Thứ ba, ngày 22/01/2019login
  • Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật về công tác xã hộiGóp ý

    Cơ quan ban hành: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

    Mô tả: Tài liệu kèm theo Dự thảo Luật được lấy ý kiến nhân dân trên Cổng thông tin của Chính phủ

  • Để cụ thể hóa Hiến pháp 1992 và các định hướng của Đảng tại các văn kiện của Đảng, các chính sách của Nhà nước liên quan đến bảo đảm an sinh xã hội trong các đạo luật, Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng và tổ chức thực thi các văn bản pháp luật nhằm phát triển công tác xã hội (gọi tắt là CTXH), bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Thực hiện Hiến pháp năm 2013 với nhiều nội dung và tinh thần mới về bảo đảm quyền con người, quyền công dân, về chính sách an sinh xã hội đã đặt ra yêu cầu cần phải tiếp tục rà soát và đánh giá hệ thống pháp luật về CTXH nhằm thúc đẩy thực thi các chính sách, bảo đảm tính khả thi và hiệu quả của chính sách.
     Trong bối cảnh như vậy, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã chủ trì, phối hợp các bộ, ngành tiến hành tổng kết việc thi hành pháp luật về công tác xã hội và đề xuất hướng điều chỉnh các quan hệ xã hội về CTXH ở Việt Nam hiện nay.
    Phần thứ nhất
    TỔNG QUAN VỀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
    I.    Vị trí, vai trò của công tác xã hội
    Thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế - xã hội phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt Nam đã có những thay đổi tích cực và quan trọng trên nhiều lĩnh vực, sự phát triển đó góp phần làm cho đời sống của người dân được cải thiện về vật chất và tinh thần và mức sống ngày càng nâng cao. Quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là tăng trưởng kinh tế phải tiến hành đồng thời với tiến bộ và công bằng xã hội. Song song với tăng trưởng kinh tế phải tập trung cho giảm nghèo, hỗ trợ các đối tượng yếu thế như người già, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người nghèo và các đối tượng xã hội khác.
    Thực hiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu quản lý xã hội phải dựa trên pháp luật, hệ thống luật pháp, chính sách về an sinh xã hội đã đuợc hình thành và từng bước hoàn thiện. Trong lĩnh vực an sinh xã hội, tính từ năm 1989 đến nay đã có trên 15 Bộ luật, Luật; 7 Pháp lệnh và hơn 50 Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, thông tư và các văn bản chỉ đạo khác có nội dung quy định CTXH là cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện CTXH ở Việt Nam; trợ giúp các đối tượng, góp phần ổn định xã hội. 
    Vào cuối những năm 1980 xuất hiện những ý tưởng phát triển công tác xã hội. Ở thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Công tác xã hội và Nghiên cứu phát triển cộng đồng đã hình thành và công tác xã hội bắt đầu được coi là môn học được giảng dạy trong chương trình đào tạo Phụ nữ học tại Trường Đại học Mở bán công. Ở Hà Nội một số tổ chức phi chính phủ quốc tế bắt đầu giới thiệu các lý thuyết về công tác xã hội và phương pháp công tác xã hội trong phạm vi các khoá ngắn hạn, ví dụ như đào tạo tại chức cho các cán bộ của Hội phụ nữ và Đoàn thanh niên. Từ đó, dần dần nhu cầu đào tạo về công tác xã hội đã phát triển trong nội bộ những người làm trong lĩnh vực an sinh xã hội.
    Từ năm 1997, tại trường Cao đẳng Lao động - Xã hội (COLISA), nay là trường Đại học Lao động – Xã hội cũng như tại Trường Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh có các khoá học đào tạo về công tác xã hội. Nắm được nhu cầu về công tác xã hội chuyên nghiệp, chính phủ Việt Nam tiếp tục phê duyệt các chương trình phát triển cao hơn về công tác xã hội và việc này đưa đến sự kiện vào cuối năm 2004 Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã thông qua mã ngành đào tạo công tác xã hội. Cùng với hai trường đã có đào tạo công tác xã hội kể trên Đại học Mở bán công TP Hồ Chí Minh và Đại học Lao động – Xã hội sinh viên đã được học các chương trình đào tạo công tác xã hội tại các trường Đại học Công đoàn, Đại học Đà Lạt, Đại học Huế và Đại học Thăng Long. Vào thời điểm viết bản báo cáo này các trường Đại học Sư phạm đồng Tháp, Đại học Quy Nhơn, Đại học Quảng Bình, Đại học Sư phạm và Đại học Quốc gia Việt Nam đang bắt đầu chuẩn bị các chương trình đào tạo về công tác xã hội.
    Tuy nhiên, mặc dù nhu cầu đào tạo về công tác xã hội được thừa nhận, nhưng bản chất công tác xã hội là một nghề vẫn không được hiểu rõ ở nhiều nơi. Đánh giá chính xác về vai trò công tác xã hội vẫn chưa thống nhất ở cả các tổ chức nhà nước và các tổ chức phi chính phủ liên quan đến lĩnh vực an sinh xã hội. Vì thế vẫn còn có những nhầm lẫn, với một số người việc sử dụng thuật ngữ “công tác xã hội” để chỉ tất cả những người làm việc trong lĩnh vực an sinh xã hội, những người khác thì chỉ nắm được vai trò chủ yếu của công tác xã hội là từ thiện mà thôi trong khi đó có những người khác vẫn còn nghi ngờ về việc liệu công tác bảo trợ xã hội, phòng chống các tệ nạn xã hội hay phát triển xã hội có cần đòi hỏi đào tạo đặc biệt hay không.
     Theo kết quả điều tra, khảo sát, đến nay, cả nước đã có với 418 cơ sở trợ giúp xã hội trên phạm vi cả nước, trong đó có 195 cơ sở công lập, 223 cơ sở ngoài công lập, đáp ứng nhu cầu trợ giúp xã hội cho 30% đối tượng. Mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội bao gồm 33 cơ sở chăm sóc người cao tuổi, 74 cơ sở chăm sóc người khuyết tật, 144 cơ sở chăm sóc trẻ em, 102 cơ sở tổng hợp, 31 cơ sở chăm sóc người tâm thần và 34 trung tâm công tác xã hội, các tổ chức và cá nhân huy động được nguồn lực to lớn để trợ giúp các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn; 200.000 cán bộ, nhân viên và cộng tác viên làm việc trong lĩnh vực công tác xã hội. Một số mô hình mới về trợ giúp xã hội cho người cao tuổi, người khuyết tật, người tâm thần, trẻ em và đối tượng có hoàn cảnh khó khăn khác đã được thí điểm, hoạt động hiệu quả tại Quảng Ninh, Đà Nẵng, Thanh Hóa, Bến Tre, Long An, Nghệ An, Cần Thơ, TP. Hồ Chí Minh.
    Mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội đã tiếp nhận, nuôi dưỡng và chăm sóc nhiều loại đối tượng bảo trợ xã hội khác nhau, trong số đó, số đối tượng là người lớn và trẻ em khuyết tật và tâm thần chiếm tỷ lệ lớn 46,5%, số đối tượng là trẻ em mồ côi và bị bỏ rơi chiếm một tỷ lệ tương đối 19,3%, số đối tượng là người già cô đơn chiếm tỷ lệ 10,3%, số đối tượng là trẻ em và người lớn nhiễm HIV/AIDS chiếm tỷ lệ 1,4%. Cho đến nay, mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội đã cung cấp cho khoảng 30% đối tượng cần trợ giúp xã hội với các dịch vụ như tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng bảo trợ xã hội; tổ chức hoạt động phục hồi chức năng, lao động sản xuất, dạy văn hoá, dạy nghề, giáo dục hướng nghiệp và cung cấp các dịch vụ công tác xã hội.
           Do công tác xã hội chưa được công nhận là một nghề chuyên nghiệp nên phần lớn cán bộ nhân viên chưa qua đào tạo CTXH hoặc được đào tạo từ nhiều nghề khác nhau. Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở, nhất là các cơ sở chỉnh hình và phục hồi chức năng cho người tàn tật, người tâm thần còn nghèo nàn; phương pháp chăm sóc, điều trị và trợ giúp đối tượng tại các cơ sở còn nhiều hạn chế. Đặc biệt, các ngạch viên chức công tác xã hội chưa được ban hành đầy đủ các mã số ngạch, tiêu chuẩn ngạch nên ảnh hưởng vai trò, nhiệm vụ và tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ, viên chức và nhân viên làm việc tại các cơ sở. Vì vậy, năng lực chăm sóc, trợ giúp các đối tượng của các cơ sở không cao, không phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay.
    Thực trạng công tác xã hội tại Việt Nam trước năm 2010 có một số đặc điểm sau:
    - Về nhận thức: Các ngành, các cấp và người dân chưa biết nhiều đến ngành công tác xã hội; cán bộ, nhân viên công tác xã hội, ch¬ưa nhận dạng được họ là ai, làm việc gì và ở đâu. Vai trò, nhiệm vụ công tác xã hội là gì, có sự khác biệt gì giữa công tác xã hội với các ngành nghề liên quan khác.
    - Về mặt thể chế chính sách: Chưa có khung kỹ thuật tổng thể phát triển CTXH và thiếu cơ sở pháp lý cho sự phát triển nghề CTXH chuyên nghiệp. Cho đến nay mới có quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chương trình khung đào tạo chuyên ngành CTXH và cho phép một số tr¬ường đại học mở ngành đào tạo cử nhân CTXH. Các vị trí làm việc cho nhân viên công tác xã hội trong các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức cung cấp dịch vụ, kể cả các NGOs và các tổ chức đoàn thể có tham gia hoạt động công tác xã hội chưa được xác định. Tiêu chuẩn chức danh nghề CTXH ở các cơ sở cung cấp dịch vụ, các loại hình công việc chưa được ban hành; thang, bảng lương cho các chức danh cụ thể về công tác xã hội cũng chưa có.
    - Về cơ chế tài chính: Nhà nước chưa có cơ chế mua dịch vụ CTXH để cung cấp cho các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt, và cơ chế cung cấp tài chính cho các NGO thông qua các hợp đồng. Bên cạnh việc huy động nguồn lực của xã hội để trợ giúp và cung cấp các dịch vụ xã hội cho người dân có vấn đề xã hội cũng chưa quản lý có hiệu quả, về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sự huy động nguồn lực toàn xã hội.
    - Về mạng lưới tổ chức cung cấp dịch vụ và mạng lưới nhân viên CTXH: Hệ thống các tổ chức liên quan đến cung cấp các dịch vụ về công tác xã hội hình thành ở ngành Lao động-Thương binh và Xã hội là chủ yếu, chưa hình thành ở các ngành Y tế, Giáo dục, Toà án nhân dân; lực lượng cán bộ lại quá mỏng và cũng thiếu tính chuyên nghiệp; các hoạt động hiện tại mang nặng tính quản lý Nhà nước hơn là hướng dẫn, hỗ trợ cung cấp dịch vụ công cho các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt, nhằm giúp họ tự giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh.
    - Mạng l¬ưới nhân viên CTXH của Việt Nam ch¬ưa đ¬ược thiết lập cơ bản và hệ thống. Đội ngũ cán bộ văn hoá - xã hội ở cấp xã, phường, thị trấn, cán bộ trong các cơ sở bảo trợ xã hội, cán bộ kiêm nhiệm hoạt động trong hệ thống hội chữ thập đỏ các đoàn thể và các tổ chức phi chính phủ cung cấp dịch vụ cho người già, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người khuyết tật ... nhưng họ chỉ là những nhân viên công tác xã hội nghiệp dư, chưa được đào tạo chuyên ngành CTXH.
    - Về đào tạo công tác xã hội: Đội ngũ giảng viên thiếu, nhiều trường ch¬ưa có giáo viên đ¬ược đào tạo cơ bản. Sau một thời gian nỗ lực của các Bộ, Ban ngành liên quan như Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cùng một số trường đại học, cao đẳng trên cả nước, tháng 11 năm 2004 mã đào tạo ngành Công tác xã hội đã đựơc chính thức phê duyệt. Từ chỗ trong năm 2004 cả nước mới chỉ có 1-2 trường đào tạo loại hình cán bộ nhân viên này, đến năm 2010 chúng ta đã có tới 55 trường Đại học và Cao đẳng được phép triển khai đào tạo công tác xã hội. Điều này đánh dấu một bước phát triển về ngành công tác xã hội, mở đường cho việc chuyên môn hóa các cán bộ làm việc trong lĩnh vực an sinh xã hội ở nước ta.
    Ngoài ra, những vấn đề xã hội bức xúc như: tình trạng đói nghèo, tệ nạn ma túy, đại dịch HIV/AIDS, bạo lực gia đình, trẻ em bị sao nhãng và bị xâm hại không có chiều hướng giảm; Tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát thực thi chính sách còn nhiều bất cập. Cán bộ làm công tác xã hội còn thiếu và chưa được đào tạo bài bản, nhất là cán bộ làm việc trực tiếp với đối tượng. Đặc biệt đội ngũ những người làm công tác xã hội chưa hiểu và chưa được đào tạo công tác xã hội nên làm việc chưa theo phương pháp khoa học của chuyên ngành công tác xã hội; hệ thống tổ chức bộ máy cung cấp dịch vụ CTXH chuyên nghiệp ở cộng đồng đang được hình thành ở tất cả các địa phương. Điều này đã ảnh hưởng tới hiệu quả của các chính sách xã hội trong tình hình mới với phương châm trợ giúp “Cho cần câu chứ không cho xâu cá”. Tình hình sẽ rất khó được cải thiện trừ khi nước ta có nghề công tác xã hội chuyên nghiệp.
    II. Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác xã hội
    Hệ thống an sinh xã hội là một bộ phận trong mô hình phát triển xã hội để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Từ nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội.
    Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI đã chỉ rõ “Từng bước xây dựng chính sách bảo trợ xã hội đối với toàn dân, theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, mở rộng và phát triển sự nghiệp bảo trợ xã hội, tạo lập nhiều hệ thống và hình thức bảo trợ xã hội cho những người có công với cách mạng và những người gặp khó khăn. Nghiên cứu bổ sung chính sách, chế độ bảo trợ xã hội phù hợp với quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội” .  Đây là sự quan tâm của Đảng đối với đối tượng bảo trợ xã hội, nhấn mạnh sự cần thiết phải nghiên cứu, tạo lập nhiều hệ thống và hình thức bảo trợ xã hội cho các đối tượng bảo trợ xã hội. Đây cũng là tiền đề, cơ sở để phát triển công tác xã hội và nghề công tác xã hội ở Việt Nam.
    Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đã chỉ rõ: “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất của mọi thành viên trong xã hội.  Chăm lo đời sống những người già cả, neo đơn, tàn tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi”.  Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII tiếp tục khẳng định “Thực hiện các chính sách bảo trợ trẻ em mồ côi, lang thang cơ nhỡ, người già neo đơn, nạn nhân chiến tranh, người tàn tật”.
     Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Nghị quyết Đai hội Đảng lần thứ  X khẳng định: “Mục tiêu và phương hướng tổng quát của 5 năm 2006 - 2010 là: nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; phát triển văn hoá; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế;”.
    Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII đã nêu rõ “Ưu tiên xây dựng các luật về kinh tế, về các quyền công dân,...” đồng thời tại Nghị quyết số 48/NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 cũng nhấn mạnh: “…ban hành kịp thời, đồng bộ và tổ chức thực thi các pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội”.
    Nghị quyết Đại hội Đảng  lần thứ XI đặt ra nhiệm vụ: “Phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là trong tình hình kinh tế khó khăn, suy giảm”… “Tiếp tục sửa đổi, hoàn chỉnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, trợ giúp mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế dễ bị tổn thương vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống”;  “tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình xoá đói, giảm nghèo ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn”.
    Nghị quyết số 15/NQ-TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hành TW Đảng  khóa XI về “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020” cũng khẳng định “Chính sách xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ..”, đồng thời thực hiện có trọng tâm, trọng điểm; bảo đảm mức sống tối thiểu và hỗ trợ kịp thời người có hoàn cảnh khó khăn.
    Ngày 01/11/2012,  Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 70/NQ-CP Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TWngày 01 tháng 6 năm 2012  của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020 trong đó “xác định các nhiệm vụ chủ yếu để các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức, cá nhân thực hiện thành công mục tiêu của Nghị quyết 15 đã đề ra nhằm không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người có công với cách mạng và bảo đảm an sinh xã hội cho mọi người dân phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước từng thời kỳ”. Các nhiệm vụ chung chủ yếu nêu tại Nghị quyết là:
    - Rà soát, đánh giá, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về người có công với cách mạng và an sinh xã hội, tăng cường hiệu quả và hiệu lực của hệ thống pháp luật. 
    - Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý và thực hiện các chính sách ưu đãi người có công với cách mạng và an sinh xã hội; trong đó chú trọng chính sách đặc thù đối với đồng bào dân tộc thiểu số và vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; hướng dẫn, đôn đốc thanh tra, kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện chính sách người có công với cách mạng và an sinh xã hội.
    - Bố trí kinh phí, nhân lực; tăng cường cơ sở vật chất, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa huy động nguồn lực để thực hiện thành công các mục tiêu của Nghị quyết 15. Tạo điều kiện để người dân nâng cao khả năng tự bảo đảm an sinh, ưu tiên hỗ trợ các đối tượng yếu thế.
    - Thông tin tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, tổ chức và cá nhân về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng và an sinh xã hội.
    Với quan điểm đó, Chính phủ đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020 cơ bản hình thành một hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân, nhằm bảo đảm để người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu; tham gia bảo hiểm xã hội, bảo đảm hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi thu thập thấp, người khuyết tật nặng, người nghèo…); bảo đảm cho người dân tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin), góp phần giảm nghèo bền vững, ổn định chính trị và phát triển kinh tế-xã hội. 
    Như vậy, xuyên suốt hơn 25 năm đổi mới đất nước, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là chú trọng đến vấn đề an sinh xã hội và đẩy mạnh ban hành và hoàn thiện các văn bản pháp luật về an sinh xã hội, trong đó Công tác xã hội là nội dung có tính chủ chốt của an sinh xã hội và hệ thống phúc lợi xã hội.
    III. Thực trạng pháp luật Việt Nam về công tác xã hội
    1. Pháp luật quốc tế
    Trên thế giới, công tác xã hội phát triển nhằm giải quyết các vấn đề xã hội. Thông qua hỗ trợ và tác động đối với cá nhân, gia đình, nhóm đối tượng, cộng đồng và hệ thống xã hội, CTXH nhằm giải quyết vấn đề xã hội, tăng cường phúc lợi và công bằng xã hội. Công tác xã hội đã ra đời do nhu cầu xã hội trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa; đã có quá trình phát triển hơn 100 năm qua trên thế giới. Công tác xã hội chuyên nghiệp đã tồn tại ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tính đến năm 2009, có khoảng 90 quốc gia là thành viên của Hiệp hội Cán bộ xã hội Quốc tế.
    Cho dù các hoạt động mang hình thái công tác xã hội đã tồn tại từ lâu đời dưới nhiều hình thức khác nhau, nghề công tác xã hội mới bắt đầu phát triển vào  thế kỷ 19 tại Tây-Bắc Âu và Bắc Mỹ,  do kết quả của sự thay đổi xã hội  nhanh chóng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa diễn ra và mong muốn áp dụng các kiến thức khoa học vào việc trợ giúp các đối tượng. Sự thay đổi cấu trúc gia đình truyền thống, sự di cư nông thôn ra thành thị,  mật độ dân số tăng ở các vùng thành thị làm nảy sinh các vấn đề xã hội phức tạp, các tệ nạn xã hội, tình hình tội phạm gia tăng, trẻ em bị bỏ rơi, bị bóc lột sức lao động... Những yếu tố này đóng góp vào sự ra đời của nghề công tác xã hội như một nghề độc lập. 
    Ở các quốc gia, công tác xã hội được chuyên nghiệp hóa, thể chế và thiết chế thường bao gồm những yếu tố chính như:
    •    Hệ thống pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm của cán bộ xã hội;
    •    Hệ thống giáo dục và đào tạo;
    •    Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và thang bảng lương;
    •    Hệ thống dịch vụ CTXH;
    •    Hiệp hội nghề và hiệp hội giáo dục đào tạo công tác xã hội;
    Bên cạnh đó, một số quốc gia còn xây dựng: Tiêu chuẩn nghề công tác xã hội; Đạo đức nghề công tác xã hội.
        Công tác xã hội trên thế giới đều dựa trên một số định nghĩa giống nhau, mục tiêu cơ bản và những giá trị chung. Tuy nhiên, từng quốc gia đều có hướng tiếp cận của riêng mình, hướng tiếp cận này phản ánh trình độ và giai đoạn phát triển của quốc gia và văn hóa của quốc gia đó. Ví dụ, Mỹ, Úc và các nước Bắc Âu thì nhấn mạnh sự tương tác với cá nhân trong điều kiện một hệ thống phúc lợi xã hội đã phát triển ở trình độ cao. Ở các quốc gia khác,  như Philippines, Papua New Guinea, các quốc gia Đông và Nam Phi thì trọng tâm là sự phát triển xã hội.
    Từ rà soát pháp luật quốc tế cho thấy việc xây dựng pháp luật thích hợp là cần thiết cho sự phát triển công tác xã hội. Ở các nước có pháp luật được rà soát, trách nhiệm, vai trò và nhiệm vụ của công tác xã hội chuyên nghiệp đều được quy định trong một đạo luật. Luật đó có thể đặt tên cụ thể cho công tác xã hội, hoặc nó có thể quy định quyền hạn và trách nhiệm cho giám đốc các cơ quan phúc lợi xã hội (hoặc một người có chức vụ tương đương) hoặc với các cơ quan phúc lợi xã hội hay dịch vụ công tác xã hội bằng hướng dẫn để quy định quyền hạn và trách nhiệm cho nhân viên xã hội liên quan đến mỗi tình huống cần thiết. Vì vậy, có thể nói rằng nếu không có luật điều chỉnh, công tác xã hội khó có thể được thực hiện đầy đủ và hiệu quả.
    Vì công tác xã hội trên toàn thế giới đã được chuyên nghiệp hóa, nên đều có xu hướng tuân thủ và phụ thuộc các quy định trong các luật khung. Luật khung này có nhiệm vụ xác định vị trí của nghề công tác xã hội thông qua việc xác định ai được coi là một nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp, trình độ của người làm nghề công tác xã hội, thành lập các thiết chế liên quan, quy định sổ đăng ký nhân viên công tác xã hội hoặc/và nhân viên công tác xã hội phải có giấy phép cá nhân để thực hành nghề. Các cơ chế này là để bảo vệ công chúng khỏi những hình thức thực hành công tác xã hội kém chất lượng và thông qua việc bảo vệ này cũng là để duy trì sự phát triển của nghề công tác xã hội.
    Đây cũng là bằng chứng cho thấy hai hình thức luật này được kết hợp chặt chẽ, trong đó luật về thực hành công tác xã hội và hành động sử dụng luật khung như là cơ sở để xác định "ai là nhân viên công tác xã hội", trong khi luật khung lại dựa vào luật thực hành và hành động để đưa ra các chi tiết về " nhân viên công tác xã hội làm gì". Chính vì vậy, nếu thiếu một trong hai luật thì không đủ để tạo ra và duy trì nghề công tác xã hội chuyên nghiệp và đóng góp cho xã hội.
    2. Thực tiễn pháp luật Việt Nam
    Kết quả rà soát các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến công tác xã hội (năm 2012) cho thấy:
    Việt Nam đã bước đầu xây dựng được hệ thống giáo dục và đào tạo về nghề CTXH.  Đây là những kết quả và ưu điểm nổi trội trong  tổng thể phat triển công tác xã hội ở Việt Nam. Ngay từ đầu những năm 90, thế kỷ XX,  cách đây hơn 20 năm,  một số trường đại học, cao đẳng đã có những khóa tập huấn ngắn hạn về CTXH. Tháng 10 năm 2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành mã số đào tạo cho CTXH, và từ đó CTXH được coi là một ngành học ở cấp cao đẳng và đại học. Tháng 3/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020.  Việt Nam đã có mã số nghề, ngạch bậc, có người thực hiện ở các cấp, đó là một sự cố gắng và thúc đẩy mạnh mẽ CTXH ơ Việt Nam. 
    Đến nay, Việt Nam đã có trên 55 cơ sở đào tạo đang tiến hành đào tạo CTXH ở bậc cao đẳng, cử nhân và một số sở đào tạo  thạc sĩ. Việt Nam đã có hệ thống giáo dục và đào tạo về nghề CTXH. Điều này, rất khác với nhiều quốc gia trên thế giới. Những quốc gia có nghề CTXH được chuyên nghiệp hóa đều có hệ thống pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cán bộ xã hội (nhân viên công tác xã hội), trước khi xây dựng được hệ thống giáo dục và đào tạo như ở Việt Nam. Điều đó, cho thấy việc tồn tại và phát triển CTXH ở Việt Nam có những nét đặc thù riêng  và cũng thể hiện rõ nhu cầu tất yếu xã hội về CTXH, nghề CTXH, về dịch vụ CTXH
    CTXH với những biểu hiện cụ thể của nó đã được đề cập trong một số quy định pháp luật. Ngay từ những năm 40-50 của thế kỷ trước, thông qua các hoạt động trợ giúp, hỗ trợ người già, trẻ em mồ côi, khuyết tật, những người gặp hoàn cảnh khó khăn do các cá nhân, tổ chức thực hiện. Pháp luật đã  quy định  quá trình thực hiện hoạt động giúp đỡ những đối tượng dễ bị tổn thương. Đó là những cơ sở thuận lợi cho việc bổ sung, điều chỉnh, xây dựng các quy định pháp luật về nghề CTXH trong thời gian tới, đặc biệt trong các vấn đề liên quan tới trẻ em, người chưa  thành niên và phúc lợi gia đình...
    Hầu hết các văn bản trong các lĩnh vực được rà soát về các lĩnh vực hôn nhân và gia đình, nuôi con nuôi, trợ giúp pháp lý, dân sự, hành chính và hình sự...có liên quan đến hoạt động CTXH về cơ bản đảm bảo tính hợp Hiến, hợp pháp, có kế thừa, phát huy, điều chỉnh và bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn đặt ra và được thực hiện đúng với đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam.
    Việc tổ chức thực hiện các quy định có liên quan đến công tác xã hội và dịch vụ công tác xã hội về cơ bản đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền, lãnh đạo các ban, ngành, tổ chức quan tâm chỉ đạo, triển khai và đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận, đó là cơ sở để từng bước đóng góp vào sự phát triển, hoàn thiện ngành, nghề CTXH ở Việt Nam.
    Một số tồn tại, thiếu hụt:
    Tuy nhiên, hành lang pháp lý về nghề CTXH ở Việt Nam còn nhiều bất cập, hạn chế, đó là quy định còn  mờ nhạt, trong đó thiếu hụt lớn nhất là ở Việt Nam chưa có một văn bản pháp luật chuyên ngành, riêng biệt về CTXH :
    - Các văn bản pháp luật quy định về CTXH có giá trị pháp lý tương đối thấp, chủ yếu là thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành liên quan. Chưa có văn bản có hiệu lực pháp lý cao ở tầm luật, pháp lệnh để quy định các vấn đề cơ bản về hoạt động CTXH, viên chức CTXH và quản lý nhà nước đối với nghề CTXH...nên khó khăn cho việc lồng ghép, đưa các quy định cụ thể về CTXH vào các văn bản pháp luật trong các lĩnh vực chuyên ngành khác, cũng như tổ chức triển khai trên thực tế.
    - Công tác xã hội, chưa được nhìn nhận là một nghề chuyên nghiệp - chưa có dịch vụ CTXH chuyên nghiệp; chưa có quy định rõ, cụ thể về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của  viên chức công tác xã hội (lực lượng chính, nòng cốt cho nghề CTXH ở  Việt Nam). Các quy định pháp luật trong các lĩnh vực rà soát có liên quan đến CTXH cho thấy nhiều quy định còn chung chung; một số lĩnh vực chưa có quy định, còn thiếu, còn khoảng trống; có quy định còn chồng chéo, thiếu đồng bộ hoặc bất cập khó triển khai, thực hiện trên thực tế.
    Nhiều quy định liên quan đến vị trí, vai trò, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và các chính sách bảo đảm, hỗ trợ cho việc thực hiện nhiệm vụ CTXH, dịch vụ CTXH  trong các văn bản luật pháp chưa rõ ràng. Các chính sách bảo đảm, hỗ trợ cho việc thực hiện nhiệm vụ CTXH  đối với các đối tượng thực hiện nhiệm vụ này chưa tương xứng, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế, như quy định về chế độ thụ hưởng chưa phù hợp với đặc thù của công việc mà họ đảm nhiệm, thực hiện. Bên cạnh đó, chế độ đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng thực hiện nhiệm vụ CTXH  cũng chưa rõ, đặc biệt là đối với các đối tượng trong các cơ sở cung cấp dịch vụ Công tác xã hội.
    - Còn thiếu nhiều quy định liên quan đến CTXH.  So với các nước phát triển trên thế giới, và ngay cả với  nhiều nước trong khu vực, thì các qui định  liên quan đến CTXH ở Việt Nam còn một khoảng cách lớn và có sự thiếu hụt, cụ thể như thiếu quy định pháp lý về phê duyệt, giám sát, cấp phép đào tạo CTXH theo chuẩn nghề nghiệp, hay quy định pháp luật về thi sát hạch chuyên môn và cấp giấy phép hành nghề trong một số lĩnh vực chuyên biệt của CTXH. Trong bối cảnh đó, mức độ phát triển của nghề CTXH tại Việt Nam cũng có khoảng cách lớn so với các nước, như về nhận thức, chiến lược phát triển toàn diện, đào tạo cán bộ, nhân viên công tác xã hội, mạng lưới nhân viên và bộ máy, tổ chức hoạt động; vị trí, vai trò, nhiệm vụ của cán bộ, nhân viên công tác xã hội trong từng lĩnh vực cụ thể; những quy định chung về CTXH, về thực hành CTXH, về thành lập Hội, Hiệp hội CTXH...
    Ở hầu hết các nước phát triển, nghề CTXH và nhân viên CTXH chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật khác nhau: có văn bản riêng cho CTXH và có những văn bản nằm xen kẽ trong các đạo luật hoặc luật chuyên ngành. Ở Việt Nam còn có những khoảng trống và bất cập do thiếu những điều kiện cần và đủ có liên quan giữa các quy định pháp luật đã được ban hành so với thực tiễn triển khai, thực hiện và vận dụng (như nhận thức, cơ chế, con người, cơ sở vật chất...). Hầu hết các lĩnh vực rà soát các quy định pháp luật về CTXH cho thấy có những vấn đề cần được bổ sung, điều chỉnh, sửa đổi, xây dựng mới cho phù hợp với tình hình thực tiễn đặt ra và phù hợp với nhu cầu đòi hỏi của xã hội Việt Nam cũng như xu hướng phát triển tất yếu của CTXH thế giới.
    - Thực tiễn triển khai, thực hiện các quy định của pháp luật về CTXH vẫn còn nhiều bất cập. Các dịch vụ đang do một số tổ chức Chính phủ và phi chính phủ  tiến hành, nhưng các tổ chức này lại chưa có đầy đủ hoặc thậm chí không có kiến thức, trình độ về CTXH, cũng như trang bị năng lực cho những người trực tiếp thực hiện các dịch vụ đó có điều kiện, kiến thức, kỹ năng thực hiện nhiệm vụ, kỹ năng bảo vệ mình; các loại hình dịch vụ CTXH chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu thực tiễn; các hoạt động mang tính CTXH chuyên nghiệp vẫn còn yếu, đặc biệt đội ngũ nhân viên  CTXH vừa thiếu về số lượng và yếu về chất lượng.
    Từ những cơ sở trên cho thấy nhu cầu cấp bách ở nước ta là sớm xây dựng và ban hành văn bản pháp lý phù hợp - một văn bản ở tầm Luật, pháp lệnh để điều chỉnh lĩnh vực mới và rất quan trọng này, nhằm giúp những người làm CTXH phát triển cả về số lượng, chất lượng, hình thành đội ngũ viên chức, nhân viên CTXH chuyên nghiệp. Để CTXH phải trở thành một nghề nhằm thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về an sinh xã hội, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, và khu vực. Cũng như đáp ứng nhu cầu thực tiễn đang đặt ra, góp phần quan trọng vào bảo đảm ổn định và phát triển bền vững của đất nước.

    Phần thứ hai
    TÌNH HÌNH THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
    I. Tình hình tổ chức thi hành Quyết định 32/2010/QĐ-TTg về phát triển nghề CTXH và các văn bản liên quan
    Để trợ giúp cho các đối tượng dễ bị tổn thương, có hoàn cảnh đặc biệt, trong những năm qua, cùng với đẩy mạnh Chương trình xoá đói giảm nghèo, Đảng và Nhà nước tập trung xây dựng hệ thống pháp luật, chính sách an sinh xã hội ngày càng được bổ sung, hoàn chỉnh, trong đó có: Luật Trẻ em; Luật Hôn nhân và Gia đình; Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng, chống ma tuý; Pháp lệnh về người tàn tật; Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, Nghị định 103/2017/NĐ-CP ngày 12/9/2017 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội và nhiều chính sách, chương trình trợ giúp khác góp phần hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, cung cấp các dịch vụ xã hội và phát triển đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác xã hội.
    Trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay, có nhiều các văn bản quy phạm pháp luật về trợ giúp đối tượng dễ bị tổn thương, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đã được ban hành như: Luật Người khuyết tật; Luật Người cao tuổi; Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; Nghị định 103/2017/NĐ-CP ngày 12/9/2017 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội; Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020; Quyết định số 1215/2011/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 1019/2012/QĐ-TTg ngày 05/8/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012-2020; Quyết định số 1555/QĐ-TTg ngày 17/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012 - 2020; Quyết định số 647/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em khuyết tật nặng và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013 – 2020.
    Hệ thống pháp luật, chính sách xã hội, các chương trình, đề án về chăm sóc, trợ giúp các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt của Việt Nam tạo môi trường pháp lý, hành chính, xã hội cho công tác xã hội phát triển; huy động sự tham gia của cộng đồng, các đoàn thể chính trị-xã hội, các tổ chức tôn giáo trợ giúp các đối tượng.
    Các chính sách ngày càng toàn diện hơn, bao trùm  các nhu cầu cơ bản của đối tượng: về nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, hướng nghiệp, dạy nghề... Đối tượng  được trợ giúp từng bước được mở rộng đáp ứng với bức xúc của thực tế. Mức trợ cấp ngày càng cao hơn, cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản ngày càng tốt hơn. Đặc biệt các chính sách mới ngày càng mang tính hội nhập hơn, phát huy truyền thống văn hoá, nhân văn của dân tộc và mang tính xã hội hoá không ỷ lại vào nhà nước nhiều hơn; Hệ thống tổ chức bộ máy và đội ngũ nhân viên công tác xã hội làm việc trong lĩnh vực an sinh xã hội ngày càng được mở rộng. Đó là những người làm việc trong các lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ trẻ em, trợ giúp người khuyết tật, trợ giúp các cá nhân, gia đình tan vỡ, phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm, chăm sóc bệnh nhân tâm thần, chăm sóc-trợ giúp người nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, giảm nghèo và trợ giúp người cao tuổi.
        II. Kết quả thực hiện Quyết định 32/2010/QĐ-TTg và các văn bản liên quan
    Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các Bộ, ngành liên quan đã khẩn trương hướng dẫn địa phương triển khai Đề án 32 tập trung vào 5 nhóm công việc chính sau: (1) Xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công tác xã hội; (2) Củng cố và phát triển mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội và đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội; (3) Đào tạo, xây dựng và hoàn thiện chương trình đào tạo và dạy nghề công tác xã hội; (4) Công tác tuyên truyền, thông tin nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân về nghề công tác xã hội; (5) Vận động tài trợ từ các tổ chức quốc tế, bước đầu đạt được một số kết quả cụ thể như sau:
    1. Về xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công tác xã hội
        Trong giai đoạn 2010-2018, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và các Bộ, ngành đã chú trọng, đẩy mạnh công tác nghiên cứu, xây dựng và trình ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật phát triển nghề công tác xã hội. Cụ thể:
    - Các Bộ, ngành đã ban hành: Thông tư số 08/2010/TT-BNV ngày 25/8/2010 quy định chức danh, mã số các ngạch viên chức công tác xã hội; Thông tư số 34/2010/TT-BLĐTBXH ngày 8/11/2010 quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức công tác xã hội; Thông tư số 04/2011/TT-BLĐTBXH ngày 25/2/2011 quy định tiêu chuẩn chăm sóc tại các cơ sở bảo trợ xã hội; Thông tư Liên tịch số 11/2011/TTLT/BTC-BLĐTBXH ngày 26/1/2011 hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Đề án 32; Thông tư ¬Liên tịch số 09/2013/TTLT/BLĐTBXH-BNV ngày 10/6/2013 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội; Thông t¬ư số 07/2013/TT-BLĐTBXH ngày 24/5/2013 hướng dẫn tiêu chuẩn cộng tác viên công tác xã hội cấp xã; Liên Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội - Y tế - Tài chính - Giáo dục và Đà tạo ban hành Thông tư Liên tịch  số 37/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT-BTC-BGDĐT ngày 28/12/2012 quy định về việc xác định mức độ khuyết tật do Hội đồng xác định mức độ khuyết tật thực hiện; Thông t¬ư số 01/2015/TT-BLĐTBXH ngày 6/1/2015 hướng dẫn quy trình quản lý trường hợp với người khuyết tật; Thông tư ¬Liên tịch số 30/2015/TTLT/BLĐTBXH-BNV ngày 19/8/2015 quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành công tác xã hội; Thông tư số 01/2017/TT-BLĐTBXH ngày 02/02/2017 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội quy định về tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp đối với người làm công tác xã hội; Thông tư số 25/2017/TT-BLĐTBXH ngày 30/8/2017 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội quy định điều kiện, nội dung, hình thức thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành công tác xã hội trong các đơn vị sự nghiệp công lập; Thông tư số 33/2017/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2017 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội hướng dẫn về cơ cấu tổ chức, định mức nhân viên và quy trình, tiêu chuẩn trợ giúp xã hội tại cơ sở trợ giúp xã hội; Thông tư số 98/2017/TT-BTC ngày 29/9/2017 của Bộ Tài chính quy định việc quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp thực hiện Chương trình mục tiêu Phát triển hệ thống trợ giúp xã hội; Thông tư số 02/2017/TT-BLĐTBXH ngày 27/2/2018 quy định định mức kinh tế-kỹ thuật làm cơ sở xây dựng giá dịch vụ trợ giúp xã hội.…
    - Các Bộ, ngành cũng trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành: Nghị định 103/2017/NĐ-CP ngày 12/9/2017 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội; Nghị định số 17/2013/NĐ-CP ngày 19/02/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; trong đó, lần đầu tiên quy định về chế độ tiền lương đối với đội ngũ viên chức công tác xã hội; Nghị định số 26/2016/NĐ-CP ngày 6/4/2016 của Chính phủ quy định chế độ trợ cấp, phụ cấp đối với công chức, viên chức và người lao động làm việc tại các cơ sở trợ giúp xã hội; Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội; Nghị định 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật; Quyết định số 1215/QĐ-TTg ngày 22 tháng 07 năm 2011 phê duyệt Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 647/2013/QĐ-TTg ngày 26/04/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em khuyết tật nặng và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013-2020; Quyết định số 1019/QĐ-TTg ngày 5/08/2012 phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012-2020; Quyết định số 1781/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 22/11/2012 phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2012-2020; Quyết định số 565/QĐ-TTg ngày 25/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt  Chương trình mục tiêu Phát triển hệ thống trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-2020…
        Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật này đã tạo tiền đề pháp lý quan trọng để các Bộ, ngành, địa phương từng bước phát triển nghề công tác xã hội chuyên nghiệp tại Việt Nam.
    Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và các cơ quan của Quốc hội, các Bộ, ngành có liên quan đã hoàn thành nghiên cứu, rà soát, báo cáo làm rõ vai trò, nhiệm vụ của cán bộ, viên chức và cộng tác viên công tác xã hội; trên cơ sở đó đề xuất sửa đổi, bổ sung một số luật, Bộ luật liên quan phát triển nghề công tác xã hội như: Bộ luật Lao động, Luật Trẻ em, Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới.
    Các Bộ, ngành liên quan cũng đã chủ động xây dựng, ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về công tác xã hội, trong đó:
        Có một số luật liên quan đến vai trò và nhiệm vụ của nhân viên xã hội hiện nay đã được rà soát và điều chỉnh. Ví dụ, Luật Nuôi con nuôi đang được xây dựng để đưa vai trò công tác xã hội vào thực hiện trách nhiệm đánh giá và giám sát việc cho nhận con nuôi. Cơ sở pháp lý này rất phù hợp với chuẩn mực quốc tế được thể hiện trong Công ước La Hay. Tương tự như vậy, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và giáo dục trẻ em cũng đang được điều chỉnh bởi vì công tác xã hội có vai trò rất quan trọng trong lĩnh vực này.
    Nhìn chung, các chính sách có liên quan đến phát triển hệ thống trợ giúp xã hội ngày càng toàn diện hơn, bao trùm các quy định về nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc, y tế, phục hồi chức năng, hướng nghiệp, dạy nghề, cơ sở vật chất. Đồng thời, hệ thống trợ giúp xã hội đối với các đối tượng yếu thế từng bước được mở rộng, trợ giúp đối tượng ngày càng tốt hơn, hỗ trợ các đối tượng hoà nhập cộng đồng.
    2. Về củng cố, phát triển mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội
        2.1. Thành lập và vận hành các mô hình cơ sở trợ giúp xã hội
    Để gia tăng hiệu quả, chất lượng trợ giúp các đối tượng, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Bộ Nội vụ cũng đã hướng dẫn các địa phương về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các mô hình Trung tâm công tác xã hội; phối hợp với Bộ Tài chính hỗ trợ cho khoảng 40 tỉnh, thành phố xây dựng mô hình trung tâm công tác xã hội, nâng tổng số cơ sở có liên quan đến cung cấp dịch vụ công tác xã hội là 418 cơ sở, đáp ứng nhu cầu trợ giúp xã hội cho 30% đối tượng; tổng số cán bộ, nhân viên công tác xã hội hiện đang làm việc tại các cơ sở liên quan đến cung cấp dịch vụ công tác xã hội và mạng lưới tại cấp xã gồm 35.000 người.
    Đến nay, rất nhiều mô hình trung tâm Công tác xã hội đã vận hành rất hiệu quả, như Trung tâm công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh, Đà Nẵng, Bến Tre, Long An, Thanh Hóa, Hồ Chí Minh…. Các Trung tâm này cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho hàng ngàn lượt đối tượng, như: đối tượng xã hội cần sự bảo vệ khẩn cấp; người cao tuổi, người khuyết tật, người tâm thần và người rối nhiễu tâm trí, người nhiễm HIV/AIDS, người nghèo, trẻ em, nạn nhân của phân biệt đối xử về giới; người nghiện ma túy, người bán dâm; người sau cai nghiện; cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em cần sự bảo vệ khẩn cấp và các đối tượng khác.
    Các tỉnh, thành phố từng bước chuyển đổi hệ thống các cơ sở bảo trợ xã hội sang hoạt động theo mô hình cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người già, người tâm thần, bảo vệ trẻ em, trợ giúp người khuyết tật phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng.
    Phối hợp với các tổ chức quốc tế xây dựng mô hình hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật, nạn nhân bom mìn tại một số tỉnh, thành phố: Thanh Hóa, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Hưng Yên, Quảng Trị, Đồng Nai, TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội.
      Đến nay, đã có 45 cơ sở bảo trợ xã hội có chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần; trong đó có 27 cơ sở chăm sóc chuyên biệt, 19 cơ sở tổng hợp. Một số tỉnh, thành phố đã xây dựng mô hình tốt về lao động trị liệu và PHCN luân phiên cho người tâm thần nặng như Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Sơn La, Thừa Thiên Huế, Hải Dương, Thái Nguyên; Trung tâm điều dưỡng và PHCN người tâm thần Việt Trì. Các trung tâm bước đầu thực hiện mô hình kết hợp tư vấn, trị liệu tâm lý và các dịch vụ công tác xã hội với điều trị y tế để phòng và trị liệu rối nhiễu tâm trí. Sửa chữa, nâng cấp, cải tạo cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị và xây dựng mô hình cơ sở phòng cho các cơ sở trợ giúp xã hội.
    - Hỗ trợ thí điểm xây dựng mô hình gia đình cá nhân nhận nuôi và mô hình dạy nghề đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Thanh Hóa, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Hà Nội, xây dựng mô hình cơ sở tạm lánh tại Bắc Giang, Thanh Hóa, Hưng Yên.
    - Các cơ sở bảo trợ xã hội có chăm sóc và PHCN cho người tâm thần cung cấp các dịch vụ: Tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng tại 45 cơ sở bảo trợ xã hội có chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần; công suất tiếp nhận, chăm sóc và phục hồi chức năng cho 13.000 đối tượng tại cơ sở.
    Tổ chức lao động sản xuất, phục hồi chức năng cho đối tượng. Phần lớn các cơ sở liên kết với tiểu thương, tổ chức, cá nhân, tổ chức lao động sản xuất, hướng nghiệp và dạy nghề, tạo việc làm cho người tâm thần thông qua các nghề như chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng nấm, sản xuất hương, vàng mã, giấy bản, trồng cây cảnh… tạo thu nhập, góp phần nâng cao chất lượng đời sống và tinh thần cho đối tượng như Trung tâm Điều dưỡng và phục hồi chức năng tâm thần tỉnh, thành phố: Thái Nguyên, Sơn La, Việt Trì, Ninh Bình, Hà Nội và Trung tâm phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An… Một số trung tâm đã tự bảo đảm thực phẩm hàng ngày cho đối tượng và còn cung cấp thực phẩm, sản phẩm ra ngoài thị trường.
    Trợ giúp các đối tượng tâm thần tham gia các hoạt động tập thể tại một số trung tâm như tổ chức hội thi giọng hát hay, tập cầu lông, bóng bàn, bóng chuyền, tổ chức kéo co và các hoạt động tự quản, văn hoá, thể thao, các hoạt động khác phù hợp với lứa tuổi và sức khoẻ của từng nhóm đối tượng.
    Chủ trì, phối hợp với chính quyền địa phương đưa đối tượng đủ điều kiện hoặc tự nguyện xin ra khỏi trung tâm trở về với gia đình, tái hoà nhập cộng đồng; hỗ trợ, tạo điều kiện cho đối tượng ổn định cuộc sống.
    2.2. Thiết lập mạng lưới cộng tác viên công tác xã hội 
    Bộ Lao động Thương binh Xã hội đã xây dựng và ban hành Thông tư số 07/2013/ TT-BLĐTBXH hướng dẫn tiêu chuẩn cộng tác viên công tác xã hội cấp xã/phường, quy định nhiệm vụ chung, nhiệm vụ cụ thể và các yêu cầu về trình độ, năng lực của cộng tác viên công tác xã hội. Đến nay, các tỉnh, thành phố thành lập mạng lưới cộng tác viên công tác xã hội, trên 200 nghìn người làm công tác xã hội, trong đó có trên 17.000 công chức, viên chức và người lao động làm việc tại các cơ sở xã hội công lập và ngoài công lập, gần 100 nghìn người làm việc tại các hội, đoàn thể các cấp (phụ nữ, thanh niên, hội chữ thập đỏ, hội người cao tuổi, mặt trận tổ quốc, hội nông dân, liên đoàn lao động, cựu chiến binh); trên 100 nghìn cộng tác viên giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội, bảo vệ trẻ em và phát triển cộng đồng…tạo thành một mạng lưới cán bộ, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội trợ giúp các nhóm đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo và các đối tượng xã hội khác tiếp cận, thụ hưởng các chính sách phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục, học nghề, tìm việc làm để ổn định cuộc sống.
    Hàng năm, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội phối hợp với các Bộ, ngành cùng hỗ trợ các Trung tâm công tác xã hội xây dựng mạng lưới cộng tác viên công tác xã hội; cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho các nhóm đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương tại cộng đồng; tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội thông qua các khóa tập huấn kỹ thuật vận hành mô hình Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội; tập huấn quy trình về quản lí ca/quản lý trường hợp; quy trình phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng; tập huấn về quy trình quản lý trường hợp người khuyết tật; tập huấn về nghiệp vụ chăm sóc, nhận nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; thực hiện mô hình sinh kế đối với nạn nhân bom mìn.
    3. Về đào tạo phát triển nguồn nhân lực
    Về đào tạo dài hạn: Đề án 32 đã hỗ trợ Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu hoàn thiện kế hoạch phát triển giáo dục đào tạo công tác xã hội hệ cử nhân ở 55 trường đại học, cao đẳng và 21 cơ sở dạy nghề có đào tạo chuyên ngành công tác xã hội; có 4 trường đào tạo thạc sỹ, 2 trường đào tạo tiến sỹ công tác xã hội; hàng năm đào tạo và dạy nghề cho khoảng 3.000 người, đào tạo công tác xã hội hệ vừa làm, vừa học cho khoảng 3.500 lượt chỉ tiêu/năm (năm 2010, mới chỉ có 1-2 cơ sở đào tạo trung cấp công tác xã hội). Hợp tác với Học viện Xã hội châu Á phát triển đào tạo thạc sỹ công tác xã hội tại Việt Nam, đã có 203 cán bộ quản lý đã hoàn thành khóa học thạc sỹ CTXH năm 2016-2017.
    Về đào tạo ngắn hạn: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội phối hợp với các trường đại học đã tổ chức đào tạo 500 giảng viên dạy nghề công tác xã hội cho các trường cao đẳng, trung cấp nghề trong cả nước; đào tạo 8 lớp 320 cán bộ, quản lý công tác xã hội cấp cao tại 2 miền Nam-Bắc; đào tạo 25 giảng viên nguồn công tác xã hội cho các trường đại học của Việt Nam; hàng năm hỗ trợ các tỉnh/thành phố bồi dưỡng nâng cao năng lực cho 10.000 cán bộ, nhân viên công tác xã hội, sức khỏe tâm thần; phối hợp với trường Đại học Sư phạm Hà Nội và một số trường đại học liên quan tổ chức lớp đào tạo công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ, khóa I,II năm 2017-2018 cho đội ngũ cán bộ, nhân viên làm việc tại các cơ sở chăm sóc, giáo dục, chỉnh hình và phục hồi chức năng đối với trẻ em khuyết tật, cơ sở bảo trợ xã hội, Trung tâm công tác xã hội tại 3 miền Bắc, Trung, Nam..
    Đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhân viên về lĩnh vực trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí tại các địa phương: Phối hợp với trường Đại học LĐXH xây dựng bộ giáo trình đào tạo về lĩnh vực sức khỏe tâm thần, 5 môn học, cụ thể: Đại cương sức khỏe tâm thần; công tác xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần; tâm lý lâm sàng; tham vấn cơ bản trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần; Quy trình chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần tại Trung tâm Bảo trợ xã hội; quản lý ca về chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần. Hàng năm Cục phối hợp với Trường Đại học LĐXH và các trường đại học liên quan tổ chức lớp đào tạo cán bộ, nhân viên về lĩnh vực trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng tại 3 miền Bắc, Trung, Nam, mỗi lớp khoảng 60-70/học viên/lớp/3 miền, thời gian 3 tháng, 35 ngày/lớp/miền.
    4. Công tác truyền thông nâng cao nhận thức
    Đề án 32 đã tăng cường hiểu biết của xã hội và các cấp, ngành, các nhà hoạch định chính sách thúc đẩy phát triển nghề công tác xã hội tại Việt Nam. Đến nay, công tác tuyên truyền đã đạt được kết quả nhất định: Bộ Thông tin và Truyền thông đã xây dựng và ban hành kế hoạch truyền thông phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2011-2015; Bộ LĐTBXH đã thiết lập và cập nhật thông tin cho website phát triển nghề công tác xã hội tại địa chỉ trang web: http://congtacxahoi.molisa.gov.vn; Giúp các cán bộ nghiên cứu, giảng viên các trường đại học, phóng viên báo chí và cán bộ công tác xã hội tại các tỉnh, thành phố tổ chức và triển khai đề án 32 cập nhật các thông tin mới, hữu ích.
    Các cơ quan báo chí đưa hàng trăm tin, bài liên quan đến phát triển nghề công tác xã hội tại Việt Nam; Giúp nhân dân và cán bộ các cấp, các ngành hiểu biết về vai trò, nhiệm vụ và dịch vụ Công tác xã hội; Đài truyền hình Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam, Trung tâm tư vấn và dịch vụ truyền thông đã sản xuất phóng sự, tọa đàm liên quan đến các chủ đề: kỷ niệm ngày công tác xã hội, công tác xã hội trong lĩnh vực chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần; chăm sóc và bảo vệ trẻ em; đào tạo cán bộ nhân viên công tác xã hội và chế độ chính sách đối với cán bộ, nhân viên công tác xã hội.
    Hỗ trợ kinh phí cho các tỉnh, thành phố không tự cân đối được ngân sách để tuyên truyền nhằm nâng cao trách nhiệm của các cấp chính quyền, gia đình, cộng đồng trong việc trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí, công tác xã hội…; kiến thức, kỹ năng chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí;
    5. Hợp tác quốc tế
    Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chú trọng tăng cường, vận động các đối tác quốc tế hỗ trợ triển khai Đề án 32, cụ thể như: Dự án hợp tác hỗ trợ phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2014 với tổ chức Atlantic Philanthropies, UNICEF; Dự án hợp tác hỗ trợ kỹ thuật trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí giai đoạn 2013-2015; Dự án hợp tác với tổ chức FHI về phát triển nghề công tác xã hội trong lĩnh vực cai nghiện; Hợp tác với UNICEF trong việc phát triển nghề công tác xã hội chuyên nghiệp tại Việt Nam; Hợp tác với Học viện Xã hội châu Á phát triển đào tạo thạc sỹ công tác xã hội tại Việt Nam; Phối hợp với dự án hợp tác với Tổ chức Dịch vụ Gia đình và Cộng đồng quốc tế (CFSI) “Phát triển nguồn nhân lực công tác xã hội cho đối tượng yếu thế và dễ bị tổn thương tại Việt Nam” đào tạo cán bộ quản lý là lãnh đạo, quản lý của các Trung tâm bảo trợ xã hội, Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội và các Sở Lao động-Thương binh Xã hội. Bên cạnh đó, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các Dự án CFSI, ASI, UNICEF xây dựng chương trình và 7 giáo trình đào tạo cán bộ quản lý công tác xã hội cấp cao cho Việt Nam. 
    III. Đánh giá chung
    Công tác xã hội ở Việt Nam mới ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển, nhưng trước đây các hoạt động trợ giúp xã hội về cơ bản cũng đã có ở nước ta và cũng là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta. Các chính sách an sinh xã hội của chúng ta phản ánh tính nhân văn cao cả, sự huy động nguồn lực từ cộng đồng qua các tổ chức xã hội như: nhà chùa, nhà thờ, các tổ chức từ thiện, Hội chữ thập đỏ, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh v.v. vào thực hiện các chính sách xã hội ở nước ta là khá lớn, đây được coi là một trong những thế mạnh của nước ta. Chính nhờ có những thế mạnh này mà nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như công tác xóa đói giảm nghèo, vấn đề dân số và gia đình, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trợ giúp các đối tượng yếu thế, người già cô đơn, người tàn tật … góp phần tạo ra nền tảng ổn định cho phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta.
    Bên cạnh những cơ hội do việc phát triển nghề công tác xã hội mang lại, chúng ta cũng phải đối đầu với những thách thức, tồn tại nhất định. Tại Việt Nam, công tác xã hội đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển. Đề án phát triển nghề công tác xã hội đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tạo cơ sở pháp lý để phát triển cho nghề công tác xã hội chuyên nghiệp. Tuy nhiên, việc phát triển vẫn còn những khó khăn, thách thức cơ bản sau:
    1. Khuôn khổ pháp lý phát triển nghề công tác xã hội chưa được hoàn chỉnh, đặc biệt là vai trò, nhiệm vụ của cán bộ, viên chức, nhân viên công tác xã hội chưa được xác định cụ thể trong một số bộ Luật, Luật liên quan như Bộ luật Lao động, Bộ Luật Dân sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Trẻ em.... Đây là các quá trình rất phức tạp, cần nhiều thời gian và liên quan đến nhiều Bộ, ngành khác nhau. Chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với cán bộ, nhân viên công tác xã hội  làm việc trong các cơ sở trợ giúp xã hội chưa được ban hành; sự phối hợp liên ngành còn hạn chế; chưa có cơ sở pháp lý quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm công tác xã hội cấp tỉnh. Việc áp dụng mã số, chức danh, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức công tác xã hội còn nhiều bất cập. Các văn bản quy phạm pháp luật phát triển nghề công tác xã hội chưa được hệ thống hóa.
    2. Mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng. Mạng lưới các cơ cung cấp dịch vụ công tác xã hội mới hình thành ở Ngành Lao động-Thương binh và Xã hội là chủ yếu, bước đầu được thí điểm ở các ngành Y tế, Giáo dục với phạm vi, quy mô nhỏ, số lượng đối tượng được hưởng dịch vụ rất hạn chế. Các dịch vụ công tác xã hội chưa đa dạng, chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân; cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội còn thiếu thốn; năng lực cung cấp dịch vụ công tác xã hội và chăm sóc, trợ giúp các đối tượng của các cơ sở đạt hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu của đối tượng, chưa dựa vào cộng đồng.
    3. Đội ngũ cán bộ, nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội còn mỏng và chưa được đào tạo công tác xã hội chuyên nghiệp; đa số được đào tạo từ ngành nghề khác hoặc một số ít thậm chí không được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ. Đặc biệt, đội ngũ cộng tác viên công tác xã hội tại cộng đồng mới chỉ được bước đầu được hình thành tại một số địa phương.
    4. Công tác đào tạo công tác xã hội tại các trường đại học, cao đẳng mới chỉ chú trọng đến số lượng; chưa gắn giữa đào tạo lý thuyết và thực hành; chưa có sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo với các cơ sở/đơn vị sử dụng nguồn nhân lực công tác xã hội được đào tạo; các chương trình, giáo trình giảng dạy về công tác xã hội còn thiếu, nhiều bất cập. Số lượng, chất lượng, phương pháp giảng dạy của đội ngũ giảng viên công tác xã hội còn hạn chế. Hệ thống cơ sở dạy nghề công tác xã hội còn thiếu về số lượng, chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội tại cộng đồng.
    5. Nhận thức về vai trò, vị trí của nghề công tác xã hội trong quá trình xây dựng nền an sinh xã hội tiên tiến của đất nước ở nhiều cấp, ngành còn hạn chế. Nhiều địa phương nhận thức chưa đúng nên chưa chủ động, chưa quyết liệt triển khai Đề án phát triển nghề công tác xã hội trên địa bàn. Số lượng người dân có nhu cầu trợ giúp xã hội được tiếp cận, thụ hưởng dịch vụ công tác xã hội còn ít.
    6. Cơ cấu các dịch vụ công tác xã hội có sự kết hợp của các cơ quan/đơn vị công lập và ngoài công lập chưa được xác định rõ ràng. Các dịch vụ công tác xã hội chưa được cung cấp cho người dân tại cộng đồng và chưa góp phần cải thiện tính hiệu quả của dịch vụ phúc lợi xã hội. Việc cung cấp dịch vụ xã hội chủ yếu là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước. Trong những giai đoạn đầu, công tác xã hội chuyên nghiệp mới chỉ cung cấp các dịch vụ cơ bản đáp ứng cho các vấn đề cần sự bảo trợ xã hội. Các dịch vụ công tác xã hội chuyên sâu đối với các cá nhân, nhóm đối tượng đặc thù bắt đầu phát triển, bao gồm chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, dịch vụ chăm sóc người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí; trợ giúp các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, hỗ trợ các gia đình có nhu cầu, bảo trợ xã hội với người khuyết tật, người già, phụ nữ, trị liệu tâm lý xã hội, tham vấn, hỗ trợ  mọi người trong cơn  khủng hoảng, trợ giúp trong giải quyết các mối quan hệ.
    Đây là những vấn đề tồn tại, khó khăn đang đặt ra cho các Bộ, ngành, địa phương cần phải giải quyết một cách quyết liệt, thấu đáo nhằm phát triển nghề công tác xã hội chuyên nghiệp tại Việt Nam.

    Phần thứ ba
    ĐỊNH HƯỚNG ĐIỀU CHỈNH CÁC QUAN HỆ XÃ HỘI LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
    I. Sự cần thiết phải điều chỉnh các quan hệ xã hội về CTXH bằng pháp luật
    1. Nhận thức và nhu cầu xã hội về phát triển CTXH
    Ở Việt Nam, các hoạt động trợ giúp, hỗ trợ người cao tuổi, trẻ em mồ côi, khuyết tật, những người gặp hoàn cảnh khó khăn do các cá nhân, tổ chức như Hội Chữ Thập đỏ, phụ nữ, thanh niên thực hiện ... đã được phát triển từ rất sớm. Nếu tính tới hệ thống hàng ngàn ngôi chùa ở Việt Nam – vốn đã thực hiện các hoạt động nuôi trẻ mồ côi, người không nơi nương tựa; cung cấp thức ăn và chỗ ngủ cho người lang thang, cơ nhỡ; chữa bệnh cho người ốm; tư vấn và trợ giúp các khúc mắc tâm lý, tâm linh, tình cảm cho các gia đình và cộng đồng Việt Nam kể từ khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam vào khoảng thế kỷ thứ hai, thì có thể nói các hoạt động có đặc thù CTXH đã xuất hiện ở Việt Nam rất sớm. Điều này cũng giống với nguồn gốc CTXH ở nhiều nước phát triển trên thế giới như Anh, Mỹ: hầu hết các hoạt động có nguồn gốc là hoạt động tự phát và tự nguyện của các tổ chức tôn giáo, trên tinh thần giúp người và từ bi. Các hoạt động này mặc dù lúc đầu mang tính chất từ thiện là chủ yếu, chưa được thừa nhận là một nghề với các nền tảng kiến thức chuyên môn và kỹ năng đặc thù, chưa được đưa thành tên gọi rõ ràng là CTXH, nhưng về bản chất đó là các hoạt động manh nha làm cơ sở cho phát triển CTXH.
    Từ năm 1945 đến nay, do đặc điểm lịch sử, có giai đoạn hệ thống pháp luật nước ta chưa được xây dựng đồng bộ, hoàn chỉnh. Ví dụ, trong giai đoạn những năm chiến tranh chống Mỹ, miền Bắc đã có những văn bản pháp luật, chính sách, và chương trình hoạt động liên quan đến CTXH để trợ giúp người nghèo, người đói, người tàn tật, thương bệnh binh…; trong khi đó, ở miền Nam, chính phủ Việt Nam cộng hòa cũng ban hành một số văn bản pháp luật và mở trường CTXH dưới sự quản lý của Bộ Các Vấn Đề Xã Hội. Kể từ sau khi Việt Nam thống nhất (1975), dưới sự lãnh đạo của Đảng bằng chủ trương, đường lối (thể hiện trong các Nghị quyết, chủ trương của Đảng) các hoạt động trợ giúp mang tính chất CTXH ở nước ta đã đạt được những kết quả, thành tựu to lớn góp phần vào thắng lợi của Cách mạng Việt Nam. Đường lối chủ trương chính sách của Đảng và nhu cầu, nguyện vọng của xã hội là nguồn định hướng để nhà nước thể chế hoá bằng các văn bản quy phạm pháp luật trên các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực CTXH.
    Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của xã hội, các hoạt động CTXH đã và đang ngày càng được định hình rõ ràng và thích ứng với xu hướng phát triển CTXH của thế giới; đã được các cấp, các ngành, các tổ chức và các cá nhân ngày càng quan tâm; các hoạt động này đã ngày càng được phát triển mạnh mẽ hơn. Xuất phát từ nhu cầu xã hội và để đáp ứng được sự phát triển của thực tiễn xã hội, ngày 25/3/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020. Đây là một văn bản quan trọng đặt nền tảng cho sự phát triển nghề CTXH ở Việt Nam.
    Trên thế giới, Công tác xã hội là nội dung có tính chủ chốt trong việc thực hiện và đảm bảo An sinh xã hội và Hệ thống phúc lợi xã hội. Pháp luật quốc tế, và luật của nhiều quốc gia đều có những quy định hành lang pháp lý hỗ trợ và thúc đẩy phát triển dịch vụ công tác xã hội. Các quy định pháp luật về nghề công tác xã hội đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm hiệu quả của công tác An sinh xã hội nói chung và Bảo trợ xã hội nói riêng. 
    Hiện nay, theo Đề án phát triển nghề công tác xã hội, số người tiếp cận sử dụng các dịch vụ công tác xã hội chiếm khoảng 28% dân số, trong đó trong đó có khoảng 11,5 triệu người cao tuổi, 7,6 triệu người khuyết tật, 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hàng triệu người hưởng trợ cấp người có công với cách mạng, 1,6 triệu hộ nghèo chiếm tỷ lệ 6,72%, 1,3 triệu hộ cận nghèo chiếm 5,32% , khoảng 2,83 triệu đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, hơn 1,8 triệu hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hàng năm, khoảng 254 nghìn người nhiễm HIV được phát hiện, hơn 210 nghìn người nghiện ma tuý, nhiều gia đình có bạo lực và bạo hành ở các cấp độ khác nhau; ngoài ra, còn nhiều phụ nữ, trẻ em bị ngược đãi, bị buôn bán, bị xâm hại hoặc lang thang kiếm sống trên đường phố; hàng ngàn xã đặc biệt khó khăn và có vấn đề xã hội (tệ nạn xã hội, cuộc sống nghèo khổ); và các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội nảy sinh các vấn đề xã hội (đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt). Số lượng đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt lớn; sự biến động số lượng ở mỗi nhóm đối tượng rất khác nhau. Đặc biệt, một số nhóm đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn rất cần tiếp cận, thụ hưởng dịch vụ công tác xã hội, cụ thể:  
    - Đối với nhóm đối tượng người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí:
    Số người bị rối nhiễu tâm trí ở Việt Nam lớn, ước tỉnh khoảng 10% dân số, tương đương khoảng 9 triệu người, trong đó số người tâm thần nặng ước tính 2,5% số người rối nhiễu tâm trí (tương đương 200 ngàn người), số người có hành vi nguy hiểm cho gia đình, cộng đồng khoảng 154.000 người (đập phái tài sản, đánh người, gây án mạng, đi lang gây rối, mất trật tự an toàn xã hội); số người tâm thần có xu hướng gia tăng đặc biệt là các thành phố, đô thị lớn. Như vậy, việc chăm sóc và phục hồi chức năng cho người mắc bệnh tâm thần là một thách thức lớn và là một gánh nặng đối với cộng đồng và toàn xã hội. Do áp lực của cuộc sống, áp lực kinh tế, tác động của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế và nhiều nguyên nhân khác nhau nên số người tâm thần có xu hướng gia tăng, đặc biệt tại các thành phố, đô thị lớn.
    Rối loạn tâm trí    Tỉ lệ trong dân số    Số lượng
    Tâm thần phân liệt    0.24%    200,000
    Các dạng rối loạn tâm thần nghiêm trọng khác    2.80%    2,408,000
    Các dạng rối loạn thường gây hậu quả về sức khỏe tâm thần
    Chứng động kinh    0.33%    283,800
    Khuyết tật thần kinh    0.63%    541,800
    Tổn thương não    0.51%    438,600
    Lạm dụng rượu    5.30%    4,558,000
    Nghiên ma túy    0.30%    258,000
    Tổng cộng        8,892,400
    Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, trong số gần 9 triệu người rối nhiễu tâm trí, có khoảng 200.000 người tâm thần nặng đang được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, cụ thể:
    Dự báo đến năm 2020: Do sự thay đổi lối sống, phát triển kinh tế, thiên tai và ô nhiễm môi trường, cùng với sự hạn chế của hệ thống dịch vụ công tác xã hội, nên số người bị rối nhiễu tâm trí, người bị tâm thần gia tăng đến năm 2020. Số người rối nhiễu tâm trí ở Việt Nam ước tính khoảng 10% dân số, tương đương 10 triệu người, trong đó số người tâm thần nặng thuộc diện bảo trợ xã hội ước tính khoảng 2,5% số người bị rối nhiễu tâm trí, tương đương 250.000 người. Điều này tạo sức ép rất lớn về trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần ở Việt Nam. 
    - Đối với nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn:
    Sự biến động số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở mỗi nhóm trẻ em rất khác nhau trong giai đoạn 2010-2015. Đến năm 2018, tổng số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên phạm vi toàn quốc là 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó gồm nhóm bao gồm 256.000 trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi, 280.000 trẻ em khuyết tật nặng và trẻ nhiễm chất độc hóa học, 96.650 trẻ nhiễm HIV/AIDS, 600.000 trẻ em bị tự kỷ, bị down, bị thiểu năng trí tuệ và 163.000 trẻ em là nạn nhân của thảm họa thiên tai.
    Ước tính, xu hướng và số lượng, cơ cấu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở nước ta đến năm 2020 nh¬ư sau:
                                                                                Đơn vị : Trẻ em
    STT    Đối tượng    Năm 2012    Ước tính đến 2020
    1    Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi    176.000    223.000
    2    Trẻ em nhiễm HIV/AIDS    16.650    27.000
    3    Trẻ em khuyết tật nặng; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học    200.000    265.000
    4    Trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa    83.000    140.000
    5    Trẻ em bị tự kỷ, bị down, bị thiểu năng trí tuệ    500.000    545.000
    6    Tổng số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn    975.650    1.200.000
    - Đối với người khuyết tật: Việt Nam hiện có khoảng 7.6 triệu người khuyết tật, trong đó có 3,6 triệu là nữ và hơn 5 triệu người sống ở nông thôn, khoảng 1,2 triệu trẻ em khuyết tật (Trong đó, gồm các nhóm trẻ khuyết tật nặng, trẻ khuyết tật trí tuệ, trẻ khuyết tật vận động; trẻ khuyết tật ngôn ngữ; trẻ khiếm thính, khiếm thị và các loại khuyết tật khác).
    Trong đó, theo báo cáo của các địa phương, tổng số người khuyết tật được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng với đối tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng là 794.394 người, tại các cơ sở bảo trợ xã hội là 8.218 người, trợ cấp bảo hiểm xã hội là 49.030 người và trợ cấp hàng tháng khác là 229.981 người.
    Tuy nhiên, theo ước tính của tổ chức Y tế thế giới (WHO) người khuyết tật Việt Nam chiếm khoảng 10% dân số, trong đó khoảng 2 triệu là trẻ em. Tỉ lệ khuyết tật trên dân số dự kiến sẽ còn tiếp tục tăng lên nhiều do những nguyên nhân phát triển xã hội, tai nạn, do ô nhiễm môi trường...
    - Đối với người cao tuổi: Việt Nam có khoảng 11,5 triệu người cao tuổi. Đến nay, cả nước có khoảng 1.524.192 người cao tuổi được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, khoảng 10.000 người cao tuổi đang được nuôi dưỡng, chăm sóc tại các cơ sở bảo trợ xã hội. Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, hiện nay, cả nước có hơn 2,7 triệu người cao tuổi đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội.
    Như vậy, số lượng người cao tuổi tăng nhanh, nhưng số lượng cơ sở chăm sóc người cao tuổi còn thiếu về số lượng, không đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, nhất là trong điều kiện hệ thống cơ sở chăm sóc người cao tuổi chưa được quy hoạch tổng thể, dài hạn; cơ sở vật chất lạc hậu, trang thiết bị thiếu thốn; chưa có các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, trị liệu, tư vấn, tham vấn, phục hồi chức năng cho người cao tuổi.
    - Đối với các nhóm đối tượng khác, gồm: người nghiện ma tuý, người nhiễm HIV, phụ nữ bị bạo hành và các đối tượng thuộc diện bảo trợ xã hội đều có xu hướng tăng, còn người người lang thang, người nghèo có xu hướng giảm. Cùng với sự phát triển kinh tế, những thay đổi về cách thức làm việc đã ảnh hưởng tới cuộc sống gia đình, như sự di chuyển hay thời gian làm việc kéo dài làm cho thời gian để một gia đình ở bên nhau, giúp đỡ lẫn nhau, hạn chế. Thêm vào đó, vấn đề nghiện rượu, ma tuý, bạo lực trong gia đình và lạm dụng trẻ em cũng tăng lên. Trẻ em và phụ nữ thường có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi đói nghèo, trực tiếp hoặc là nạn nhân của bạo lực trong gia đình, lạm dụng và nạn nhân của tệ nạn buôn bán người. Phụ nữ trẻ lên thành phố bị thất nghiệp có thể bị sa vào con đường mại dâm. Vấn đề “trẻ em lang thang” gắn với việc các em lên thành phố kiếm tiền bằng cách bán hàng trên đường phố hoặc đi  xin ăn, nguy cơ mắc vào tệ nạn mại dâm, ma túy hay các tệ nạn khác cao. Vì điều này, mọi người trong xã hội cần có những nhân viên CTXH chuyên nghiệp để giúp các gia đình có vấn đề và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hoà nhập cộng đồng và tự vươn lên trong cuộc sống.
    Vì vậy, việc phát triển nghề công tác xã hội chuyên nghiệp đang là vấn đề xã hội bức xúc để giải quyết, trợ giúp nhóm đối tượng có nhu cầu cung cấp dịch vụ công tác xã hội. Nghề công tác xã hội phát triển là cơ sở cho việc đào tạo, sử dụng, tuyển dụng các sinh viên công tác xã hội vào đúng vị trí công tác chuyên môn, từng bước chuyên nghiệp hoá nghề công tác xã hội ở nước ta và thúc đẩy phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ công tác xã hội.
    2. Yếu tố thể chế với việc thực thi nghề CTXH mang tính chuyên nghiệp
    Điều kiện cơ bản, quan trọng nhất làm cơ sở để phát triển nghề Công tác xã hội ở Việt Nam là phải có cơ sở phát lý đầy dủ, chặt chẽ, rõ ràng, minh bạch và  cụ thể đề phát triền nghề CTXH.
      Cơ sở pháp lý cho sự phát triển ngành, nghề CTXH và đào tạo viên chức CTXH ở nước ta còn rất mới mẻ, chưa được hình thành một cách đầy đủ và có hệ thống. Trên thực tế vẫn chưa có sự nhận thức đầy đủ ở các cấp, các ngành về vị trí, vai trò, chức năng, cũng như sự thừa nhận chính thức một cách rộng rãi đối với Nghề CTXH, dịch vụ CTXH, tên gọi các hoạt động này theo khái niệm được hiểu trong ngành CTXH.
    Về tổ chức bộ máy có liên quan đến CTXH:  nước ta chưa có hệ thống tổ chức mang tính chuyên nghiệp về CTXH, đặc biệt ở các cấp huyện, cơ sở và cộng đồng, mặc dù vẫn có một số cơ quan chức năng đảm nhiệm thực thi CTXH từ trung ương đến địa phương. Tình trạng nhiều cơ quan hoạt động bán chuyên nghiệp vẫn là chủ yếu dẫn đến chất lượng, hiệu quả CTXH chưa cao, lãng phí nguồn lực.
    Do thiếu cơ sở pháp lý và các điều kiện cần thiết khác như nhân sự, bộ máy... nên đến nay các Hội, Hiệp hội liên quan đến nghề CTXH ở Việt Nam còn rất mới, non trẻ và đang ở trong giai đoạn dần hình thành và phát triển.
    Về đội ngũ chuyên gia, các nhà nghiên cứu, các giảng viên có trình độ cao về CTXH còn rất ít. Mặt khác chưa có cơ chế và sự phối kết hợp trong công việc để huy động tổng hợp các nguồn sức mạnh hiện có đang hoạt động trong lĩnh vực CTXH như các cán bộ được đào tạo trong nước và ngoài nước về CTXH từ nhiều nguồn khác nhau, các sinh viên được đào tạo về CTXH mới ra trường...
    3. Mạng lưới viên chức CTXH, cộng tác viên/tình nguyện viên và tổ chức hoạt động
     Việt Nam cần phải có mạng lưới viên chức, nhân viên CTXH đầy đủ và tổ chức hoạt động hiệu quả. Vấn đề này còn nhiều hạn chế, chưa được thiết lập căn bản và hệ thống, do hạn chế về nhận thức, thiếu về lực lượng, yếu về chất lượng.  Bên cạnh đó cơ chế hoạt động, nguồn lực về kinh phí cũng như điều kiện làm việc còn nhiều khó khăn, bất cập, đó là những hạn chế cho sự phát triển mạng lưới  viên chức CTXH hoạt động có hiệu quả.
        Các hoạt động  DVCTXH mang tính chuyên nghiệp vẫn do nhiều tổ chức phi chính phủ thực hiện là chủ yếu dưới các tên gọi: trung tâm, hội, văn phòng...  viên chức CTXH hoạt động trong các cơ quan nhà nước chủ yếu vẫn mang tính chất bán chuyên nghiệp.
        Hiện tại, CTXH đang được công chức, viên chức ở nhiều Bộ, ngành tham gia, tuy nhiên, những cán bộ này trên thực tế là cán bộ thuộc biên chế của những tổ chức, cơ quan, đơn vị cụ thể, do vậy trước hết họ phải thực hiện chức trách  và nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị; CTXH chưa phải là công việc chính thường xuyên của họ. Vì vậy, về lâu dài CTXH cần có tổ chức bộ máy phù hợp.
         Những cán bộ thuộc biên chế  cơ quan, đơn vị mà công việc của họ gắn bó chặt chẽ với việc thực hiện CTXH cũng không ổn định. Trên thực tế, do các yếu tố khác nhau, việc thay đổi vị trí công tác của cán bộ ở các cơ quan, đơn vị luôn thay đổi. Trong nhiều trường hợp, người đang quen việc, có nhiều thế mạnh trong việc thực hiện công việc liên quan đến CTXH lại không ổn định.
        Kiến thức, kỹ năng về CTXH  của cán bộ ở các cơ quan, đơn vị mà công việc của họ liên quan chặt chẽ với việc thực hiện CTXH  nhìn chung còn chưa đáp ứng với yêu cầu công tác. Vấn đề đặt ra là cần có tập huấn, bồi dưỡng trang bị kiến thức, kỹ năng về CTXH  cho đội ngũ cán bộ này, đặc biệt là các vấn đề về kỹ năng tư vấn, tiếp xúc, bảo vệ...
    Viên chức làm ở một số vị trí khá nguy hiểm đến sức khoẻ, tính mạng (như chăm sóc người tâm thần, HIV/AIDS, người bị các bệnh dễ lây nhiễm, người là nhân chứng, bảo vệ nạn nhân...) nhưng chế độ bảo vệ, chế độ đãi ngộ cho họ chưa tương xứng với công việc mà họ thực thực hiện. Cần bổ sung chế độ bảo vệ, chế độ đãi ngộ một cách tương xứng, phù hợp cho đối tượng  viên chức  này.
         Người đi chăm sóc người thân ở các bệnh viện, đặc biệt là những người thuộc hộ nghèo, hộ kinh tế khó khăn, ở xa bệnh viện, cơ sở chữa bệnh hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn (ăn, ở ...). Nhà nước cần tổ chức, quản lý các dịch vụ này.
    4. Chiến lược phát triển CTXH
    Việt Nam có thuận lợi, đó là Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định phê duyệt Đề án phát triển nghề CTXH, một thuận lợi vô cùng quan trọng là hệ thống pháp luật, từ Hiến pháp và hệ thống các văn bản pháp luật cơ bản nhất đều mang các tinh thần phù hợp với tinh thần của CTXH ở các xã hội tiên tiến nhất;  Đó là tinh thần về đảm bảo quyền con người, về công bằng, bình đẳng xã hội; về vai trò của Nhà nước và xã hội trong việc trợ giúp và giải quyết các vấn đề chung của xã hội.
     Tuy nhiên trong thời gian tới, để Đề án vận hành tốt, đi vào cuộc sống còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, còn thiếu các quy định về hệ thống chức danh nghề, thang bảng lương, về đăng ký hành nghề  CTXH …
    5. Đào tạo CTXH và nghề CTXH
    Việt Nam phải có kế hoạch và chiến lược, lộ trình đào tạo được đội ngũ cán bộ, nhân viên CTXH có chất lượng cao đáp ứng đầy đủ yêu cầu của xã hội.
    Vấn đề này hiện nay ở một số nước cũng mới dừng lại ở giai đoạn thử nghiệm ban đầu. Song Việt Nam đã có trên 55 cơ sở đào tạo đang tiến hành đào tạo CTXH, cao đẳng, cử nhân, có một số cơ sở đào tạo thạc sĩ, tiến sỹ. Nhưng đội ngũ giảng viên của chúng ta còn thiếu, nhiều trường thiếu giáo viên được đào tạo căn bản về CTXH, hệ thống giáo trình, tài liệu tham khảo còn chưa đủ, chưa bài bản, chưa thống nhất...nên phần nào ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra. Chúng ta cần có lộ trình, từng bước hoàn thiện, từ thấp đến cao. Không được vội vàng đốt cháy giai đoạn.
    II. Khuyến nghị hướng điều chỉnh các quan hệ xã hội về CTXH và nghề CTXH ở Việt Nam hiện nay
    1.    Xây dựng và hoàn thiện pháp luật
            Cần tiến hành song song việc xây dựng các văn bản pháp luật về các hoạt động công tác xã hội cùng với việc xây dựng một luật quy định về công tác xã hội. Luật và văn bản dưới luật về các hoạt động sẽ bị suy yếu nghiêm trọng nếu không có một luật khung. Điều này rất đơn giản, để xác định vai trò và trách nhiệm của công tác xã hội trong hệ thống pháp luật Việt Nam, cần phải xác định được "ai là nhân viên công tác xã hội ".
    Cần tiến hành hoàn thiện khung pháp lý về công tác xã hội càng sớm càng tốt. Theo kinh nghiệm quốc tế, một số quốc gia đã có luật đầy đủ ngay từ đầu tiến trình phát triển nghề công tác xã hội, và một số quốc gia khác chỉ thấy cần thiết xây dựng pháp luật sau một thời gian thực hiện, khuyến nghị cho Việt Nam là cần xem xét đầy đủ việc xây dựng một luật để công tác xã hội được phát triển trên các lĩnh vực khác, góp phần vào sự nghiệp phát triển bền vững đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
    Cụ thể là:
    - Cần có một văn bản chuyên biệt ở tầm Luật điều chỉnh về công tác xã hội để làm chuẩn tham chiếu về một số vấn đề có tính định hướng lâu dài cho CTXH Việt Nam. Việc xác định rõ các đặc điểm đặc thù và khái niệm CTXH riêng biệt của Việt Nam rất quan trọng. Hiện tại, hầu hết các văn bản pháp luật về CTXH đưa ra những mô tả, định nghĩa chưa mạch lạc, chưa thống nhất và có nhiều tính vay mượn từ các nước khác nhau. Thống nhất lại và vạch ra những vấn đề nguyên lý của CTXH mang bản sắc Việt Nam nhưng vẫn tiếp thu và phù hợp với những gì tiên tiến nhất ở các nước khác là bước quan trọng ở thời điểm này. Trong văn bản này, cần làm rõ các vấn đề xương sống cho việc phát triển CTXH ở Việt Nam:
    +/Khái niệm CTXH sẽ áp dụng cho VN
    +/Sứ mệnh CTXH Việt Nam
    +/ Nguyên lý hoạt động
    +/ Phạm vi hoạt động/ Đối tượng phục vụ
    +/ Hệ thống giá trị của CTXH Việt Nam
    +/ Vị trí của CTXH
    +/ Mô hình CTXH (chú trọng mô hình chính phủ hay phi chính phủ hay cả hai)
    +/ Các lĩnh vực ưu tiên phát triển (CTXH trong  y tế, trường học, cộng đồng, hệ thống bảo vệ trẻ em, CTXH với gia đình, vv…).
    - Cần đưa khái niệm CTXH, vị trí, vai trò, nhiệm vụ của CTXH vào các luật chuyên ngành để làm căn cứ sửa đổi, bổ sung vị trí, vai trò của CTXH vào các văn bản quy phạn pháp luật có liên quan đến các lĩnh vực.
    - Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật hình sư, Bộ luật tố tụng hình sự theo hướng quy định vai trò của các cán bộ làm công tác xã hội như những nhà chuyên môn trong một số thủ tục tố tụng đối với những đối tượng đặc biệt như người chưa thành niên, người mắc bệnh tâm thần, người đang sống trong sự bảo trợ hoặc quản thúc của Nhà nước; đặc biệt là sự tham gia của các cán bộ làm công tác xã hội trong các biện pháp xử lý ngoài cộng đồng.
    - Nghiên cứu quy định nuôi con nuôi nhằm bổ sung vai trò của cán bộ công tác xã hội trong việc đánh giá tình hình, môi trường chăm sóc của người nhận nuôi con nuôi, lên kế hoạch can thiệp kịp thời. Ngoài ra, cán bộ làm công tác xã hội cũng có thể giữ chức năng như một tư vấn viên, người hỗ trợ đối với cả người muốn nhận nuôi con nuôi lẫn trẻ có thể được nhận làm con.
    - Nghiên cứu hoàn thiện các quy định về trợ giúp pháp lý theo hướng chuyên nghiệp hơn và tăng cường vai trò của cộng tác viên trợ giúp pháp lý.
    - Cụ thể hóa bằng pháp luật về việc củng cố và phát triển Hệ thống cung cấp DVCTXH: tăng cường năng lực và nâng cao chất lượng hệ thống dịch vụ CTXH, tạo điều kiện cho các đối tượng có liên quan được tiếp cận dễ dàng các dịch vụ CTXH, khuyến khích đa dạng hoá các dịch vụ CTXH theo quy chuẩn do nhà nước quy định, hướng dẫn; vị trí, vai trò của CBCTXH trong cung cấp dịch vụ CTXH. Hoàn thiện các quy trình, tiêu chuẩn về DVCTXH; xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin, quản lý, giám sát đối tượng có liên quan và vai trò của viên chức CTXH trong các hoạt động này nhằm góp phần nâng cao chất lượng của nghề CTXH.
    2.    Tổ chức thực hiện
    Nhóm giải pháp về trách nhiệm của các cơ quan có liên quan và lộ trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội về CTXH.
    a) Đối với Quốc hội: chấp thuận đề nghị của Chính phủ xây dựng Luật Công tác xã hội và tiến hành các hoạt động xây dựng, thông qua Luật Công tác xã hội.
    b) Đối với Chính phủ: xem xét, đề nghị xây dựng Luật Công tác xã hội trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV (dự kiến 2019) cho phù hợp với Kế hoạch phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2016-2020.
        c) Các Bộ, ngành:
    Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương  trong việc:
    - Nghiên cứu, đề xuất với Chính phủ xây dựng Luật Công tác xã hội;
    - Hướng dẫn việc bố trí người làm công tác BVCSTE ở xã, phường, thị trấn; đồng thời xem xét việc củng cố đội ngũ cộng tác viên  CTXH ở thôn, bản, ấp, quan tâm đến bố trí CBCTXH với các chính sách phù hợp.
    - Kiến nghị về cơ chế phối hợp và các điều kiện bảo đảm thực hiện các văn bản luật pháp, chính sách trong các lĩnh vực có liên quan đến CTXH.
    - Sớm hoàn thành việc quy định chức danh, tiêu chuẩn cụ thể với thang bảng lương cho từng trình độ nghiệp vụ CTXH. Việc tuyển dụng bố trí cán bộ có trình độ đào tạo nghiệp vụ CTXH phải theo quy định và yêu cầu thực tiễn tay nghề của mỗi vị trí công việc. Đẩy mạnh việc sử dụng CBCTXH chuyên nghiệp trong nhiều lĩnh vực, trước mắt cần đặc biệt chú ý tới việc bố trí, sử dụng cán bộ trong các ngành LĐXH, Y tế, giáo dục, tòa án, công an, tư pháp.
    - Phát triển xây dựng hệ thống các DVCTXH tại mỗi cộng đồng dân cư, có các cán bộ XH chuyên nghiệp cung cấp các dịch vụ an sinh xã hội đảm bảo cho việc can thiêp các vấn đề xã hội kịp thời và hiệu quả, qua đó thúc đẩy việc triển khai, thực hiện các chính sách xã hội. Phát triển các hệ thống DVCTXH trong các lĩnh vực để giúp đỡ các cá nhân, nhóm người, gia đình và cộng đồng có nhu cầu nhằm giải quyết các vấn đề một cách kịp thời, hiệu quả. Củng cố cấu trúc DVCTXH ở tất cả các cấp. Có thể tiếp tục thí điểm các mô hình để rút kinh nghiệm nhân rộng.
    - Thúc đẩy công tác đào tạo CTXH chuyên nghiệp ở các cơ sở đào tạo ở nhiều cấp độ khác nhau. Tăng cường đào tạo giảng viên CTXH, nâng cao chất lượng đào tạo qua phương pháp đào tạo, chú ý tới tay nghề qua thực hành, thực tập trong đào tạo. Đồng thời tăng cường đào tạo bồi dưỡng tại chức cho các cán bộ hiện đang làm việc; tập huấn nâng cao tay nghề cho các cán bộ đang làm việc để từng bước đưa họ vào hoạt động CTXH có tính chuyên nghiệp. Khuyến khích các cơ sở xã hội nhận hướng dẫn thực hành, thực tập các sinh viên chuyên ngành CTXH, nhận những người được đào tạo về CTXH vào làm việc tại các cơ sở xã hội và các ngành, tổ chức có liên quan.
    - Phát triển việc thành lập các Hội CTXH chuyên nghiệp và gia nhập Hội CTXH chuyên nghiệp và Hội các trường đào tạo CTXH, thông qua đó nhanh chóng tiếp cận sự phát triển của CTXH thế giới.
    - Điều tra, nghiên cứu tổng thể về nhu câu cán bộ trong các ngành nghề, lĩnh vực làm cơ sở cho việc ứng dụng kiến thức chuyên môn CTXH vào những lĩnh vực cần thiết như Y tế, giáo dục, tòa án, LĐXH…Phối kết hợp với các ngành và chính sách sử dụng cán bộ xã hội trong các ngành đó với việc xác định rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ của họ trong các văn bản quy định của ngành/tổ chức.
              -  Đồng thời, cần tiếp tục có cơ chế chia sẻ thông tin nhiều hơn với các nhà lãnh đạo ở các cấp về công tác xã hội. Các cán bộ cấp cao và các Bộ trưởng tiếp tục cần phải nhận được thông tin về công tác xã hội, và tìm hiểu về vai trò và trách nhiệm của nghề công tác xã hội. Không có sự hỗ trợ ở các cấp, công tác xã hội sẽ không thể chở thành một nghề chuyên nghiệp./.
     

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com