Thứ sáu, ngày 14/12/2018login
  • Báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng dự án LuậtGóp ý

    Cơ quan ban hành: Văn phòng Quốc hội

    Mô tả: Tài liệu kèm theo dự thảo Đề cương xin ý kiến góp ý

  • Kính gửi: Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

    I. XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ BẤT CẬP TỔNG QUAN
    1. Bối cảnh xây dựng chính sách
    Luật Tổ chức Quốc hội được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2014 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2016. Luật Tổ chức Quốc hội đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp 2013 về tổ chức bộ máy nhà nước trên cơ sở nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” , tạo cơ sở pháp lý phù hợp cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội nước ta trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
    Sau gần 03 năm thi hành Luật Tổ chức Quốc hội, vai trò của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội ngày càng được thể hiện rõ nét trong các hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội từng bước được nâng lên; hoạt động của Quốc hội ngày càng thu hút sự quan tâm, theo dõi của cử tri, các tầng lớp nhân dân trong cả nước. Quốc hội khóa XIV đã kế thừa và phát huy có hiệu quả những thành tựu đã đạt được của các khóa Quốc hội trước đây; phát huy dân chủ, tập hợp được trí tuệ, tinh thần đoàn kết, sáng tạo, đổi mới của đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các tổ chức chính trị, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, các nhà khoa học và Nhân dân.
    Để tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, trong thời gian qua, Ban Chấp hành trung ương Đảng, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều văn bản quan trọng để lãnh đạo, chỉ đạo công tác sắp xếp tổ chức bộ máy. Ngày 25/10/2017, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả (sau đây gọi là Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, Bộ Chính trị ban hành Kế hoạch 07-KH/TW ngày 27/11/2017 giao trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Nhằm cụ thể hóa các chỉ đạo của Trung ương, ngày 24/11/2017, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 56/2017/QH14 về việc tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả (sau đây gọi là Nghị quyết số 56/2017/QH14). Theo đó, nhiệm vụ của Quốc hội là phải “Lãnh đạo xem xét, sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan để thực hiện đổi mới, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy trong đó có Luật Tổ chức Quốc hội”; “sắp xếp lại cơ cấu tổ chức bên trong các cơ quan tham mưu, giúp việc của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; “quy định hợp lý về số lượng cấp phó và Ủy viên Thường trực”...
    Vì vậy, để cụ thể hóa các chủ trương của Đảng về đổi mới, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và bộ máy giúp việc Quốc hội, cần tiến hành sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội và các văn bản pháp luật có liên quan. Trong đó, cần thể chế hóa chủ trương của Đảng về tinh gọn bộ máy giúp việc của Quốc hội và quy định số lượng cấp phó và tỷ lệ lãnh đạo, Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội. 
    Mặc dù Luật Tổ chức Quốc hội mới được ban hành năm 2014 và có hiệu lực thi hành khoảng 03 năm nhưng cũng đã bộc lộ một số bất cập nhất định. Chẳng hạn, cùng với việc ban hành Luật Tổ chức Quốc hội, Quốc hội cũng đã ban hành một số đạo luật chuyên ngành khác liên quan đến việc thực hiện các chức năng của Quốc hội như Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật Trưng cầu ý dân, Luật Ngân sách nhà nước,... nên đã có sự trùng lặp trong việc quy định về một số quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Do đó, cần thiết phải rà soát lại toàn bộ các quy định của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 để kịp thời sửa đổi những nội dung bất cập, bổ sung những nội dung liên quan đến đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội cho phù hợp với tình hình mới.
    2. Mục tiêu xây dựng chính sách
    - Thể chế hóa chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 18/NQ/TW; Kế hoạch số 07-KH/TW và Nghị quyết số 56/2017/QH14 về việc tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
    - Hoàn thiện các quy định về hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội theo hướng chỉ quy định mang tính khái quát về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này; còn những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể thì do các luật về từng lĩnh vực quy định. Như vậy sẽ bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, tránh việc cùng một nội dung mà có nhiều văn bản cùng điều chỉnh.
    - Hoàn thiện các quy định về cách thức tổ chức các hoạt động của các cơ quan của Quốc hội bảo đảm chặt chẽ, hoạt động hiệu quả hơn.
    II. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH
    1. Chính sách 1: Cụ thể hóa chủ trương của Đảng về quy định hợp lý số lượng cấp phó và Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội
    1.1. Xác định vấn đề bất cập
    Nghị quyết số 18/NQ/TW đề ra nhiệm vụ: “Quy định số lượng với tỉ lệ hợp lý giữa lãnh đạo, Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội theo hướng giảm số lượng cấp phó và ủy viên thường trực”. Qua rà soát, Điều 53 và Điều 67 của Luật Tổ chức Quốc hội chỉ quy định cơ cấu tổ chức của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định số lượng cấp phó và Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội mà không quy định cụ thể số lượng này trong Luật Tổ chức Quốc hội. Vì vậy, để thực hiện chỉ đạo của Trung ương, có ý kiến đề nghị cần sửa đổi Luật Tổ chức Quốc hội để xác định cụ thể tỷ lệ này ngay trong Luật.
    1.2. Mục tiêu giải quyết vấn đề
    - Xác định cụ thể số lượng cấp phó và Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội theo chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 18/NQ/TW.
    - Xây dựng cơ sở pháp lý cho việc dự kiến nhân sự tại Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội.
    1.3. Các giải pháp đề xuất để giải quyết vấn đề
    Phương án 1A: Giữ nguyên quy định hiện hành của Luật Tổ chức Quốc hội. Theo đó, Luật không quy định cụ thể số lượng cấp phó và tỷ lệ Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội mà giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội tùy theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng nhiệm kỳ sẽ quyết định số lượng cấp phó, Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách của Hội đồng Dân tộc và từng Ủy ban của Quốc hội cho phù hợp.
    Phương án 1B: Quy định cụ thể số lượng cấp phó, Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách của Hội đồng Dân tộc và từng Ủy ban của Quốc hội trong Luật Tổ chức Quốc hội.
    1.4. Đánh giá tác động của các giải pháp đối với đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách và đối tượng khác có liên quan
    1.4.1. Tác động của phương án 1A
    a) Tác động kinh tế: không làm phát sinh chi phí cho việc sửa đổi cũng như triển khai thi hành Luật.
    b) Tác động xã hội:
    - Tác động tích cực:
    Thực hiện Nghị quyết của Trung ương, hiện nay, Đảng đoàn Quốc hội đã giao Ban Công tác đại biểu chủ trì nghiên cứu, xây dựng Đề án số lượng lãnh đạo cấp phó tối đa và tỷ lệ hợp lý giữa lãnh đạo và Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Đề án đang trong quá trình xây dựng để báo cáo Đảng đoàn Quốc hội cũng như cần xin ý kiến của Bộ Chính trị. Đây là vấn đề quan trọng liên quan đến công tác nhân sự cũng như hiệu quả hoạt động của các cơ quan của Quốc hội, cần có đánh giá, tổng kết thận trọng, kỹ lưỡng để có phương án bố trí hợp lý.
    Hiện nay, số lượng cấp phó, số lượng Ủy viên Thường trực và Ủy viên Chuyên trách của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban có sự thay đổi theo từng nhiệm kỳ. Đồng thời, Hội đồng Dân tộc và mỗi Ủy ban có số lượng cấp phó và số lượng các Ủy viên khác nhau chứ không đồng nhất. 
    Mặt khác, thực hiện chủ trương của Đảng, các cơ quan trong bộ máy của Đảng, Nhà nước đang thực hiện chủ trương khoán cấp phó để phù hợp với đặc điểm, tình hình của từng cơ quan, đơn vị. Do đó, giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội căn cứ vào các chỉ đạo của Trung ương, tùy từng nhiệm kỳ sẽ quyết định cụ thể số lượng cấp phó, Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách tại Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội sẽ tạo được sự linh hoạt trong việc bố trí, sắp xếp nhân sự cho Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
    - Tác động tiêu cực: về cơ bản chính sách này không có tác động mang tính tiêu cực.
    c) Tác động về giới: chính sách này cơ bản không liên quan trực tiếp đến vấn đề về giới.
    d) Tác động về thủ tục hành chính: về cơ bản không có tác động trực tiếp đến thủ tục hành chính.
    đ) Tác động đối với hệ thống pháp luật:
    Luật Tổ chức Chính phủ hiện hành quy định cụ thể về số lượng cấp phó ngay trong Luật, do đó, nếu không quy định số lượng cấp phó và Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong ngay trong luật thì sẽ không bảo đảm đồng bộ với Luật Tổ chức Chính phủ.
    1.4.2. Tác động của phương án 1B
    a) Tác động kinh tế: Làm phát sinh chi phí cho việc sửa đổi cũng như triển khai thi hành Luật.
    b) Tác động xã hội:
    - Tác động tích cực:
    Với việc quy định cụ thể số lượng cấp phó, Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách trong Luật Tổ chức Quốc hội sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc dự kiến nhân sự và áp dụng thống nhất giữa Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội.
    - Tác động tiêu cực:
    Phương án này không linh hoạt trong việc bố trí, sắp xếp cơ cấu của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong các nhiệm kỳ. Bởi vì, như đã phân tích ở trên, số lượng cấp phó, Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách trong các cơ quan có sự thay đổi theo từng nhiệm kỳ, tùy theo chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan và số lượng đại biểu Quốc hội đăng ký làm thành viên của các cơ quan để có sự phân bổ cho hợp lý. Mặt khác, việc quy định cụ thể số lượng cấp phó, số lượng Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách trong Luật có thể thuận trong giai đoạn này nhưng trong giai đoạn tiếp theo, khi Đảng có những đổi mới trong công tác cán bộ như chủ trương khoán số lượng cấp phó trong toàn bộ các cơ quan, đơn vị của hệ thống chính trị thì sẽ cần thời gian để sửa đổi, bổ sung luật mới thực hiện được. 
    c) Tác động về giới: chính sách này cơ bản không liên quan trực tiếp đến vấn đề về giới.
    d) Tác động về thủ tục hành chính: về cơ bản không có tác động trực tiếp đến thủ tục hành chính.
    đ) Tác động đối với hệ thống pháp luật: về cơ bản chính sách này không làm ảnh hưởng đến hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.
    1.5. Kiến nghị giải pháp lựa chọn
    Từ những phân tích và đánh giá trên cho thấy, việc lựa chọn phương án 1A giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội tùy theo tình hình thực tiễn quyết định số lượng cấp phó, Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách đối với mỗi cơ quan của Quốc hội theo từng nhiệm kỳ là hợp lý, phù hợp với thực tiễn mà vẫn đáp ứng yêu cầu đặt ra tại Nghị quyết số 18-NQ/TW. 
    2. Chính sách 2: Cụ thể hóa chủ trương của Đảng về hợp nhất Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành một Văn phòng tham mưu, giúp việc chung
    2.1. Xác định vấn đề bất cập
    Luật Tổ chức Quốc hội quy định Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội là cơ quan tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của các đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tại địa phương. Theo Nghị quyết số 1097/2015/UBTVQH13 ngày 22/12/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội trực thuộc Văn phòng Quốc hội.
    Nghị quyết số 18-NQ/TW đã đề ra nhiệm vụ “nghiên cứu ban hành quy định để thực hiện hợp nhất Văn phòng Hội đồng nhân dân, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành một Văn phòng tham mưu, giúp việc chung” nhằm tinh gọn đầu mối, giảm biên chế và nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong việc tham mưu, phục vụ hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và chính quyền địa phương.
    Để kịp thời thể chế hóa các quy định của Đảng, Kế hoạch 07-KH/TW của Bộ Chính trị đã giao Đảng đoàn Quốc hội “chủ trì, phối hợp với Ban Cán sự đảng Chính phủ và các tổ chức có liên quan ban hành văn bản quy định cụ thể việc thực hiện hợp nhất Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Văn phòng Ủy ban nhân dân và Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh”. Qua rà soát cho thấy, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật Tổ chức chính quyền địa phương đều có quy định về các văn phòng giúp việc nêu trên. Vì vậy, để áp dụng chung trên phạm vi toàn quốc thì phải tiến hành sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội trong Luật Tổ chức Quốc hội.
    2.2. Mục tiêu giải quyết vấn đề
    - Tinh gọn đầu mối các đơn vị thuộc Văn phòng Quốc hội, giảm biên chế, nâng cao công tác tham mưu, phục vụ bảo đảm phù hợp chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 18-NQ/TW.
    - Thống nhất với các dự án Luật sẽ được sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới như Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật…
    2.3. Các giải pháp đề xuất để giải quyết vấn đề
    Phương án 2A: Giữ nguyên quy định hiện hành về bộ máy giúp việc của Đoàn đại biểu Quốc hội.
    Phương án 2B: Không quy định về bộ máy giúp việc của Đoàn đại biểu Quốc hội trong Luật Tổ chức Quốc hội.
    Phương án 2C: Luật Tổ chức Quốc hội chỉ quy định chung theo hướng Đoàn đại biểu Quốc hội có bộ phận tham mưu, giúp việc theo quy định của pháp luật mà không quy định cụ thể tên gọi của bộ phận này.
    2.4. Đánh giá tác động của các giải pháp đối với đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách và đối tượng khác có liên quan
    2.4.1. Tác động của phương án 2A
    Phương án này không giải quyết được vấn đề bất cập nêu tại mục 2.1.
    2.4.2. Tác động của phương án 2B
    a) Tác động kinh tế: Làm phát sinh chi phí cho việc sửa đổi cũng như triển khai thi hành Luật.
    b) Tác động xã hội:
    - Tác động tích cực:
    Hiện nay, trong thời gian chưa sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Đảng đoàn Quốc hội giao nhiệm vụ cho Văn phòng Quốc hội phối hợp với Ban Công tác đại biểu nghiên cứu xây dựng Đề án thực hiện thí điểm hợp nhất Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành một Văn phòng tham mưu, giúp việc chung.
    Căn cứ vào chủ trương của Đảng và Nghị quyết số 56/2017/QH14 của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 580/2018/UBTVQH14 ngày 04/10/2018 thực hiện thí điểm hợp nhất Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại 10 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bao gồm: Bắc Kạn, Đà Nẵng, Hà Giang, Hà Tĩnh, Lâm Đồng, Quảng Ninh, Tây Ninh, Thái Bình, Thành phố Hồ Chí Minh và Tiền Giang.
    Do đây mới là giai đoạn triển khai thực hiện thí điểm nên chưa có tổng kết, đánh giá đối với vấn đề này, vì vậy, việc không quy định bộ máy giúp việc của Đoàn đại biểu Quốc hội trong dự thảo Luật sẽ tạo được sự linh hoạt khi triển khai thực hiện. Sau khi kết thúc thí điểm, việc các văn phòng này được tổ chức theo mô hình nào cũng không có ảnh hưởng đến việc sửa đổi Luật Tổ chức Quốc hội.
    - Tác động tiêu cực:
    Theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội thì Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội là cơ quan tham mưu, giúp việc cho đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương. Vì vậy, việc không quy định về bộ phận giúp việc cho đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội trong Luật Tổ chức Quốc hội sẽ dẫn đến ý kiến cho rằng, đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội không có bộ phận giúp việc. Điều này không chỉ ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội mà còn tạo tâm lý không ổn định đối với đội ngũ công chức đang công tác tại Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội.
    c) Tác động về giới: chính sách này cơ bản không liên quan trực tiếp đến vấn đề về giới.
    d) Tác động về thủ tục hành chính: giảm đầu mối các đơn vị thuộc Văn phòng Quốc hội.
    đ) Tác động đối với hệ thống pháp luật: Chính sách này được áp dụng sẽ tạo sự thống nhất với một số dự án Luật dự kiến được sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới như Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật…
    2.4.3. Tác động của phương án 2C
    a) Tác động kinh tế: Làm phát sinh chi phí cho việc sửa đổi cũng như triển khai thi hành Luật.
    b) Tác động xã hội:
    - Tác động tích cực:
    Với phương án quy định Đoàn đại biểu Quốc hội có bộ phận tham mưu, giúp việc sẽ tạo sự yên tâm đối với các cán bộ, công chức trong văn phòng, cũng như đối với các đại biểu Quốc hội sinh hoạt ở địa phương. Mặt khác, việc quy định chung về bộ phận tham mưu giúp việc của Đoàn đại biểu Quốc hội cũng không ảnh hưởng đến việc hợp nhất các văn phòng. Bởi vì, dù hợp nhất hay không hợp nhất, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội với Văn phòng Hội đồng nhân dân, Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì Đoàn đại biểu Quốc hội vẫn có bộ phận tham mưu, giúp việc theo quy định của pháp luật.
    - Tác động tiêu cực: chính sách này không có các tác động mang tính tiêu cực.
    c) Tác động về giới: chính sách này cơ bản không liên quan trực tiếp đến vấn đề về giới.
    d) Tác động về thủ tục hành chính: giảm đầu mối các đơn vị thuộc Văn phòng Quốc hội.
    đ) Tác động đối với hệ thống pháp luật: Chính sách này được áp dụng sẽ tạo được sự thống nhất với một số dự án Luật dự kiến được sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới như Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật…
    2.5. Kiến nghị giải pháp lựa chọn
    Từ những phân tích và đánh giá trên cho thấy, việc lựa chọn phương án 2C là hợp lý vì vừa tạo được sự yên tâm đối với đội ngũ cán bộ, công chức đang công tác tại các cơ quan tham mưu, giúp việc cho Đoàn đại biểu Quốc hội, đồng thời cũng không ảnh hưởng đến quá trình hợp nhất các văn phòng.
    3. Chính sách 3: Kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và việc chi trả lương, phụ cấp cho đại biểu Quốc hội chuyên trách ở địa phương
    3.1. Xác định vấn đề
    Hiện nay, kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội được xác định là một khoản trong ngân sách nhà nước do Quốc hội quyết định. Ủy ban Thường vụ Quốc hội có trách nhiệm quyết định phân bổ kinh phí hoạt động cho các Đoàn đại biểu Quốc hội. Văn phòng Quốc hội có trách nhiệm bảo đảm cơ sở vật chất và các điều kiện khác cho hoạt động của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội. Chủ tài khoản của Đoàn đại biểu Quốc hội là Trưởng hoặc Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách, có một số địa phương ủy quyền cho Chánh Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội. Lương và phụ cấp của đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở địa phương nằm trong kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội.
    Để thực hiện chủ trương của Đảng về việc thực hiện hợp nhất 03 văn phòng thành một văn phòng chung thì cũng cần có quy định phù hợp về kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội cho phù hợp, bảo đảm sử dụng kinh phí có hiệu quả.
    3.2. Mục tiêu giải quyết vấn đề
    - Bảo đảm việc sử dụng và quản lý đối với kinh phí của Đoàn đại biểu Quốc hội được hiệu quả và hợp lý đáp ứng yêu cầu của các đại biểu Quốc hội ở địa phương.
    - Giải quyết được vấn đề vướng mắc trong quản lý kinh phí của Đoàn đại biểu Quốc hội khi thực hiện chủ trương của Đảng về việc hợp nhất 03 văn phòng thành một văn phòng giúp việc chung.
    3.3. Các giải pháp đề xuất để giải quyết vấn đề
    Phương án 3A: Kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, gồm các khoản bảo đảm cho hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, lương và phụ cấp hoạt động của đại biểu Quốc hội ở địa phương được bảo đảm từ nguồn ngân sách địa phương.
    Phương án 3B: Kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội do ngân sách trung ương bảo đảm theo sự phân bổ của Ủy ban Thường vụ Quốc hội như hiện nay. 
    3.4. Đánh giá tác động của các giải pháp đối với đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách và đối tượng khác có liên quan
    3.4.1. Tác động của phương án 3A
    a) Tác động kinh tế: Làm phát sinh chi phí cho việc sửa đổi cũng như triển khai thi hành Luật.
    b) Tác động xã hội.
    - Tác động tích cực:
    Theo phương án 3A, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ không quyết định việc phân bổ kinh phí hoạt động cho các Đoàn đại biểu Quốc hội như hiện nay mà tập trung vào quy định chế độ chính sách cho các đại biểu Quốc hội. Việc bảo đảm cho hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội ở địa phương do ngân sách nhà nước địa phương thực hiện. Phương án này có thuận lợi là kinh phí tập trung vào một đầu mối, tạo sự thống nhất và thuận tiện trong việc tổ chức triển khai thực hiện, trong việc sử dụng và quản lý kinh phí. Tại Nghị quyết số 580/2018/UBTVQH14 ngày 04/10/2018 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thí điểm hợp nhất Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng quy định kinh phí của Đoàn đại biểu Quốc hội do ngân sách địa phương bảo đảm theo phân bổ dự toán do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định.
    - Tác động tiêu cực:
    Phương án này cũng có bất cập là các đại biểu Quốc hội công tác ở địa phương ngoài việc tham gia các hoạt động do địa phương tổ chức thì còn phải tham gia kỳ họp Quốc hội, tham gia các hoạt động với tư cách là thành viên Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội. Những hoạt động này vừa có tính chất định kỳ hàng năm nhưng cũng có khi phát sinh đột xuất theo yêu cầu nhiệm vụ. Trong khi đó, mỗi hoạt động nêu trên đều phải có dự toán kinh phí để bảo đảm cho hoạt động của các đại biểu Quốc hội như tiền đi lại, công tác phí, phục vụ ăn, ở…. nên rất khó xác định để xây dựng dự toán từ đầu năm.
    c) Tác động về giới: chính sách này cơ bản không liên quan trực tiếp đến vấn đề về giới.
    d) Tác động về thủ tục hành chính: về cơ bản không có tác động trực tiếp đến thủ tục hành chính.
    đ) Tác động đối với hệ thống pháp luật: Theo phương án này thì sẽ phải sửa đổi các điều 43, 54 và 101 liên quan đến kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội trong Luật Tổ chức Quốc hội.
    3.4.2. Tác động của phương án 3B
    a) Tác động kinh tế: chính sách không làm phát sinh chi phí cho việc sửa đổi cũng như triển khai thi hành Luật.
    b) Tác động xã hội:
    - Tác động tích cực: Phương án 3B có thể khắc phục được những hạn chế của phương án 3A.
    - Tác động tiêu cực:
    Phương án 3B có thể khắc phục được những hạn chế của phương án 3A nhưng lại không có được những ưu điểm như phương án 3A. Việc các Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội hoạt động ở địa phương, sinh hoạt ở địa phương nhưng kinh phí lại do Văn phòng Quốc hội bảo đảm thì sẽ không kịp thời, không thuận tiện trong việc quản lý và sử dụng kinh phí.
    c) Tác động về giới: chính sách này cơ bản không liên quan trực tiếp đến vấn đề về giới.
    d) Tác động về thủ tục hành chính: về cơ bản không có tác động trực tiếp đến thủ tục hành chính.
    đ) Tác động đối với hệ thống pháp luật: về cơ bản chính sách này không làm ảnh hưởng đến hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.
     3.5. Kết luận giải pháp lựa chọn
    Qua đánh giá tác động của các phương án trên cho thấy việc lựa chọn phương án 3A là hợp lý. Để giải quyết khó khăn khi lựa chọn phương án này, đề nghị cần có quy định phù hợp để bảo đảm cho hoạt động của các đại biểu Quốc hội là thành viên Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, trường hợp cấp bách, đột xuất thì các cơ quan của Quốc hội phải bảo đảm kinh phí cho các đại biểu Quốc hội tham dự hoạt động của mình. 
    III. LẤY Ý KIẾN
    Việc đánh giá tác động được tiến hành trước và trong quá trình soạn thảo dự thảo Luật. Trong quá trình đánh giá tác động, theo chỉ đạo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Văn phòng Quôc hội đã phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức tổng kết việc thực hiện một số quy định của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014; nghiên cứu, rà soát các quy định về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội trong các văn bản pháp luật có liên quan; tiến hành lấy ý kiến góp ý của các cơ quan, chuyên gia, nhà khoa học đồng thời kết hợp với việc khảo sát, đánh giá thực tiễn tình hình tổ chức và hoạt động của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội làm cơ sở cho việc xây dựng dự thảo Luật. Trong quá trình nghiên cứu cũng đã nghiên cứu, tham khảo các thông tin, sử dụng kết quả báo cáo tổng kết của các cơ quan, tham khảo kết quả nghiên cứu các đề tài khoa học và tham khảo kinh nghiệm, thực tiễn quốc tế về tổ chức và hoạt động của Nghị viện các nước.
    IV.  GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ
    1.  Cơ quan chịu trách nhiệm thi hành chính sách
    Quốc hội, các cơ quan cùa Quốc hội, Chính phủ, chính quyền địa phương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chịu trách nhiệm thi hành các chính sách được nêu trong Luật.
    2. Giám sát và đánh giá
    Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội giám sát việc thực hiện các chính sách được nêu trong Luật. Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân giám sát việc triển khai thực hiện chính sách trong phạm vi địa phương.
    Kết quả của việc đánh giá tác động quy phạm được phân tích và trình bày theo phương án được lựa chọn quy định trong dự thảo Luật. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội sẽ khắc phục được những hạn chế, bất cập của các quy định về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội hiện nay. Dự thảo Luật khi được ban hành sẽ có tác động tích cực tạo ra sự thống nhất, hoàn thiện và đồng bộ trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội.
    *
    *       *
    Trên đây là nội dung Báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội, Văn phòng Quốc hội xin trân trọng báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
     

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com