đáng kể các hoạt động dịch vụ CTXH mà những người yếu thế trong xã hội như người khuyết tật, người cao tuổi, người nghèo… có điều kiện tiếp cận các nguồn lực thuận lợi và dễ dàng hơn, góp phần làm cho cuộc sống của họ đỡ khó khăn và ít thiệt thòi hơn.
    Tác động tiêu cực: Các chi phí phát sinh về ngân sách nhà nước và khu vực tư nhân để đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện đối với cơ sở dịch vụ CTXH; chi phí đào tạo, tuyển dụng nhân viên và các chi phí khác đáp ứng điều kiện thành lập…
    Phương án 3:
    Các tác động tương tự Phương án 2 và còn có thêm các tác động sau:
    (1)Tác động về kinh tế:
    *  Tiêu cực
    Phát sinh chi phí cho Nhà nước:  Chi phí đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực của cán bộ quản lý trong việc thực hiện cấp phép, đánh giá, kiểm tra, thanh tra, kiểm soát chất lượng dịch vụ của các cơ sở dịch vụ CTXH…có đáp ứng các quyền của người thụ hưởng dịch vụ hay không.
    * Tích cực: Giảm chi cho ngân sách nhà nước nhờ các tác động xã hội như phân tích dưới đây.
    (2)Tác động về  xã hội
    * Tiêu cực: Không có tác động tiêu cực rõ rệt nếu thực hiện phương án này. Có thể việc thực hiện phương án này sẽ làm những người thực hành CTXH bị áp lực về việc đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn. Việc quy định quyền của người thụ hưởng dịch vụ cũng có thể làm tăng các mâu thuẫn và xung đột giữa các bên (người hành nghề CTXH và người sử dụng dịch vụ CTXH)... Việc thực hiện phương án này có thể có những người theo quan điểm cực đoan, coi là “sự xa xỉ” khi quy định nhiều quyền của người sử dụng dịch vụ trong khi điều kiện thực tế của các cơ sở dịch vụ còn chưa đáp ứng. Tuy nhiên, các mâu thuẫn và xung đột cũng như phản ứng chính sách sau một thời gian thi hành Luật sẽ giảm đi do các bên đều hiểu biết và nhận thức hơn về quyền và nghĩa vụ của mình.
    * Tích cực:
    - Chất lượng cung cấp dịch vụ xã hội được cải thiện, thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế - xã hội: hình thành đội ngũ người làm CTXH chuyên nghiệp một mặt giải quyết những hệ quả do phát triển kinh tế mang lại, giảm thất nghiệp, tệ nạn xă hội, mặt khác thúc đẩy ổn định và phát triển xã hội.
    - Quyền của người sử dụng dịch vụ công tác xã hội được bảo đảm trong trường hợp Luật quy định rõ các quyền của họ: Quyền được sử dụng dịch vụ, (bao gồm quyền được tư vấn, hướng dẫn về nhu cầu, phương pháp công tác xã hội và dịch vụ công tác xã hội phù hợp, được sử dụng dịch vụ công tác xã hội hợp lý và hiệu quả theo các quy định chuyên môn nghiệp vụ công tác xã hội); Quyền được tôn trọng bí mật riêng tư (được giữ bí mật thông tin về cá nhân và gia đình được ghi trong hồ sơ quản lý trường hợp; chỉ được phép công bố khi đối tượng sử dụng dịch vụ công tác xã hội đồng ý hoặc trong trường hợp khác được pháp luật quy định); Quyền được tôn trọng danh dự, bảo vệ trong quá trình sử dụng dịch vụ công tác xã hội (không bị kỳ thị, phân biệt đối xử hoặc bị ép buộc sử dụng dịch vụ, trừ trường hợp pháp luật quy định; được tôn trọng về tuổi tác, giới tính, dân tộc, tín ngưỡng); Quyền được lựa chọn sử dụng dịch vụ công tác xã hội…
        - Các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn (gần 1/3 dân số) được hưởng lợi từ chính sách mới này (được hỗ trợ, trợ giúp, hướng dẫn…), đồng thời đáp ứng được nhu cầu của người dân trong việc thụ hưởng dịch vụ CTXH. Ðối tượng cần trợ giúp xã hội chiếm một số lượng rất lớn trong tổng số dân số ở nước ta. Tuy nhiên, hiện nay sự quan tâm, nhận thức về đối tượng cần trợ giúp xã hội và mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội của nhiều cấp, nhiều ngành và cộng đồng còn hạn chế nên nhiều nhóm đối tượng như: người khuyết tật, người bị bệnh tâm thần, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khãn, người nhiễm HIV/AIDS thường bị kỳ thị, coi thường, xa lánh. Gia đình đối tượng phải chăm sóc lâu ngày nên chán nản, cùng với khó khăn về kinh tế đã buông xuôi, để lang thang hoặc phó mặc cho xã hội. Do vậy, đối tượng bảo trợ xã hội rất thiệt thòi trên bình diện quyền con người.
    3) Tác động về giới:
    Cùng với sự phát triển của kinh tế là các vấn đề gia đình ngày càng gia tăng. Dịch vụ CTXH chuyên nghiệp sẽ hỗ trợ giải quyết các vấn đề xảy ra trong gia đình, trợ giúp có hiệu quả đối với phụ nữ là nạn nhân bị bạo lực, bạo hành trong gia đình và trẻ em gái bị buôn bán, tạo sự ổn định, phát triển của xã hội.
    Giảm gánh nặng của phụ nữ và trẻ em gái trong việc chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, người bị rối nhiễu tâm trí trong gia đình .
    (4) Tác động về thủ tục hành chính
    Chính sách này không trực tiếp làm phát sinh thủ tục hành chính.
    (5) Tác động đối với hệ thống pháp luật
    Chính sách này phù hợp với quy định và tinh thần Hiến pháp và hệ thống pháp luật hiện hành về bảo đảm an sinh xã hội cho người dân.
    đ) Kiến nghị giải pháp lựa chọn
    Từ những phân tích ở trên, việc lựa chọn phương án 3 là hợp lý. Những tác động tích cực của giải pháp chính sách có thể đạt cao hơn nếu kết hợp tăng cường việc thực hiện các biện pháp thúc đẩy truyền thông, nâng cao nhận thức của người dân, của cán bộ, công chức, người dân, doanh nghiệp và toàn xã hội về CTXH và pháp luật về CTXH.


    Chính sách 2: Kiện toàn, chuẩn hóa đội ngũ làm công tác xã hội
    a)    Xác định vấn đề bất cập
    Hiện nay, pháp luật Việt Nam đã có quy định trực tiếp về người làm CTXH thông qua các quy định chung về tổ chức cán bộ. Công tác xã hội đang được cán bộ ở nhiều ngành tham gia, tuy nhiên, những cán bộ đó trên thực tế là cán bộ thuộc biên chế của những tổ chức, cơ quan, đơn vị cụ thể, do vậy trước hết họ phải thực hiện chức trách của người thuộc tổ chức, cơ quan, đơn vị đó;  CTXH chưa phải là công việc chính thường xuyên của họ.
    Đối với nguồn nhân lực làm CTXH hiện còn có một số bất cập thực tiễn như thiếu về số lượng nhân viên làm nghề CTXH, yếu về năng lực nên chất lượng chuyên môn không đảm bảo, hoạt động còn thiếu chuyên nghiệp. Đội ngũ cán bộ, nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội còn mỏng và chưa chuyên nghiệp do đa số được đào tạo từ ngành, nghề khác, đội ngũ cộng tác viên CTXH tại cộng đồng mới bước đầu được hình thành tại một số địa phương. Năng lực của đội ngũ cán bộ, nhân viên, cộng tác viên CTXH mặc dù đã qua đào tạo nhưng mới chỉ nắm kiến thức lý thuyết mà kỹ năng còn chưa đáp ứng, thiếu kiến thức thực hành. Việc chuẩn hóa đội ngũ làm CTXH càng trở nên bất cập trong điều kiện chương trình, giáo trình giảng dạy về công tác xã hội còn thiếu, chất lượng, phương pháp giảng dạy của đội ngũ giảng viên công tác xã hội còn hạn chế trong khi hệ thống cơ sở dạy nghề công tác xã hội còn thiếu về số lượng, chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo.
    Những bất cập nêu trên dẫn đến các bất cập khác là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của những người có quyền được hưởng các dịch vụ CTXH. Vì vậy, số lượng người dân, đặc biệt là những người dân có hoàn cảnh đặc biệt như người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nhiễm HIV/AIDS… và các nhóm đối tượng bảo trợ xã hội có nhu cầu trợ giúp xã hội được tiếp cận, thụ hưởng dịch vụ công tác xã hội còn ít.
    Các bất cập thực tiễn do nhiều nguyên nhân nhưng có nguyên nhân chính là  do thiếu các quy định pháp luật có tính chất kiểm soát về năng lực chuyên môn, về nghĩa vụ, trách nhiệm của người hành nghề CTXH, như: (i) chưa có quy định về tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề; (ii) chưa có quy định điều kiện thu hồi chứng chỉ hành nghề CTXH; (iii) chưa có cơ chế cấp phép hành nghề, cơ chế theo dõi, giám sát, đánh giá chất lượng hành nghề công tác xã hội cho một số lĩnh vực chuyên biệt...; (iv)  chưa quy định rõ về quy trình hoạt động, chế độ, chính sách đối với người hành nghề CTXH; (v) chưa có các giải pháp nâng cao năng lực, đào tạo, bồi dưỡng đối với người hành nghề CTXH chuyên nghiệp và những người làm CTXH;… (vi) chưa có quy định về hoạt động nghề nghiệp của viên chức hay đạo đức nghề nghiệp, quy tắc ứng xử của viên chức nghề công tác xã hội; về tiêu chuẩn phân hạng chức danh nghề nghiệp; (vi) chưa có quy định cụ thể về nội dung, chương trình, hình thức, thời gian bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp CTXH…
    Những bất cập nêu trên đòi hỏi cần có sự điều chỉnh của pháp luật, hoàn thiện pháp luật về CTXH nhằm kiện toàn, chuẩn hóa đội ngũ làm CTXH.
    b) Mục tiêu của chính sách
    - Chuyên nghiệp hóa hoạt động công tác xã hội, bảo đảm can thiệp kịp thời và hỗ trợ hiệu quả đối với cá nhân, nhóm, gia đình, cộng đồng, người dân gặp hoàn cảnh khó khăn hoặc có nhu cầu;
    - Nâng cao chất lượng, hiệu quả và phát triển dịch vụ công tác xã hội, đáp ứng nhu cầu của người dân về chất lượng dịch vụ.
    c) Các giải pháp đề xuất
    Phương án 1: Giữ nguyên như hiện nay
    Phương án 2: Mở rộng đối tượng hành nghề CTXH không chỉ là viên chức.
    Phương án 3: Mở rộng đối tượng hành nghề CTXH không chỉ là viên chức đồng thời bổ sung quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của người hành nghề CTXH và chế độ, chính sách đối với người hành nghề CTXH. Quy định cụ thể trong Luật CTXH các tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề (phải qua đào tạo, tập sự hành nghề CTXH; có chứng chỉ hành nghề CTXH); quy định việc sử dụng, thu hồi chứng chỉ hành nghề CTXH; quy định quy trình hoạt động, nâng cao năng lực, đào tạo, bồi dưỡng đối với người hành nghề CTXH chuyên nghiệp và những người làm CTXH;…
    d) Đánh giá tác động của các giải pháp
    Phương án 1: Giữ nguyên như hiện nay.
            Tác động tích cực: Không có tác động tích cực
    Tác động tiêu cực: Nếu giữ nguyên như hiện nay vẫn tồn tại các bất cập nêu trên (thiếu về số lượng nhân viên làm nghề CTXH, yếu về năng lực, chất lượng chuyên môn không đảm bảo, hoạt động thiếu chuyên nghiệp…) dẫn đến các bất cập khác là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của những người có quyền được hưởng các dịch vụ CTXH.
    Phương án 2 (Mở rộng đối tượng người làm nghề công tác xã hội không chỉ có viên chức)
    Tác động tích cực:  Việc mở rộng đối tượng người làm nghề công tác xã hội không chỉ có viên chức thúc đẩy việc xã hội hóa hoạt động CTXH; thu hút các nguồn lực trong xã hội; tạo việc làm cho người lao động; tăng khả năng cung ứng các dịch vụ công trong xã hội; nâng cao chất lượng các dịch vụ trợ giúp xã hội, nhất là các dịch vụ cần có sự giúp đỡ, can thiệp trực tiếp của nhân viên xã hội (liên quan đến tâm lý…); khắc phục được nguồn cung về nhân lực về CTXH còn đang thiếu hiệu nay; hỗ trợ tốt hơn cho các đối tượng thụ hưởng chính sách của Nhà nước về an sinh xã hội.
    Tác động tiêu cực: Việc mở rộng đối tượng người làm nghề công tác xã hội sẽ làm tăng các chi phí đào tạo, quản lý và các chi phí khác có liên quan đến nguồn nhân lực. Chi phí nhiều hay ít sẽ phụ thuộc vào số lượng đối tượng làm nghề CTXH được tăng thêm. Tuy nhiên, nếu cân bằng giữa chi phí – lợi ích thì các tác động tích cực của phương án này là lớn hơn tác động tiêu cực.
    Phương án 3:
    (1)Tác động về kinh tế:
    *  Tiêu cực
    Phát sinh chi phí cho Nhà nước:
    - Chi phí đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực:
    + Đối với công chức, viên chức thuộc trách nhiệm của Nhà nước: 200 tỷ đồng/năm.
    + Viên chức làm việc tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục, y tế, chăm sóc NCT, trẻ em, người khuyết tật (50.000 người): 200 tỷ đồng/năm
    + Cộng tác viên đang làm việc tại các Hội, đoàn thể (tự lo) khoảng 100.000 người: 300 tỷ đồng/năm
    + Cộng tác viên tại cộng đồng (giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội, người cao tuổi…) lồng ghép các chương trình, Đề án: 200 tỷ đồng/năm.
    + Giải pháp này làm tăng thêm thủ tục hành chính đối với việc cấp và thu hồi chứng chỉ hành nghề, ước tính khoảng 100 tỷ đồng, trong đó Nhà nước phải chi khoảng 50%.
    * Tích cực:
     Giảm chi cho ngân sách nhà nước
    - Hiện nay, đội ngũ người làm CTXH cơ bản là viên chức và hưởng lương cũng chủ yếu từ ngân sách nhà nước. Việc ban hành chính sách mới theo hướng mở rộng đối tượng người làm nghề CTXH không chỉ có viên chức mà theo hướng quy định cụ thể các tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề sẽ dần hình thành một đội ngũ người làm công tác xã hội hoạt động không hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
    - Giảm chi ngân sách nhờ việc mở rộng đối tượng tham gia CTXH; đặc biệt là giảm các chi phí đào tạo nguồn nhân lực từ ngân sách nhà nước.
    - Việc mở rộng các đối tượng tham gia CTXH, có thể làm tăng tính cạnh tranh, gia tăng nhanh các dịch vụ miễn phí dịch vụ CTXH hoặc giảm phí dịch vụ đối với người sử dụng dịch vụ CTXH; mặt khác với nhu cầu ngày càng cao của xã hội, khi phát triển dịch vụ CTXH sẽ đem lại một nguồn thu đáng kể khi dịch vụ CTXH đáp ứng được nhu cầu của người dân. 
    (2)Tác động về  xã hội
    * Tiêu cực:
    - Một số người sẽ mất việc làm do không đáp ứng được điều kiện/tiêu chuẩn mới đối với người làm CTXH. Một số người có thể sẽ không đồng tình việc thực hiện chính sách mới do họ phải mất thời gian, kinh phí cho việc bồi dưỡng kiến thức kỹ năng theo yêu cầu hoặc khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức mới…
     - Việc đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chuyên môn, năng lực cho các đối tượng đang tham gia CTXH hiện nay có thể khó đạt được mục đích đối với tất cả những người tham gia.
    * Tích cực:
    - Chuyên nghiệp hóa đội ngũ những người làm CTXH, nâng cao được trình độ, chuyên môn nghiệp vụ cho người làm CTXH: thông qua việc ban hành chính sách mới theo hướng quy định cụ thể các tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề (phải qua đào tạo, tập sự hành nghề CTXH; được cấp chứng chỉ hành nghề CTXH); sử dụng, thu hồi chứng chỉ hành nghề; quyền, nghĩa vụ của người hành nghề và các hành vi bị nghiêm cấm, sẽ hình thành được đội ngũ những người làm CTXH chuyên nghiệp đáp ứng được nhu cầu phát triển xã hội đồng thời phù hợp với xu thế quốc tế.
    - Chất lượng cung cấp dịch vụ xã hội được cải thiện, thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế - xã hội: hình thành đội ngũ người làm CTXH chuyên nghiệp một mặt giải quyết những hệ quả do phát triển kinh tế mang lại, giảm thất nghiệp, tệ nạn xă hội, mặt khác thúc đẩy ổn định và phát triển xã hội.
    - Nâng cao vị thế của người làm CTXH trong xã hội: khi có đội ngũ người làm CTXH chuyên nghiệp và dịch vụ CTXH phát triển, đáp ứng được nhu cầu của xã hội thì vị thế của người làm CTXH sẽ được nâng cao; từ đó, khuyến khích được người làm CTXH yên tâm với nghề; thu hút được những người có chuyên môn cao vào nghề cũng như giữ họ tiếp tục ở lại với nghề: khi CTXH trở thành một nghề chuyên nghiệp, có vị thế so với các nghề khác trong xã hội sẽ thu hút được nguồn nhân lực làm nghề CTXH, khuyến khích những người đang làm nghề CTXH yên tâm, cống hiến cho nghề. Đây là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng cung cấp dịch vụ cũng như thúc đẩy sự phát triển của hoạt động CTXH.
    - Sử dụng tối đa nguồn lực hiện có về CTXH để phục vụ cho nhu cầu xã hội (hiện nay đối tượng cần trợ giúp xã hội chiếm khoảng 28% dân số cả nước); vừa không làm tăng biên chế, vừa tăng thêm đội ngũ hành nghề CTXH, vừa tận dụng được kinh nghiệm của đội ngũ người làm CTXH cũng như tránh được những xáo trộn không cần thiết về nhân sự, về tổ chức.
    - Giải pháp tăng cường truyền thông và đào tạo lại: Chi phí cho truyền thông: 100 tỷ đồng/năm. Còn các chi phí đào tạo lại đã được tính ở trên.
    - Quyền của người sử dụng dịch vụ công tác xã hội được bảo đảm; được hưởng lợi từ chính sách mới này (được hỗ trợ, trợ giúp, hướng dẫn…), đồng thời đáp ứng được nhu cầu của người dân trong việc thụ hưởng dịch vụ CTXH. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các đối tượng bên cạnh việc được chăm sóc, nuôi dưỡng thì việc tư vấn, tham vấn giúp phục hồi chức năng, sức khoẻ sẽ ổn định, một số chức năng được phục hồi như: trí nhớ, ý thức, có thể tự phục vụ bản thân và có thể tham gia lao động; đối tượng được cung cấp các dịch vụ công tác xã hội thì có thể giải quyết các vấn đề của chính mình; hoặc được hỗ trợ giáo dục, học nghề, tìm việc làm thì có khả năng tạo lập cuộc sống ổn định, bền vững và hòa nhập cộng đồng.
    Do vậy, đội ngũ người làm CTXH chuyên nghiệp có kiến thức, kỹ năng, có trình độ, giàu lòng yêu thương, yêu nghề, tâm huyết và trách nhiệm với công việc là hết sức quan trọng, bảo đảm việc trợ giúp đối tượng phục hồi chức năng, hòa nhập cộng đồng, ổn định cuộc sống và có cơ hội phát triển, vươn lên trong cuộc sống. Đồng thời đáp ứng được nhu cầu của người dân trong việc thụ hưởng dịch vụ CTXH.
    - Nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với người làm CTXH: hiện nay, bên cạnh đội ngũ viên chức làm CTXH hoạt động theo quy định của pháp luật về viên chức, còn có đội ngũ cộng tác viên CTXH và những người làm công việc thiện nguyện hoạt động tự phát, theo phong trào, không có quy định về yêu cầu tiêu chuẩn kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức. Do vậy, công tác quản lý nhà nước gặp nhiều khó khăn. Việc quy định cụ thể về tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề (phải qua đào tạo, tập sự hành nghề CTXH; được cấp chứng chỉ hành nghề CTXH); sử dụng, thu hồi chứng chỉ hành nghề sẽ giúp Nhà nước quản lý hiệu quả hoạt động CTXH, hạn chế hiện tượng vi phạm và khi có vi phạm xảy ra sẽ xử lý kịp thời.
    - Sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có thuận lợi là không làm tăng biên chế, tận dụng được kinh nghiệm của đội ngũ người làm CTXH này nhưng lại chưa bổ sung ngay và hết được lực lượng sinh viên đã tốt nghiệp cử nhân Công tác xã hội (hệ chính quy đã đào tạo 6.219 người). Điều này phần nào có thể được giải quyết bằng cách tăng số lượng vị trí công việc cho nhân viên công tác xã hội và hướng đến tuyển dụng cử nhân Công tác xã hội khi tuyển nhân viên mới nhằm tránh tình trạng do thiếu cơ hội việc làm trong lĩnh vực công tác xã hội nên không ít sinh viên đã tốt nghiệp không làm công việc về công tác xã hội, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, mà tìm công việc trong các lĩnh vực khác.
    (3) Tác động về giới:
    Cùng với sự phát triển của kinh tế là các vấn đề gia đình ngày càng gia tăng. Dịch vụ CTXH chuyên nghiệp sẽ hỗ trợ giải quyết các vấn đề xảy ra trong gia đình, trợ giúp có hiệu quả đối với phụ nữ là nạn nhân bị bạo lực, bạo hành trong gia đình và trẻ em gái bị buôn bán, tạo sự ổn định, phát triển của xã hội. (Ước tính dịch vụ CTXH can thiệp, trợ giúp cho khoảng 30.000 lượt người).
    Giảm gánh nặng của phụ nữ và trẻ em gái trong việc chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, người bị rối nhiễu tâm trí trong gia đình . Ước tính giảm chi phí cho các gia đình khoảng 300 tỷ đồng/năm.
    (4) Tác động về thủ tục hành chính
    Với quy định mở rộng đối tượng người làm nghề Công tác xã hội không chỉ có viên chức mà theo hướng quy định cụ thể các tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề (phải qua đào tạo, tập sự hành nghề CTXH; được cấp chứng chỉ hành nghề CTXH) thì sẽ phát sinh thủ tục cấp, thu hồi chứng chỉ hành nghề CTXH song đây là quy định cần thiết để nghề CTXH phát triển thành một nghề chuyên nghiệp.
    (5) Tác động đối với hệ thống pháp luật
    Với quy định của chính sách sẽ ghi nhận thêm quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc thực hiện và thụ hưởng dịch vụ CTXH. Quy định này hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp và hệ thống pháp luật hiện hành về bảo đảm an sinh xã hội cho người dân.
    Hiện nay, đã có quy định về mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành CTXH (Thông tư số 30/2015/TT-BLĐTBXH ngày 19/8/2015). Trong trường hợp Luật CTXH mở rộng đối tượng người làm nghề Công tác xã hội không chỉ có viên chức mà theo hướng quy định cụ thể các tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề (phải qua đào tạo, tập sự hành nghề CTXH; được cấp chứng chỉ hành nghề CTXH); sử dụng, thu hồi chứng chỉ hành nghề; Quyền, nghĩa vụ của người hành nghề và các hành vi bị nghiêm cấm thì cần phải chuẩn hóa lại hệ thống văn bản có liên quan, bao gồm các văn bản hướng dẫn về hành nghề CTXH và các quy định liên quan đến chế tài xử phạt đối với người hành nghề CTXH.
    đ) Kiến nghị giải pháp lựa chọn
    Từ những phân tích ở trên, việc lựa chọn giải pháp xây dựng chính sách theo hướng mở rộng đối tượng người làm nghề CTXH không chỉ có viên chức đồng thời quy định cụ thể các tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề (phải qua đào tạo, tập sự hành nghề CTXH; được cấp chứng chỉ hành nghề CTXH); sử dụng, thu hồi chứng chỉ hành nghề; Quyền, nghĩa vụ của người hành nghề và các hành vi bị nghiêm cấm nhằm xây dựng đội ngũ người làm CTXH chuyên nghiệp là hợp lý.
    Những tác động tiêu cực của giải pháp chính sách có thể được hạn chế, khắc phục thông qua việc thực hiện các biện pháp thúc đẩy truyền thông, nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, người dân, doanh nghiệp và toàn xã hội về CTXH.
    3. Chính sách 3: Mở rộng, phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ công tác xã hội đáp ứng nhu cầu người dân
    a)    Xác định vấn đề bất cập
    Để phát triển hệ thống các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội hoạt động hiệu quả thì kiện toàn hệ thống các cơ sở. Nhóm cơ sở công lập, gồm: Cơ sở TGXH, cơ sở người có công, cơ sở cai nghiện, tính mỗi năm hiện nay Nhà nước bỏ ra khoảng 1.000 tỷ đồng/năm. Cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội do Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cho phép thành lập trên cơ sở đề xuất của các cơ quan chức năng hoặc các tổ chức chính trị - xã hội và cử cán bộ quản lý, điều hành. Hiện nay, các tỉnh/thành phố đã hình thành, xây dựng mô hình Trung tâm công tác xã hội, trong đó tổng số cán bộ, nhân viên hiện đang làm việc tại các Trung tâm công tác xã hội là 778 cán bộ, nhân viên, trong đó nữ là 546 cán bộ, chiếm tỷ lệ 70,18% số cán bộ, nhân viên.
    Nguồn kinh phí hoạt động của Trung tâm do ngân sách nhà nước hỗ trợ, nguồn thu từ hợp đồng cung cấp dịch vụ cho chương trình, dự án trong nước hoặc quốc tế; đóng góp tự nguyện của đối tượng; hỗ trợ của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Ngân sách Trung ương hỗ trợ xây dựng, trang bị ban đầu cho Trung tâm trong thời gian triển khai thí điểm.
    Nhiệm vụ của các Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội đã được quy định tại Nghị định 103/2017/NĐ-CP ngày 12/9/2017 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội.
    Trung tâm công tác xã hội đóng vai trò cầu nối với các ngành và dịch vụ khác như y tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo và hệ thống tư pháp, đồng thời trợ giúp đối tượng, cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng góp phần tạo thuận lợi cho các đối tượng tiếp cận được các dịch vụ xã hội giúp họ giải quyết được các vấn đề gặp phải, nhằm nâng cao an sinh xã hội cho người dân. Tuy nhiên, trong xu hướng phát triển chung của nền an sinh xã hội, mạng lưới các trung tâm công tác xã hội hiện nay vẫn thiếu về số lượng; dịch vụ còn hạn chế, chưa chuyên nghiệp. Cơ sở vật chất của nhiều trung tâm chưa đáp ứng được yêu cầu, chăm sóc ngắn hạn và cung cấp các dịch vụ công tác xã hội cho đối tượng. Một số trung tâm mới được xây dựng nên trang thiết bị cần thiết để phục hồi chức năng còn thiếu thốn; cán bộ làm công tác xã hội còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng. Các dịch vụ công tác xã hội mới bước đầu được cung cấp cho đối tượng, còn thiếu tính chuyên nghiệp. Một số trung tâm còn chưa chủ động trong việc tuyên truyền, định hướng người dân tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ; chưa cung cấp dịch vụ công tác xã hội sâu rộng ra ngoài cộng đồng; chưa thiết lập được đội ngũ cộng tác viên tại cộng đồng; chưa vận động, xây dựng được cơ chế hợp tác liên ngành trong việc tổ chức cung cấp dịch vụ cho đối tượng.
    Theo xu hướng quốc tế, cơ quan quản lý nhà nước chủ yếu làm nhiệm vụ quản lý nhà nước, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra, bảo đảm các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội hoạt động theo đúng quy định của pháp luật. Việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho các đối tượng thuộc diện bảo trợ xã hội và người dân có nhu cầu do mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ công lập và ngoài công lập thực hiện theo cơ chế thu phí, cơ chế đặt hàng hoặc kí hợp đồng cung cấp dịch vụ. Các cơ sở này cung cấp dịch vụ ra ngoài cộng đồng, quản lý đối tượng ngoài cộng đồng. Nước ta chưa có hệ thống tổ chức mang tính chuyên nghiệp về CTXH, đặc biệt ở các cấp huyện, cơ sở và cộng đồng, mặc dù vẫn có một số cơ quan chức năng đảm nhiệm thực thi CTXH từ trung ương đến địa phương. Tình trạng nhiều cơ quan hoạt động bán chuyên nghiệp vẫn là chủ yếu dẫn đến chất lượng, hiệu quả CTXH chưa cao, lãng phí nguồn lực.
    Những bất cập nêu trên đòi hỏi cần có sự điều chỉnh của pháp luật nhằm phát triển hệ thống cơ sở dịch vụ CTXH, chuyên nghiệp hóa hoạt động dịch vụ CTXH để nâng cao chất lượng dịch vụ và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội đối với dịch vụ này.
    b) Mục tiêu giải quyết vấn đề bất cập
    -    Hình thành hệ thống cung cấp dịch vụ CTXH phù hợp với các đối tượng có nhu cầu trong xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội về cung cấp dịch vụ CTXH và bảo đảm chất lượng của dịch vụ CTXH (đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng dịch vụ);
    -    Góp phần tăng khả năng tiếp cận của công dân đối với các dịch vụ CTXH; góp phần bảo đảm nhu cầu được trợ giúp xã hội của nhóm yếu thế trong xã hội.
    -    Chuẩn hóa và chuyên nghiệp hóa hoạt động của các tổ chức cung ứng dịch vụ CTXH.
    -     Góp phần sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện CTXH.
    c)    Các giải pháp đề xuất
    Phương án 1: Giữ nguyên như hiện nay
    Phương án 2: Thiết lập/xây dựng tổ chức hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH, bao gồm: (i) tổ chức cung cấp dịch vụ CTXH công lập do nhà nước quản lý   và (ii) các tổ chức thực hiện cung cấp dịch vụ CTXH (ngoài nhà nước) có đủ điều kiện thành lập; đồng thời xã hội hóa hoạt động CTXH theo hướng huy động sự tham gia, thu hút các nguồn lực (nhân lực và tài lực) vào CTXH (cung cấp dịch vụ miễn phí).
    Phương án 3:  Như phương án 2 nhưng bổ sung quy định nhằm kiểm chất lượng dịch vụ CTXH, thiết lập cơ chế giám sát, quản lý và đánh giá chất lượng dịch vụ CTXH.
    d)    Đánh giá tác động của các giải pháp
    Phương án 1: (Giữ nguyên như hiện nay)
    Tác động tích cực: Không có tác động tích cực
    Tác động tiêu cực: Nếu giữ nguyên như hiện nay thì vẫn tồn tại các bất cập nêu trên.
    Phương án 2:
    Tác động tích cực: Nhà nước có điều kiện tập trung nguồn lực vào một số lĩnh vực, đối tượng phục vụ nhất định: phù hợp với xu hướng đổi mới và sắp xếp lại vị trí việc làm của cả hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước; kinh phí bố trí cho các cơ quan đơn vị đúng mục đích, không dàn trải và chồng chéo.
    Thực hiện phương án này, Nhà nước có điều kiện sử dụng hợp lý các nguồn lực cho phát triển CTXH, thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa của nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụ công: thu hút các nguồn lực khi thực hiện xã hội hóa cho hoạt động CTXH (về nhân lực, kinh phí, cơ sở vật chất); đa dạng hóa cơ sở cung cấp dịch vụ (công lập, ngoài công lập) sẽ góp phần phát triển đầy đủ các lĩnh vực cung cấp dịch vụ CTXH đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, nhu cầu của xã hội đồng thời tương thích với pháp luật quốc tế; bảo đảm được quyền của những người yếu thế trong xã hội. Sự đa dạng hóa này sẽ làm tăng đáng kể các hoạt động dịch vụ CTXH mà những người yếu thế trong xã hội như người khuyết tật, người cao tuổi, người nghèo… có điều kiện tiếp cận các nguồn lực thuận lợi và dễ dàng hơn, góp phần làm cho cuộc sống của họ đỡ khó khăn và ít thiệt thòi hơn.
    Tác động tiêu cực: Nhà nước phải sắp xếp, kiện toàn lại tổ chức (một số bộ phận, phòng, ban, cơ sở,..) để phù hợp với công tác cung cấp dich vụ, quản lý mới: việc sắp xếp, kiện toàn lại mất nhiều thời gian, chi phí cũng như sẽ gặp phải rào cản ngại thay đổi của một số cá nhân hoặc tổ chức.
    Phương án 3:
    Ngoài các tác động tích cực, tiêu cực của phương án 2, phương án này còn có các tác động sau đây:
    (1)    Tác động về kinh tế
    * Tiêu cực:
    - Phải sắp xếp, kiện toàn lại tổ chức (một số bộ phận, phòng, ban, cơ sở,..)  để phù hợp với công tác cung cấp dich vụ, quản lý mới: việc sắp xếp, kiện toàn lại mất nhiều thời gian, chi phí cũng như sẽ gặp phải rào cản ngại thay đổi của một số cá nhân hoặc tổ chức.
    - Nếu thực hiện chính sách của Luật về kiện toàn và phát triển hệ thống thì NSNN đầu tư tăng khoảng 20%/năm (khoảng 200 tỷ đồng/năm), phù hợp với sự gia tăng của kinh tế; ước tính nhóm đơn vị sự nghiệp có thể tăng 500 tỷ đồng/năm nhưng các đơn vị tự bảo đảm; nhóm cơ sở ngoài công lập có thể 500 tỷ đồng/năm (cơ sở tự lo).
    - Phát sinh chi phí nghiên cứu, xây dựng tiêu chuẩn cụ thể của cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH (điều kiện thành lập, hoạt động, giải thể, chấm dứt hoạt động, quyền hạn, trách nhiệm,...); chi phí để vận hành đúng quy trình, tiêu chuẩn cung cấp dịch vụ CTXH; tiêu chuẩn về chất lượng dịch vụ CTXH; các chi phí giám sát, quản lý và đánh giá chất lượng cung cấp dịch vụ CTXH …
    * Tích cực:
    - Có điều kiện tập trung nguồn lực vào một số lĩnh vực, đối tượng phục vụ nhất định: phù hợp với xu hướng đổi mới và sắp xếp lại vị trí việc làm của cả hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước; kinh phí bố trí cho các cơ quan đơn vị đúng mục đích, không dàn trải và chồng chéo.
    - Sử dụng hợp lý các nguồn lực cho phát triển CTXH, thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa của nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụ công: thu hút các nguồn lực khi thực hiện xã hội hóa cho hoạt động CTXH (về nhân lực, kinh phí, cơ sở vật chất); đa dạng hóa cơ sở cung cấp dịch vụ (công lập, ngoài công lập) sẽ góp phần phát triển đầy đủ các lĩnh vực cung cấp dịch vụ CTXH đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, nhu cầu của xã hội đồng thời tương thích với pháp luật quốc tế; bảo đảm được quyền của những người yếu thế trong xã hội. Sự đa dạng hóa này sẽ làm tăng đáng kể các hoạt động dịch vụ CTXH mà những người yếu thế trong xã hội như người khuyết tật, người cao tuổi, người nghèo… có điều kiện tiếp cận các nguồn lực thuận lợi và dễ dàng hơn, góp phần làm cho cuộc sống của họ đỡ khó khăn và ít thiệt thòi hơn.
    Việc xã hội hóa hoạt động CTXH sẽ thu hút các nguồn lực trong xã hội; tạo việc làm cho người lao động; tăng khả năng cung ứng các dịch vụ công trong xã hội; nâng cao chất lượng các dịch vụ trợ giúp xã hội, nhất là các dịch vụ cần có sự giúp đỡ, can thiệp trực tiếp của nhân viên xã hội (liên quan đến tâm lý…); khắc phục được nguồn cung về nhân lực về CTXH còn đang thiếu hiệu nay; hỗ trợ tốt hơn cho các đối tượng thụ hưởng chính sách của Nhà nước về an sinh xã hội.   
    (2)    Tác động về xã hội
    - Góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững, ổn định xã hội. Thực tế nhiều quốc gia cho thấy sự phát triển của nghề CTXH tỷ lệ thuận với sự phát triển kinh tế và sự ổn định của xã hội.
    - Bảo đảm được quyền của những người yếu thế trong xã hội. Nhờ hoạt động dịch vụ CTXH mà những người yếu thế trong xã hội như người khuyết tật, người cao tuổi, người nghèo… có điều kiện tiếp cận các nguồn lực góp phần làm cho cuộc sống của mình đỡ khó khăn hơn, thuận lợi hơn.
    - Được cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với một số lĩnh vực, đối tượng nhất định theo quy định của pháp luật.
    - Thu hút sự đóng góp từ khu vực tư; thúc đẩy các hoạt động từ thiện, thiện nguyện của các cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực CTXH (dịch vụ CTXH miễn phí tương tự mô hình Luật sư tham gia trợ giúp pháp lý miễn phí).
    - Tránh được tối da những rủi ro có thế xảy ra do đã được chuẩn hóa cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH (điều kiện thành lập, hoạt động, giải thể, chấm dứt hoạt động, quyền hạn, trách nhiệm,...); về quy trình, về tiêu chuẩn cung cấp dịch vụ CTXH; về tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ CTXH, cơ chế giám sát, quản lý và đánh giá chất lượng.
    Sự minh bạch, rõ ràng của pháp luật về các tiêu chuẩn cụ thể của cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH công lập và ngoài công lập; về điều kiện thành lập, hoạt động, giải thể, chấm dứt hoạt động, quyền hạn, trách nhiệm,...; về quy trình, tiêu chuẩn cung cấp dịch vụ CTXH;  về tiêu chí đánh giá về chất lượng dịch vụ CTXH; về cơ chế giám sát, quản lý và đánh giá chất lượng dịch vụ CTXH) sẽ có tác động đáng kể đối với việc nâng cao hiệu quả, chất lượng của các dịch vụ công và chất lượng của từng hoạt động, lĩnh vực cung ứng dịch vụ công; tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ công cũng như thu hút sự tham gia của người dân vào việc đánh giá chất lượng dịch vụ, từ đó làm hài lòng người dân - đối tượng thụ hưởng dịch vụ CTXH.
    -  Được bảo đảm về bí mật đời tư, được tôn trọng trong quá trình phục vụ.
    - Góp phần bảo đảm ổn định cuộc sống cho các đối tượng. Giúp các đối tượng có cơ hội tiếp cận các nguồn lực xã hội phù hợp, hiệu quả. Số người bị rối nhiễu tâm trí ở Việt Nam có gần 9 triệu nhưng mới có khoảng  2% được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng. Người khuyết tật có khoảng 7,6 triệu người nhưng mới có khoảng 12% đối tượng được hưởng bảo trợ xã hội. Người nghiện ma tuý, người nhiễm HIV, phụ nữ bị bạo hành và các đối tượng thuộc diện bảo trợ xã hội đều có xu hướng tăng...Do đó rất cần có nhân viên CTXH chuyên nghiệp để cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho tất cả các đối tượng này.
    (3)    Tác động về giới, bất bình đẳng xã hội và bạo lực, bạo hành đối với Phụ nữ và Trẻ em
    Số lượng và chất lượng dịch vụ CTXH phát triển làm giảm bất bình đẳng xã hội, giảm tỷ lệ bạo hành giới và bạh lực bạo hành gia đình.

    (4)    Tác động về thủ tục hành chính
    Với chính sách về tiêu chuẩn cụ thể của cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH (điều kiện thành lập, hoạt động, giải thể, chấm dứt hoạt động, quyền hạn, trách nhiệm,...)  thì sẽ có quy định về thủ tục thành lập, hoạt động, giải thể, chấm dứt hoạt động của cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH. Tuy nhiên, các quy định này đã được quy định tại Nghị định số 103/2017/NĐ-CP ngày 12/9/2017 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội, không phát sinh thủ tục hành chính mới. Đây là quy định cần thiết để nghề CTXH phát triển thành một nghề chuyên nghiệp.

    (5)    Tác động đối với hệ thống pháp luật
    Phát triển đầy đủ các lĩnh vực cung cấp dịch vụ CTXH đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, nhu cầu của xã hội đồng thời tương thích với pháp luật quốc tế.
    đ) Kiến nghị giải pháp lựa chọn
    Từ những phân tích ở trên, việc lựa chọn giải pháp xây dựng chính sách theo hướng quy định cụ thể mô hình tổ chức quản lý cung cấp dịch vụ CTXH bao gồm hệ thống tổ chức, tiêu chuẩn, quy trình cung cấp dịch vụ CTXH, các chính sách xã hội hóa trong việc cung cấp dịch vụ CTXH và cơ chế giám sát, quản lý và đánh giá chất lượng dịch vụ nhằm thiết lập, phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ CTXH ở Việt Nam là hợp lý. Những tác động tiêu cực của giải pháp chính sách là không thể tránh khỏi trong bối cảnh hoàn thiện thể chế nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Bên cạnh đó, nếu có nghiên cứu kỹ lưỡng, bài bản để xây dựng được hệ thống cung cấp dịch vụ CTXH chuyên nghiệp, phát triển trong tương lai sẽ tránh khỏi những chi phí không cần thiết cho việc tính toán, nghiên cứu lại và giải quyết hậu quả của sự chồng chéo, bất hợp lý của sự phát triển tự phát, thiếu chuyên nghiệp của nghề CTXH.
    4. Chính sách 4: Phát triển công tác xã hội trong các ngành, lĩnh vực
    a)  Xác định vấn đề bất cập
    Công tác xã hội có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, bảo vệ quyền con người, nhân phẩm, giá trị con người, công bằng và bình đẳng xã hội; thúc đẩy xây dựng một xã hội hài hoà vì hạnh phúc của tất cả mọi người. Do đó, CTXH có thể hiệu quả hay không hiệu quả phụ thuộc vào các lĩnh vực hoạt động. Một số lĩnh vực điển hình cần có  sự phát triển CTXH như:
    Lĩnh vực tư pháp người chưa thành niên: nhân viên công tác xã hội cần được trao quyền hạn trong việc cung cấp cho trẻ sự hỗ trợ về tâm lí xã hội cho trẻ em và người chưa thành niên trước tòa án, cho dù trẻ là nhân chứng, nạn nhân hay bị cáo (họ có thể đi cùng với trẻ em hoặc người chưa thành niên thay cho cha mẹ và người giám hộ; các nhân viên công tác xã hội cũng góp phần giáo dục định hướng, hỗ trợ tâm lí xã hội cho trẻ em và người chưa thành niên phạm tội phục hồi nhân phẩm sau khi ra khỏi trường giáo dưỡng hoặc tìm việc làm cho các em).
    Lĩnh vực giáo dục (CTXH trong các trường phổ thông, cao đẳng và đại học):  Các vấn đề trong cuộc sống gia đình hoặc trong trường phổ thông, trường cao đẳng, đại học có thể ảnh hưởng đến khả năng học tập của học sinh, sinh viên. Nhân viên công tác xã hội có thể tiến hành giáo dục và tham vấn cho những học sinh, sinh viên gặp phải những vấn đề trong học tập (nếu học sinh, sinh viên gặp phải các vấn đề trong gia đình thì nhân viên công tác xã hội sẽ sử dụng phương pháp làm việc với gia đình; nhân viên công tác xã hội cũng có thể phối hợp với giáo viên để tham vấn cho giáo viên xây dựng môi trường học tập thuận lợi cho những học sinh, sinh viên có vấn đề, giải quyết các bất hòa giữa các nhóm học sinh, sinh viên).
    Lĩnh vực y tế - sức khỏe, bao gồm cả sức khỏe tâm thần (tại các bệnh viện và phòng khám):  nhân viên công tác xã hội hỗ trợ về mặt tâm lí xã hội cho các bệnh nhân và gia đình trong việc đối mặt với các tác động của bệnh tật và sự ốm đau, bao gồm việc đánh giá các khía cạnh xã hội đóng góp cho bác sĩ quỏ trình chuẩn đoán và điều trị bệnh; cung cấp hỗ trợ tâm lý xã hội cho quá trình hồi phục của bệnh nhân  và thu xếp những dịch vụ hỗ trợ điều trị bệnh (nếu có sẵn những dịch vụ đó).
    Lĩnh vực bảo trợ xã hội : đối với việc bảo trợ xã hội cho người già cô đơn,  nhân viên công tác xã hội đánh giá nhu cầu về khía cạnh xã hội của người già cô đơn để mang lại cho họ những hỗ trợ về mặt tâm lí xã hội và các dịch vụ chăm sóc (nếu sẵn có những dịch vụ đó). Đồng thời nhân viên công tác xã hội cũng đóng vai trò là cán bộ quản lý trường hợp để điều phối dịch vụ cho người già cô đơn, giám sát những thay đổi trong nhu cầu của họ để tìm kiếm dịch vụ cần đáp ứng. Nhân viên công tác xã hội cũng đảm nhận vai trò quản lý chăm sóc tập trung tại các trung tâm bảo trợ xã hội và cùng hợp tác với các trung tâm để cung cấp những hỗ trợ tâm lý xã hội cho những cá nhân cần loại hình hỗ trợ này.
    Đối với việc bảo trợ xã hội cho người tàn tật: nhân viên công tác xã hội đánh giá nhu cầu về khía cạnh xã hội của của người tàn tật. Đồng thời, họ cũng đóng vai trò là người quản lý trường hợp, hỗ trợ người tàn tật tiếp cận những dịch vụ phù hợp và duy trỡ tiếp cận một loạt các dịch vụ phối hợp tốt nhất. Trong trường hợp cần thiết, nhân viên công tác xã hội cũng cung cấp hỗ trợ tâm lý xã hội cho người tàn tật và gia đình của họ.
    Đối với bảo vệ trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt:  nhân viên công tác xã hội đánh giá tình hình của đối tượng trẻ em đang nghi ngờ là bị lạm dụng hoặc sao nhãng, bao gồm cả chính bản thân các em và tiềm năng của các mối quan hệ gia đình. Với phương châm vì sự an toàn của trẻ em là điều quan trọng nhất nên trong một số trường hợp người nhân viên công tác xã hội sẽ thu xếp dịch vụ chăm sóc thay thế cho trẻ (còn gọi là dịch vụ chăm sóc ngoài gia đình). Nhân viên công tác xã hội cũng có thể can thiệp vào đời sống của gia đình và cộng đồng, sử dụng các phương pháp như tham vấn, liệu pháp gia đình và giáo dục về mặt xã hội để giúp họ hiểu được nhu cầu của con em mình và nâng cao kỹ năng làm cha mẹ và tăng cường khả năng ứng phó.
    Hình thức hoạt động thực hành công tác xã hội trong các ngành, lĩnh nêu trên thường được thực hiện dưới hình thức tham vấn; các ca gia đình; công tác xã hội nhóm; phát triển cộng đồng... Ngoài ra, tùy theo các lĩnh vực hoạt động của công tác xã hội mà có đa dạng các hình thức hoạt động, nội dung hoạt động.
    Tuy nhiên, pháp luật chưa có quy định rõ ràng về các lĩnh vực cần thiết phải tổ chức hoạt động công tác xã hội (ví dụ ngành y tế, giáo dục, tư pháp,...), cũng như chưa có quy định cụ thể về hình thức, nội dung/nhiệm vụ hoạt động công tác xã hội trong các ngành, lĩnh vực đó để bảo đảm quản lý thống nhất trong phạm vi cả nước, dẫn đến sự không nhất quán, lúng túng cho các ngành trong quá trình triển khai thực hiện, dẫn đến các hoạt động dịch vụ CTXH có tính chất “tự phát”, manh mún, thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu kiểm soát và chưa thực sự hiệu quả; trách nhiệm của người làm CTXH trong các ngành, lĩnh vực cũng không rõ ràng, chưa bảo đảm chất lượng và yêu cầu của dịch vụ.
        Những bất cập nêu trên đòi hỏi cần có sự điều chỉnh của pháp luật liên quan đến công tác xã hội trong các ngành, lĩnh vực.
    b) Mục tiêu của chính sách
    - Tăng cường trách nhiệm của các ngành, lĩnh vực trong việc bảo đảm vấn đề an sinh xã hội, thực hiện chính sách an sinh xã hội và CTXH;
    - Thúc đẩy việc tổ chức hoạt động CTXH theo lĩnh vực, phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực và đáp ứng nhu cầu của đối tượng được trợ giúp xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu chung của Luật CTXH;
    - Góp phần bảo đảm một số quyền con người được Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm hài hòa, tương thích của pháp luật Việt Nam về CTXH với pháp luật quốc tế (Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về quyền trẻ em, quyền của người khuyết tật,....).
    c) Các giải pháp đề xuất
        Phương án 1: Giữ nguyên như hiện nay
        Phương án 2: Quy định các ngành, lĩnh vực đặc thù cần thực hiện CTXH bao gồm lĩnh vực bảo trợ xã hội,  y tế và sức khỏe tâm thần, giáo dục, tư pháp.
        Phương án 3: Quy định các ngành, lĩnh vực đặc thù cần thực hiện CTXH bao gồm lĩnh vực bảo trợ xã hội,  y tế và sức khỏe tâm thần, giáo dục, tư pháp; đồng thời Luật CTXH giao cho bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ có liên quan, Viện trưởng Viện  KSNDTC, Chánh án TANDTC quy định cụ thể về điều kiện, quy trình, hình thức thực hiện CTXH trong một số lĩnh vực đặc thù và các nhóm đối tượng đặc biệt cần sự giúp đỡ (CTXH đối với người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em, người nhiễm HIV/AIDS; người nghiện ma túy, mại dâm; học sinh, sinh viên; bệnh nhân và thân nhân của họ; người mới ra tù, cán bộ làm trong các trại giam,...).
    d) Đánh giá tác động của các giải pháp
    Phương án 1: Giữ nguyên như hiện nay
    Tác động tích cực: Không có tác động tích cực
    Tác động tiêu cực: Nếu giữ nguyên như hiện nay thì vẫn tồn tại các bất cập nêu trên.


    Phương án 2:
    Tác động tích cực: Thực hiện theo phương án này, Nhà nước có thể phát triển đầy đủ các lĩnh vực cung cấp dịch vụ CTXH đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước (gồm hoạt động CTXH trong lĩnh vực an sinh xã hội, y tế và sức khỏe tâm thần, giáo dục, tư pháp,...)., nhu cầu của xã hội (gồm CTXH đối với người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em, người nhiễm HIV/AIDS; người nghiện ma túy, mại dâm, học sinh, sinh viên; bệnh nhân và thân nhân của họ, người mới ra tù, cán bộ làm trong các trại giam,.....); tương thích với pháp luật quốc tế (Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về quyền trẻ em, quyền của người khuyết tật,....) đồng thời tiến tới hòa nhập với xu hướng phát triển chung của quốc tế (ở các quốc gia đang phát triển và phát triển như Philippin, Mỹ, Úc,... hoạt động CTXH rất phát triển và đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình ổn định, phát triển kinh tế - chính trị - xã hội).
    Tác động tiêu cực: Nhà nước sẽ phải chi ngân sách để thực hiện và duy trì đầy đủ các hoạt động cung ứng dịch vụ do các cơ quan nhà nước thực hiện (bao gồm cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực, quản lý…). Tuy nhiên các chi phí này sẽ giảm thiểu nếu kết hợp với phương án xã hội hóa (Phương án 3 của vấn đề chính sách 3).
    Phương án 3: 
    Ngoài các tác động tích cực, tiêu cực của phương án 2, phương án này còn có các tác động sau đây:
    Tác động về kinh tế
    * Tiêu cực
    Đối với Nhà nước
    Nhà nước cần chi phí nhằm tăng cường truyền thông và đào tạo lại như đã tính toán ở trên giải quyết chính sách cho một bộ phận chuyển đổi nghiệp vụ. Tuy nhiên, các chi phí có thể giảm thiểu nếu như sử dụng trí tuệ nhân tạo để xây dựng bộ câu hỏi – trả lời tự động và đào tạo tự động, đào tạo tự động, đào tạo online để tăng cường nhận thức của nhân viên CTXH.
    * Tích cực
    -     Người dân, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm chi phí do được tiếp cận ngay từ đầu dịch vụ CTXH chuyên nghiệp trong từng lĩnh vực cụ thể, đáp ứng được nhu cầu, điều kiện của người dân.
    (1)    Tác động xã hội
    * Tiêu cực:
    - Một số nhân sự đang làm việc tại các cơ sở cung cấp dịch vụ có thể sẽ được điều chuyển, sắp xếp lại cho phù hợp với các lĩnh vực mới vừa được xác định. Như vậy sẽ giúp sử dụng nguồn nhân lực xã hội có hiệu quả, phù hợp với từng lĩnh vực cụ thể. Tuy nhiên, có thể phát sinh chi phí đào tạo lại, bồi dưỡng chuyên sâu.
    - Một số người đang làm có thể mất việc do không đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn thuộc các lĩnh vực CTXH đã được xác định.
    * Tích cực:
    - Quy định rõ từng lĩnh vực hoạt động cụ thể của CTXH; giúp cho cơ sở giáo dục, học sinh/sinh viên có định hướng nghề nghiệp rõ ràng, nâng cao chất lượng và phát triển đào tạo nghề CTXH. Đồng thời nâng cao nhận thức, vị trí, vai trò của nghề CTXH trong xã hội.
    -     Người dân được thụ hưởng đầy đủ, có chất lượng các dịch vụ CTXH trong tất cả các ngành, lĩnh vực mà Nhà nước xác định. Có điều kiện lựa chọn các hình thức cung cấp dịch vụ theo từng lĩnh vực, có tính hệ thống, đáp ứng nhu cầu, điều kiện của mỗi loại đối tượng và toàn xã hội.
    - Thu hút doanh nghiệp tham gia hoạt động trong các lĩnh vực CTXH xác định để phục vụ cho nhu cầu xã hội; đồng thời tận dụng được kinh nghiệm của đội ngũ người làm CTXH này cũng như tránh được những xáo trộn không cần thiết về nhân sự, về tổ chức.
      (3) Tác động về giới: Công tác xã hội phát triển sẽ giảm các vụ bạo lực, bạo hành giới, bạo hành gia đình
    (4) Tác động về thủ tục hành chính
    -    Nhà nước có hướng dẫn thống nhất tạo điều kiện cho các bộ, ngành chủ động tổ chức hoạt động CTXH theo lĩnh vực, mô hình tổ chức trong phạm vi được pháp luật cho phép, phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực. Từ đó quản lý thống nhất các hoạt động CTXH theo yêu cầu của Nhà nước. Phát triển đầy đủ các lĩnh vực cung cấp dịch vụ CTXH đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước (gồm hoạt động CTXH trong lĩnh vực an sinh xã hội, y tế và sức khỏ tâm thần , giáo dục, tư pháp,...)., nhu cầu của xã hội (gồm CTXH đối với người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em, người nhiễm HIV/AIDS; người nghiện ma túy, mại dâm, học sinh, sinh viên; bệnh nhân và thân nhân của họ, người mới ra tù, cán bộ làm trong các trại giam,.....); tương thích với pháp luật quốc tế (Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về quyền trẻ em, quyền của người khuyết tật,....) đồng thới tiến tới hòa nhập với xu hướng phát triển chung của Quốc tế (ở các quốc gia đang phát triển và phát triển như Philippin, Mỹ, Úc,... hoạt động CTXH rất phát triển và đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình ổn định, phát triển kinh tế - chính trị - xã hội).
    -    Tăng sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành liên quan: tuy mỗi bộ, ngành phụ trách lĩnh vực khác nhau nhưng hoạt động CTXH lại có sự liên quan chặt chẽ giữa các bộ, ngành (ví dụ: CTXH đối với trẻ em có liên quan đến lĩnh vực giáo dục để kết nối cho trẻ đi học, liên quan đến lĩnh vực y tế trong việc kết nối khám bệnh, chữa bệnh, liên quan đến lĩnh vực tư pháp trong việc cho con nuôi,....). Việc xác định cụ thể các lĩnh vực, hình thức, nội dung hoạt động CTXH sẽ giúp tạo lập hành lang pháp lý về quyền hạn, trách nhiệm của các cấp, ngành, tăng sự phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan trong việc thực hiện các hoạt động thúc đẩy phát triển nghề CTXH.
        Chính sách này không làm phát sinh thủ tục hành chính đối với người dân, doanh nghiệp.
        (5) Tác động đối với hệ thống pháp luật
        Với quy định của chính sách sẽ phát sinh thêm quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc thực hiện và thụ hưởng dịch vụ CTXH. Quy định này hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp và hệ thống pháp luật hiện hành về bảo đảm an sinh xã hội cho người dân.
        Hiện nay, một số lĩnh vực đã có quy định cụ thể về hoạt động CTXH trong lĩnh vực đó (ví dụ: y tế).  Với chính sách này được thông qua, cần chuẩn hóa lại quy định cụ thể về hoạt động CTXH trong từng lĩnh vực để bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật.
    đ) Kiến nghị giải pháp lựa chọn: Từ những phân tích ở trên, việc lựa chọn giải pháp xây dựng chính sách theo Phương án 3 là hợp lý, tiết kiệm, khả thi.
    5. Chính sách 5: Phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước đối với CTXH
    a)    Xác định vấn đề bất cập
    Hiện nay, cơ quan quản lý Nhà nước về an sinh xã hội và công tác xã hội được Chính phủ giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Bên cạnh đó, các cơ quan phối hợp thực hiện các dịch vụ công tác xã hội là: Bộ Y tế và hệ thống ngành dọc của ngành; Bộ Giáo dục-Đào tạo và hệ thống ngành dọc của ngành; Bộ Tư pháp; Bộ Công an.
     Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan của của Chính phủ vừa có chức năng quản lý nhà nước, vừa có chức năng tổ chức, thực hiện các hoạt động sự nghiệp thuộc lĩnh vực phụ trách. Theo quy định của Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có nhiệm vụ: Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lao động, việc làm, an toàn lao động, dạy nghề, chính sách đối với thương binh, liệt sỹ và người có công, bảo trợ xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực lao động, thương binh và xã hội. Nhiệm vụ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong công tác xã hội vừa là quản lý vĩ mô (đưa ra các chính sách, chương trình hỗ trợ đối tượng của công tác xã hội; giám sát thực thi chính sách, chương trình hỗ trợ), vừa là quản lý vi mô (thực hiện các dịch vụ công tác xã hội trực tiếp thông qua hệ thống cơ quan ngành dọc của ngành từ sở xuống quận/huyện và xã/phường). Nhân viên công tác xã hội có thể làm việc ở Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội trong các Vụ, Cục có liên quan đến các đối tượng công tác xã hội như Cục Bảo trợ xã hội, Cục Phòng chống tệ nạn xã hội, Cục Trẻ em...Bên cạnh đó, một lượng lớn nhân viên xã hội có thể làm việc trong các sở, các phòng tại quận huyện và đặc biệt là trong hệ thống tuyến xã/phường.
    Bộ Giáo dục và đào tạo cùng với hệ thống ngành dọc của ngành có vai trò quan trọng trong việc tạo ra cơ chế, vị trí làm việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho học sinh, sinh viên và gia đình. Nhân viên xã hội có thể làm việc tại các cơ sở giáo dục, các trường học từ cấp học phổ thông đến các trường cao đẳng, đại học, các viện đào tạo. Bên cạnh đó nhân viên xã hội có thể cung cấp dịch vụ công tác xã hội thông qua loại hình các trung tâm hỗ trợ/tham vấn trong các trường học.
    Ngành tư pháp có vai trò quan trọng trong phát triển dịch vụ công tác xã hội cho các đối tượng của ngành. Các dịch vụ công tác xã hội sẽ là công cụ hữu hiệu hỗ trợ ngành tư pháp thực hiện nhiệm vụ tố tụng... Nhân viên xã hội làm việc trong các vị trí tại các văn phòng tố tụng đặc biệt với đối tượng trẻ em vi phạm pháp luật và toà án để có trợ giúp kịp thời cho đối tượng yếu thế vi phạm pháp luật.
    Nhân viên công tác xã hội có thể làm việc trong hệ thống ngành công an, đặc biệt là trong các trường giáo dưỡng cho những trẻ em, trong công tác hỗ trợ ban đầu với các đối tượng là nạn nhân của hành vi vi phạm pháp luật như nạn nhân của buôn bán người trong thời gian tiếp nhận đối tượng này chờ hình thức xử lý.
    Thời gian qua, việc nghiên cứu đề xuất ban hành chính sách do nhiều cơ quan quản lý khác nhau thực hiện như Bộ Y tế (chính sách trợ giúp về  y tế như cấp và hỗ trợ mua BHYT, khám chữa bệnh, chỉnh hình phục hồi chức năng), Bộ Giáo dục và Đào tạo (chính sách trợ giúp về giáo dục đối với  học sinh dân tộc thiểu số cứ trú ở vùng đặc biệt khó khăn, học sinh sinh viên nghèo, học sinh trong các trường nội trú), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (chính sách hỗ trợ giống vật nuôi, cây trồng khi bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh, chính sách hỗ trợ tiền làm nhà khi di chuyển nhà do nguy cơ sạt lở và di dân theo kế hoạch), Ủy ban dân tộc (chính sách cử tuyển học sinh là người dân tộc thiểu số vào các trường đại học cao đẳng, chính sách trợ cước, trợ giá, hỗ trợ tiền dầu hỏa thắp sáng nơi chưa có điện lưới), Bộ Công thương (chính sách hỗ trợ tiền điện tiêu dùng đối với nhóm hộ nghèo).
    Việc phối hợp giữa các Bộ, ngành trung ương chưa thường xuyên, chặt chẽ, nhất là trong xây dựng chính sách, trong việc chia sẻ thông tin và trong kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện các chính sách, chương trình dẫn đến chậm ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách cũng như bổ sung, sửa đổi kịp thời khi cần thiết. Bên cạnh đó, về tổ chức bộ máy, nước ta chưa có hệ thống tổ chức mang tính chuyên nghiệp về CTXH, đặc biệt ở các cấp huyện, cơ sở và cộng đồng, mặc dù vẫn có một số cơ quan chức năng đảm nhiệm thực thi CTXH từ trung ương đến địa phương. Tình trạng nhiều cơ quan hoạt động bán chuyên nghiệp vẫn là chủ yếu dẫn đến chất lượng, hiệu quả CTXH chưa cao, lãng phí nguồn lực...
    Những bất cập nêu trên có nguyên nhân chính là việc phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực CTXH còn chưa hợp lý, cần phải được điều chỉnh.
    b) Mục tiêu của chính sách
    - Phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan trung ương, địa phương trong quản lý nhà nước đối với CTXH nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đối với CTXH;
    - Bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong CTXH phù hợp với xu hướng và quy định của pháp luật về phân cấp, phân quyền
    c) Các giải pháp đề xuất
    Phương án 1: Giữ nguyên như hiện nay
    Phương án 2: Quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các bộ, ngành, chính quyền địa phương cấp tỉnh đối với CTXH
    Phương án  3: Quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp đối với CTXH (xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan trung ương trong hoạt động xây dựng, ban hành và tổ chức thực thi, hướng dẫn, giám sát, thanh tra , kiểm tra việc thi hành pháp luật về CTXH; trách nhiệm của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các bộ, ngành có liên quan; trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc thực thi pháp luật và chính sách về CTXH); đồng thời phân cấp mạnh cho chính quyền cấp xã về CTXH.
    d) Đánh giá tác động của chính sách
    Phương án 1: Giữ nguyên như hiện nay
    Tác động tích cực: Không có tác động tích cực
    Tác động tiêu cực: Nếu giữ nguyên như hiện nay thì vẫn tồn tại các bất cập như đã phân tích ở trên.
    Phương án 2:
    Tác động tích cực: Không có tác động tích cực rõ rệt vì phương án này tương tự như phương án 2 nhưng có phân cấp xuống cấp tỉnh và làm rõ nhiệm vụ của các Bộ, ngành. Việc xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể có liên quan tương ứng và phù hợp với phạm vi quản lý các dịch vụ CTXH; nâng cao tính chủ động và tính chịu trách nhiệm của các Bộ, ngành; góp phần quản lý hiệu quả hơn CTXH
    Tác động tiêu cực: Vẫn tồn tại các vấn đề bất cập như đã nêu ở trên; thiếu tính chuyên nghiệp trong hoạt động CTXH; các cấp chính quyền địa phương không phát huy tinh thần chủ động sáng tạo trong các hoạt động quản lý cung ứng dịch vụ CTXH; người dân khó tiếp cận với các dịch vụ CTXH, nhất là các dịch vụ mà người dân cần có sự trợ giúp khẩn cấp.
    Phương án 3:
    (1) Tác động về kinh tế
    *Tiêu cực
    -    Về lâu dài, Nhà nước sẽ củng cố, kiện toàn tổ chức và đội ngũ cán bộ làm công tác ở tất cả các cấp, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cấp xã; Nâng cao năng lực quản lý, năng lực tổ chức thực hiện chính sách ở tất cả các cấp, thông qua các hoạt động đào tạo, tập huấn, ưu tiên cho cấp cơ sở (cấp xã) vì cấp xã là cấp trực tiếp tiếp cận với đối tượng; cấp này cần phải có đủ số lượng cán bộ cần thiết và hoạt động mang tính chuyên nghiệp để nâng cao hiệu quả công tác xã hội.
    -    Nhà nước có thể phát sinh các chi phí cho việc bồi dưỡng, nâng cao năng lực của cán bộ, công chức địa phương, nhất là cán bộ công chức cấp xã trong việc nắm bắt các quy định pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình kỹ thuật về cung ứng dịch vụ công để thực hiện tốt các hoạt động theo dõi, kiểm tra, đánh giá chất lượng dịch vụ, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về dịch vụ CTXH trong từng lĩnh vực. 
    -    Việc duy trì các hoạt động quản lý nhà nước cũng làm phát sinh tổ chức bộ máy hoặc nhân sự trong điều kiện tinh giản biên chế sẽ gặp nhiều khó khăn. Trường hợp không tăng biên chế, cán bộ sẽ phải kiêm nhiệm và gây gánh nặng quản lý cho cơ quan nhà nước cũng như trách nhiệm cho cán bộ các cơ quan có liên quan.
    *Tích cực
    - Việc xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể có liên quan tương ứng và phù hợp với phạm vi quản lý các dịch vụ CTXH góp phần quản lý hiệu quả hơn CTXH;
    -     Giảm chi phí cho người dân khi tiếp cận các dịch vụ CTXH do chính quyền địa phương cấp xã quản lý; chi phí cho cơ sở cung ứng dịch vụ công do không có nhiều tầng nấc quản lý mà chỉ có một đầu mối trực tiếp do có sự phân định thẩm quyền.
    (2)Tác động về xã hội
    Tác động tích cực:
    -     Nghề CTXH có tính chất đặc thù là quy mô hoạt động rất rộng, do vậy, việc phân định rõ trách nhiệm, vai trò quản lý nhà nước của các cơ quan liên quan rất quan trọng. Việc phân cấp, phân quyền rõ ràng cũng tránh được sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cấp chính quyền địa phương; tránh đùn đẩy trách nhiệm và nâng cao chất lượng dịch vụ, nhất là khả năng cung ứng dịch vụ của chính quyền cấp cơ sở, có khả năng tốt nhất trong việc quản lý các dịch vụ công liên quan đến hỗ trợ giữa con người với con người – dịch vụ công tác xã hội. Từ đó, góp phần quyết định trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ CTXH, bảo đảm xã hội phát triển, ổn định, bền vững.
    - Chính quyền địa phương các cấp hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình sẽ góp phần bảo đảm được quyền và nhu cầu trợ giúp xã hội của những người yếu thế trong xã hội, tăng tỷ lệ tiếp cận dịch vụ CTXH, trong đó, những người yếu thế trong xã hội như người khuyết tật, người cao tuổi, người nghèo… có điều kiện tiếp cận tốt hơn các dịch vụ CTXH ngay tại địa phương mình.
    Tác động tiêu cực:
    Những tác động tiêu cực của giải pháp chính sách là không thể tránh khỏi trong những năm đầu khi chưa đi vào nề nếp và có sự lúng túng trong triển khai thực hiện do năng lực công chức cấp xã còn nhiều hạn chế; tuy vậy, sau một thời gian thực hiện thì tác động tiêu cực này sẽ được khắc phục.
    (3) Tác động về giới: tác động về giới của chính sách này không có tác động rõ rệt.
    (4)Tác động về thủ tục hành chính
    Chính sách này không làm phát sinh thủ tục hành chính mới đối với người dân, doanh nghiệp. Việc thực hiện chính sách sẽ thống nhất đầu mối quản lý đối tượng, giảm bớt các hoạt động hỗ trợ mang tính tình thế; tạo thủ tục thông thoáng cho người dân và doanh nghiệp.
    (5)Tác động đối với hệ thống pháp luật
    Với chính sách này được thông qua, cần chuẩn hóa lại quy định cụ thể về trách nhiệm quản lý nhà nước của các Bộ, ngành ở Trung ương và các Sở, ban, ngành ở địa phương (sửa đổi các văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của một số Bộ, văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ các cơ quan chuyên môn ở địa phương,…)
    đ) Kiến nghị giải pháp lựa chọn
    Từ những phân tích ở trên, việc lựa chọn giải pháp xây dựng chính sách theo hướng phân cấp, phân quyền, quy định cụ thể trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các bộ khác, của chính quyền địa phương các cấp, trong đó đặc biệt trao nhiều quyền cho chính quyền cấp xã là phương án tối ưu, cần được lựa chọn.
    6. Chính sách 6: Khuyến khích xã hội hóa phát triển công tác xã hội
    a)    Xác định vấn đề bất cập
    Công tác xã hội hướng đến trợ giúp cho các cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng, đặc biệt là các đối tượng yếu thế như người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người già, nạn nhân của bạo hành và tệ nạn xã hội... phát triển khả năng và sử dụng các nguồn lực riêng của họ và của cộng đồng, xã hội để giải quyết vấn đề khó khăn của mình. Công tác xã hội cũng hướng đến hỗ trợ giải quyết các vấn đề an sinh xã hội như tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, phòng chống bạo lực, xóa bỏ bất đình đẳng. Nhiệm vụ của công tác xã hội là hỗ trợ con người phát triển những tiềm năng của họ, làm phong phú cuộc sống của họ, phòng ngừa những vấn đề khó khăn đến với họ và giúp họ giải quyết được vấn đề của chính mình. Có thể nhận định rằng, nhu cầu tiếp cận dịch vụ CTXH là rất lớn (như đã phân tích tại mục xác định vấn đề bất cập của chính sách 1).
    Hiện nay hệ thống pháp luật đã có trên 15 Bộ luật, Luật; 7 Pháp lệnh và hơn 50 Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, thông tư và các văn bản chỉ đạo khác  có nội dung quy định CTXH là cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện CTXH ở Việt Nam…  Các văn bản quy phạm pháp luật này đã tạo tiền đề pháp lý quan trọng để các bộ, ngành, địa phương từng bước phát triển nghề công tác xã hội chuyên nghiệp tại Việt Nam. Đặc biệt, thực hiện Quyết định số 32/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính về việc phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 (Đề án 32), các Bộ, ngành và địa phương đã triển khai đạt được những kết quả quan trọng trên các lĩnh vực ban hành văn bản quy phạm pháp luật, phát triển các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội và phát triển mạng lưới cán bộ, nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội; đào tạo công tác xã hội; truyền thông và hợp tác quốc tế phát triển nghề công tác xã hội.
    Tuy nhiên, khuôn khổ pháp lý về công tác xã hội chưa phát huy phát huy năng lực của xã hội và sự đóng góp của cộng đồng đối với việc giải quyết các vấn đề xã hội. Các chính sách của Nhà nước còn chưa đẩy mạnh xã hội hóa đối với hoạt động công tác xã hội nhằm tăng khả năng tiếp cận của công dân đối với các dịch vụ công tác xã hội. Các giải pháp chính sách trong hệ thống pháp luật cũng chưa bảo đảm, khuyến khích sự đóng góp của người dân vào CTXH.
    Những bất cập nêu trên đòi hỏi phải thực hiện xã hội hóa trong công tác xã hội và “luật hóa” chính sách này để thúc đẩy phát triển nghề CTXH chuyên nghiệp, hiệu quả.
    b) Mục tiêu của chính sách:
    - Đẩy mạnh xã hội hóa đối với hoạt động công tác xã hội nhằm tăng khả năng tiếp cận của công dân đối với các dịch vụ công tác xã hội;
    -  Góp phần phát huy năng lực của xã hội và sự đóng góp của cộng đồng đối với việc giải quyết các vấn đề xã hội;
    - Khuyến khích sự đóng góp, ủng hộ của cộng đồng; phát huy tinh thần tương thân, tương ái để giải quyết các vấn đề khó khăn trong cuộc sống của mọi thành viên trong xã hội.
    c) Các giải pháp đề xuất
    Phương án 1: Giữ nguyên như hiện nay
    Phương án 2: Quy định không hạn chế đối tượng tham gia CTXH; quyền của người dân tham gia CTXH; chính sách khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động CTXH;
    Phương án  3: Quy định không hạn chế đối tượng tham gia CTXH; quyền của người dân tham gia CTXH; chính sách khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động CTXH; quy định vai trò, trách nhiệm của Hiệp hội những người làm công tác xã hội; quy định về huy động sự tham gia của người dân và thu hút các nguồn lực của khu vực tư nhân vào CTXH; quy định thúc đẩy các hoạt động từ thiện, thiện nguyện của các cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực CTXH (dịch vụ CTXH miễn phí).
    d) Đánh giá tác động của chính sách
    Phương án 1: Giữ nguyên như hiện nay
    Tác động tích cực: Không có tác động tích cực
    Tác động tiêu cực: Nếu giữ nguyên như hiện nay thì vẫn tồn tại các bất cập như đã phân tích ở trên.
    Phương án 2:
    Tác động tích cực:
    - Tạo thêm việc làm do mở rộng đối tượng tham gia vào một nghề mới; thu hút nguồn nhân lực; cân bằng lại thu nhập xã hội
    - Tăng khả năng tiếp cận dịch vụ CTXH do sự tham gia của các doanh nghiệp, tổ chức vào việc cung ứng dịch vụ do thực hiện chính sách xã hội hóa;
    - Nhà nước tăng nguồn thu thuế từ hoạt động của các cơ sở cung ứng dịch vụ CTXH;
    - Tăng trách nhiệm, vai trò của cộng đồng, người dân trong thực hiện chính sách an sinh xã hội.
    Tác động tiêu cực:
    - Những tác động tiêu cực của giải pháp chính sách là không thể tránh khỏi trong những năm đầu khi chưa đi vào nề nếp và có sự lúng túng trong triển khai thực hiện do năng lực công chức còn nhiều hạn chế; tuy vậy, sau một thời gian thực hiện thì tác động tiêu cực này sẽ được khắc phục.
    - Trong những năm đầu thực hiện chính sách, có thể các cơ quan quản lý nhà nước sẽ gặp khó khăn trong việc kiểm soát các dịch vụ CTXH, chất lượng thực hiện hoạt động dịch vụ.
    Phương án 3: Ngoài những tác động tích cực, tiêu cực của phương án 2, Phương án này còn có các tác động sau đây
    (1)Tác động về kinh tế
    Tích cực: Giảm thiểu chi phí từ ngân sách nhà nước cho các dịch vụ CTXH, cho công tác đào tạo, bồi dưỡng những người làm CTXH (xu hướng khu vực tư nhân dần dần sẽ thay thế khu vực công trong việc thực hiện các dịch vụ công về CTXH). Tăng trách nhiệm, vai trò của Hiệp hội những người làm CTXH sẽ tăng cường quản lý hơn đối với các cơ sở dịch vụ CTXH theo chế “tự quản”; góp phần giảm chi ngân sách nhà nước cho các hoạt động quản lý.
    Bên cạnh đó, các lợi ích gián tiếp khác có thể kể đến: giảm bớt gánh nặng về dịch vụ CTXH đối với các cơ quan nhà nước; dần dần giảm bớt các chi phí, đầu tư cho các cơ sở cũng như nhân lực làm CTXH của khu vực công. Đối với các doanh nghiệp: doanh nghiệp có nhiều cơ hội đầu tư, kinh doanh cũng như đóng góp cho cộng đồng, xã hội khi tham gia vào hoạt động CTXH.
    *Tiêu cực: Gần như không có tác động tiêu cực về kinh tế đối với khu vực nhà nước cũng như khu vực tư nhân khi thực hiện chính sách này. Nhà nước có thể không thu được nhiều các khoản thuế do thực hiện chính sách miễn giảm thuế đối với các cơ sở dịch vụ mới thành lập (giảm thuế trong những năm đầu và các năm tiếp theo như các lĩnh vực thực hiện xã hội hóa theo quy định của Chính phủ); tuy nhiên, cân đối hiệu quả - chi phí thì việc thực hiện chính sách còn đem lại nguồn thu thuế đáng kể cho Nhà nước do việc gia tăng các cơ sở cung ứng dịch vụ.
    (2) Tác động về xã hội
    - Huy động sự tham gia của người dân và thu hút các nguồn lực của khu vực tư nhân vào CTXH sẽ làm gia tăng các dịch vụ CTXH. Phương án này sẽ làm tăng tính cạnh tranh giữa các cơ sở dịch vụ CTXH, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ, đem lại chi phí rẻ hơn cho người thụ hưởng dịch vụ CTXH;
    - Phương án này còn thúc đẩy các hoạt động từ thiện, thiện nguyện của các cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực CTXH (dịch vụ CTXH miễn phí); các đối tượng có khó khăn về kinh tế, người nghèo có khả năng tiếp cận thuận lợi hơn các dịch vụ này. Tuy nhiên, phương án này sẽ phát huy hiệu quả cao hơn nếu thực hiện đồng bộ các quy định khuyến khích thỏa đáng, ưu đãi hợp lý về tài chính và các ưu đãi khác đối với doanh nghiệp và tổ chức cung ứng dịch vụ CTXH.
    - Nâng cao chất lượng của cơ sở cung cấp dịch vụ; đồng thời cũng nâng cao chất lượng dịch vụ, đem lại sự hài lòng cho khách hàng (đối tượng được thụ hưởng các dịch vụ).  Việc xã hội hóa hoạt động CTXH sẽ thu hút các nguồn lực trong xã hội; tạo việc làm cho người lao động; tăng khả năng cung ứng các dịch vụ công trong xã hội; nâng cao chất lượng các dịch vụ trợ giúp xã hội, nhất là các dịch vụ cần có sự giúp đỡ, can thiệp trực tiếp của nhân viên xã hội (liên quan đến tâm lý…); khắc phục được nguồn cung về nhân lực về CTXH còn đang thiếu hiệu nay; hỗ trợ tốt hơn cho các đối tượng thụ hưởng chính sách của Nhà nước về an sinh xã hội.
    (3) Tác động về giới
    Hiện chưa phát hiện tác động về giới đối với chính sách này.
    (4)Tác động về thủ tục hành chính
    Chính sách này không làm phát sinh thủ tục hành chính mới đối với người dân, doanh nghiệp.
    (5)Tác động đối với hệ thống pháp luật
    Thực hiện chính sách có thể phải sửa đổi hoặc ban hành mới các văn bản pháp luật để hướng dẫn thực hiện chính sách
    đ) Kiến nghị giải pháp lựa chọn: Từ những phân tích ở trên, việc lựa chọn giải pháp xây dựng chính sách theo hướng xã hội hóa trong lĩnh vực CTXH.                                                                                                      
    III. LẤY Ý KIẾN TRONG QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG
    Quá trình xây dựng dự thảo Báo cáo đánh giá tác động đối với đề nghị xây dựng Luật, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã tham khảo ý kiến của một số chuyên gia, nhà khoa học, đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để lấy ý kiến rộng rãi; đồng thời lấy ý kiến một số cơ quan, tổ chức vào hồ sơ đề nghị xây dựng Luật.
    Trên cơ sở tổng hợp các ý kiến góp ý của các các cơ quan, tổ chức có liên quan và các chuyên gia, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã nghiêm túc nghiên cứu, tiếp thu và giải trình đầy đủ ý kiến góp ý, hoàn thiện dự thảo Báo cáo đánh giá tác động của chính sách.
    IV. GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ
    1. Cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức thi hành Luật CTXH
    Luật công tác xã hội liên quan trực tiếp đến các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, liên quan đến các tổ chức chính trị, chính trị xã hội. Do đó, trách nhiệm thi hành luật là trách nhiệm của tất cả các cơ quan, tổ chức có liên quan. Trong đó, trách nhiệm chính là Chính phủ với vai trò là cơ quan hành pháp có trách nhiệm tổ chức thi hành Hiến pháp, pháp luật. Giúp Chính phủ tổ chức thi hành Luật công tác xã hội là nhiệm vụ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
    2. Giám sát, đánh giá việc thực hiện Luật CTXH
    Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội giám sát việc thi hành Luật. Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân giám sát việc triển khai thi hành Luật trong phạm vi địa phương.
    V. KẾT LUẬN CHUNG
    Báo cáo đánh giá tác động của chính sách đã trình bày một cách hợp lý các tác động về kinh tế, tác động về xã hội, tác động về giới, tác động của thủ tục hành chính, tác động đối với hệ thống pháp luật; những tác động tích cực và tiêu cực của các giải pháp đề xuất để giải quyết vấn đề. Trên cơ sở các bằng chứng đưa ra, kiến nghị giải pháp lựa chọn là giải pháp hiệu quả và hữu hiệu nhất.
    Kết quả của việc đánh giá tác động chính sách được phân tích và trình bày theo từng phương án, nhưng điều này không có nghĩa là các chính sách/vấn đề được đánh giá trên không có mối liên hệ với nhau. Trên thực tế, lợi ích của các phương án đều dựa trên giả thiết rằng đã lựa chọn các phương án tốt nhất cho các vấn đề khác nhau. Sự cải cách của mỗi chính sách/quy định đều có tác dụng làm gia tăng lợi ích của các chính sách/quy định khác. Việc lựa chọn các phương án có mối quan hệ lô gic và tương hỗ này sẽ đem lại những kết quả khả quan nhất cho cả nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân nói chung hay nói cách khác, việc cải cách “trọn gói” và thực hiện tất cả các chính sách đã khuyến nghị sẽ đem lại lợi ích cao nhất.
    Ngoài ra, một số chính sách cần có nhiều đánh giá tác động định lượng hơn nhưng vì là báo cáo đánh giá tác động được thực hiện trong giai đoạn đề xuất xây dựng chính sách nên các đánh giá bước đầu chủ yếu mang tính định tính, các vấn đề về lợi ích - chi phí có thể được đánh giá định lượng cụ thể trong giai đoạn soạn thảo và hoàn chỉnh dự thảo Luật (nếu cần) để bảo đảm tính chính xác.
    Trên đây là nội dung Báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng Luật công tác xã hội, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội xin báo cáo Chính phủ.
     

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com