Thứ sáu, ngày 14/12/2018login
  • Kết quả rà soát, đề nghị sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hộiGóp ý

    Cơ quan ban hành: Văn phòng Quốc hội

    Mô tả: Tài liệu kèm theo dự thảo Đề cương xin ý kiến góp ý

  • Thực hiện Kế hoạch số 735-KH/ĐĐQH14 ngày 18/01/2018 của Đảng đoàn Quốc hội, Văn phòng Quốc hội đã tổ chức rà soát toàn bộ nội dung của Luật Tổ chức Quốc hội và các văn bản pháp luật liên quan, đối chiếu với Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII để đề xuất nội dung cần sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội. Văn phòng Quốc hội xin báo cáo kết quả rà soát như sau:
    1. Những nội dung đề xuất sửa đổi, bổ sung
    Trên cơ sở cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Quốc hội được ban hành năm 2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước ta. Luật Tổ chức Quốc hội đã quy định cụ thể quyền và trách nhiệm của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội trong các hoạt động lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao theo hướng rõ ràng, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả hơn.
    Sau khi rà soát toàn bộ các quy định về tổ chức và hoạt động trong Luật Tổ chức Quốc hội, Văn phòng Quốc hội thấy rằng, phần lớn các quy định của Luật vẫn đang phát huy hiệu lực; trong đó, có nhiều quy định mới được bổ sung năm 2014 cần có thời gian để kiểm nghiệm trên thực tế. Vì vậy, trên tinh thần chỉ xem xét sửa đổi, bổ sung những vấn đề đã có chỉ đạo rõ, những vấn đề đã chín muồi, có nhu cầu cấp thiết trong thực tế nhằm cụ thể hóa các chỉ đạo, kết luận của Trung ương liên quan đến tổ chức, hoạt động của Quốc hội, góp phần tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, đối với những vấn đề còn tranh luận, có ý kiến khác nhau hoặc chưa đánh giá hết được tác động khi thực thi thì tiếp tục nghiên cứu, tổng kết để sửa đổi, bổ sung vào thời gian thích hợp, Văn phòng Quốc hội xin đề xuất nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số vấn đề sau đây:
    1.1. Về Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội
    Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả (sau đây gọi là Nghị quyết số 18) đã đề ra nhiệm vụ “nghiên cứu ban hành quy định để thực hiện hợp nhất Văn phòng Hội đồng nhân dân, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành một văn phòng tham mưu giúp việc chung” nhằm tinh gọn đầu mối, giảm biên chế và nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong việc tham mưu, phục vụ hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và chính quyền địa phương.
    Để kịp thời thể chế hóa quy định của Nghị quyết số 18, ngày 24/11/2017, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 56/2017/QH14 về việc tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đã quy định “thực hiện thí điểm hợp nhất Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành một văn phòng tham mưu, giúp việc chung”. Quy định này đã tạo cơ sở pháp lý cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc thực hiện thí điểm hợp nhất trong thời gian chưa sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Tuy nhiên, vì trong Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương đều có quy định về các văn phòng giúp việc nên để áp dụng chung trên phạm vi toàn quốc thì phải tiến hành sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội trong Luật Tổ chức Quốc hội.
    Kết quả rà soát cho thấy, Luật Tổ chức Quốc hội có 03 điều, khoản quy định về Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội với tính chất là một đơn vị giúp việc riêng cho Đoàn đại biểu Quốc hội tại địa phương (tại điểm đ khoản 2 Điều 43, khoản 4 Điều 43 và điểm d khoản 1 Điều 99). Do đó, cần phải sửa đổi quy định này để thực hiện chủ trương hợp nhất Văn phòng Hội đồng nhân dân, Văn phòng Ủy ban nhân dân và Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội theo quy định tại Nghị quyết số 18.
    Liên quan đến vấn đề này còn có quy định về kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội. Theo Luật Tổ chức Quốc hội thì kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội do ngân sách nhà nước bảo đảm và do Ủy ban Thường vụ Quốc hội phân bổ. Tuy nhiên, khi thực hiện chủ trương hợp nhất 3 Văn phòng thì cũng cần nghiên cứu về vấn đề này để có quy định cho phù hợp. Hiện tại, Luật Tổ chức Quốc hội có 03 điều khoản quy định về kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội (khoản 4 Điều 43, khoản 3 Điều 54 và khoản 1 Điều 101).

    1.2. Về việc thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội 
    Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Quốc hội đã quy định cụ thể tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong việc thực hiện, tham gia thực hiện các chức năng của Quốc hội đó là lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Cùng với Luật Tổ chức Quốc hội, các đạo luật chuyên ngành khác như Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật Trưng cầu ý dân, Luật Ngân sách nhà nước đều có quy định cụ thể về thẩm quyền, trách nhiệm và quy trình, thủ tục thực hiện để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể thuộc chức năng của Quốc hội.
    Do đó, trong quá trình xây dựng Luật Tổ chức Quốc hội, quan điểm chỉ đạo chung là Luật này chỉ quy định mang tính khái quát về nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội; còn những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể và cách thức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn này sẽ do các luật về từng lĩnh vực quy định. Quy định như vậy vừa bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tránh việc cùng một nội dung mà có nhiều văn bản cùng điều chỉnh, đồng thời, tạo thuận lợi cho việc đổi mới hoạt động của Quốc hội trên từng lĩnh vực vì khi đó, sẽ chỉ cần sửa đổi, bổ sung quy định của các luật về từng hoạt động tương ứng, không nhất thiết phải sửa đổi Luật Tổ chức Quốc hội và ngược lại.
    Qua rà soát, Văn phòng Quốc hội nhận thấy, Luật Tổ chức Quốc hội vẫn còn một số điều khoản quy định khá cụ thể, chi tiết thẩm quyền, trách nhiệm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong hoạt động xây dựng luật, pháp lệnh (Điều 48), trong việc tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 59), trong việc thực hiện hoạt động đối ngoại (Điều 58)… Do đó, cần nghiên cứu để thể hiện khái quát các quy định này, bảo đảm tính thống nhất và tạo điều kiện cho việc sửa đổi luật sắp tới (trước mắt, theo Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019 là sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật).
    1.3. Về số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách
    Nghị quyết số 18 đề ra nhiệm vụ: “Thực hiện tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách theo mục tiêu đã đề ra; nghiên cứu việc giảm hợp lý số lượng đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm công tác ở các cơ quan hành pháp”.
    Văn phòng Quốc hội thấy rằng, để thực hiện nhiệm vụ này thì trong thời gian tới, khi các cơ quan nghiên cứu, xây dựng Đề án bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV phải xác định cụ thể tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách cũng như cơ cấu của đại biểu Quốc hội, tránh trường hợp có quá nhiều đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm công tác ở cơ quan hành pháp, hành chính (không chỉ khi bầu mà trong cả nhiệm kỳ do có việc điều động, chuyển công tác sang cơ quan này). Nội dung này không cần thiết quy định trong Luật.
    Về tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách, tại khoản 2 Điều 23 của Luật Tổ chức Quốc hội quy định: “số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ít nhất là 35% tổng số đại biểu Quốc hội”. Luật Tổ chức Quốc hội chỉ quy định mức tối thiểu mà không quy định mức tối đa, do đó, tùy vào điều kiện, tình hình cụ thể, trong các Đề án bầu cử đại biểu Quốc hội có thể xác định hợp lý tỷ lệ này theo hướng cao hơn mà không vướng quy định của Luật Tổ chức Quốc hội.
    Qua rà soát, Văn phòng Quốc hội thấy rằng, những nội dung liên quan đến tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách và cơ cấu đại biểu Quốc hội sẽ được giải quyết thông qua các Đề án bầu cử đại biểu Quốc hội trong từng nhiệm kỳ mà không nhất thiết phải sửa đổi Luật Tổ chức Quốc hội. Do đó, đề nghị giữ nguyên quy định tại Điều 23 của Luật Tổ chức Quốc hội.
    1.4. Về cơ cấu tổ chức của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội
    Nghị quyết số 18 đề ra nhiệm vụ: “Quy định số lượng với tỉ lệ hợp lý giữa lãnh đạo, Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội theo hướng giảm số lượng cấp phó và ủy viên thường trực”.
    Qua rà soát, Văn phòng Quốc hội thấy rằng, Điều 67 của Luật Tổ chức Quốc hội chỉ quy định cơ cấu tổ chức của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội mà không quy định cụ thể số lượng cấp phó và tỷ lệ lãnh đạo, Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội. Để thực hiện Nghị quyết của Trung ương, Đảng đoàn Quốc hội đã giao Ban Công tác đại biểu chủ trì nghiên cứu, xây dựng Đề án số lượng lãnh đạo cấp phó tối đa và tỷ lệ hợp lý giữa lãnh đạo và Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội để báo cáo Đảng đoàn Quốc hội quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền hoặc trình Bộ Chính trị cho ý kiến, làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Quốc hội (Kế hoạch 735-KH/ĐĐQH14 ngày 18/01/2018 của Đảng đoàn Quốc hội). Do đó, căn cứ vào kết quả nghiên cứu của Đề án này, sẽ xem xét đề xuất các nội dung sửa đổi, bổ sung tương ứng trong Luật Tổ chức Quốc hội nếu thấy cần thiết.
    1.5. Về bộ máy giúp việc của Quốc hội
    Nghị quyết số 18 đề ra nhiệm vụ “sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức bên trong của Văn phòng Quốc hội theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.
    Qua rà soát, Luật Tổ chức Quốc hội có 03 điều quy định về bộ máy giúp việc Quốc hội và đều liên quan đến Văn phòng Quốc hội, đó là Tổng thư ký Quốc hội (Điều 98), Văn phòng Quốc hội (Điều 99) và các cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Điều 100). 
    Về vấn đề này, Văn phòng Quốc hội nhận thấy, để thực hiện Nghị quyết của Trung ương, trong thời gian qua, Đảng đoàn Quốc hội đã ban hành kế hoạch, giao các cơ quan, đơn vị tham mưu, nghiên cứu, rà soát các vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của bộ máy giúp việc Quốc hội theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Văn phòng Quốc hội đã lập Ban soạn thảo Đề án sắp xếp cơ cấu tổ chức bên trong của Văn phòng Quốc hội và Viện Nghiên cứu lập pháp. Kết quả nghiên cứu của Đề án này sẽ phục vụ cho việc sửa đổi, bổ sung các văn bản liên quan như các nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Quốc hội, Ban Công tác đại biểu, Ban Dân nguyện, Viện Nghiên cứu lập pháp, Ban Thư ký,… Trong trường hợp cần thiết, căn cứ vào kết quả nghiên cứu của Đề án sẽ đề xuất sửa đổi, bổ sung những quy định liên quan trong Luật Tổ chức Quốc hội.
    1.6. Một số nội dung liên quan đến kỳ họp Quốc hội, hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội
    Trong thời gian qua, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án tiếp tục cải tiến, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội khóa XIV. Trong quá trình nghiên cứu, xây dựng Đề án, đã có một số ý kiến, đề xuất cụ thể liên quan đến công tác tổ chức kỳ họp Quốc hội, phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các phiên họp của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội.
    - Về kỳ họp Quốc hội: một số ý kiến đề nghị “Quốc hội làm hết việc chứ không làm hết giờ”, theo đó, các phiên họp, phiên thảo luận chỉ kết thúc khi tất cả các đại biểu Quốc hội đều được phát biểu ý kiến nếu đã đăng ký. Có ý kiến đề nghị giảm bớt thời gian phát biểu của từng đại biểu tại các phiên họp toàn thể để có cơ hội cho nhiều đại biểu thể hiện chính kiến; quy định về thời gian, cách thức tranh luận, chất vấn tại kỳ họp. Có ý kiến đề nghị công khai kết quả biểu quyết của từng đại biểu trong trường hợp Quốc hội tiến hành biểu quyết công khai. Có ý kiến đề nghị nghiên cứu, xem xét về tính hợp lý của việc bố trí thời gian thảo luận tại phiên họp toàn thể của Quốc hội trước khi biểu quyết thông qua dự thảo luật vì cho rằng, việc bố trí thời gian thảo luận về dự án luật tại kỳ họp Quốc hội chưa hợp lý....
    Văn phòng Quốc hội thấy rằng, những ý kiến nêu trên cũng có những khía cạnh hợp lý. Tuy nhiên, đây là các nội dung có tính tổ chức thực hiện, nên được quy định tại Nội quy kỳ họp Quốc hội hoặc các luật về trình tự, thủ tục thực hiện (ví dụ như Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân ...). Do đó, không cần thiết phải sửa đổi, bổ sung vào Luật Tổ chức Quốc hội.
        - Về hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: có ý kiến đề nghị cần cụ thể hóa thủ tục trả lời chất vấn tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ra nghị quyết chung hoặc thông báo kết luận nội dung phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về các hình thức tổ chức hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách hoặc việc tổ chức tiếp nhận, xử lý các kiến nghị của đại biểu Quốc hội...
    Tương tự như đã trình bày ở phần trên, đây cũng là các nội dung có tính tổ chức thực hiện, liên quan đến quy trình, thủ tục cụ thể trong hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Hiện các nội dung này đã được quy định tại Quy chế làm việc của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các luật khác có liên quan. Do đó, cũng không cần thiết phải sửa đổi, bổ sung vào Luật Tổ chức Quốc hội.
    - Về hoạt động của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội: Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về tỷ lệ thành viên tham dự phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội; phân định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách của Hội đồng, Ủy ban...
    Qua rà soát, Văn phòng Quốc hội nhận thấy, hiện tại ngoài các quy định của Luật Tổ chức Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội đều có quy chế làm việc để xác định các nội dung về phân công trách nhiệm, lề lối, thủ tục làm việc trong nội bộ cơ quan mình. Tuy nhiên, từ thực tế thực hiện thời gian qua cho thấy, vẫn còn một số nội dung cần được bổ sung vào quy định của Luật Tổ chức Quốc hội để bảo đảm thống nhất trong áp dụng chung như quy định về tỷ lệ thành viên tham dự phiên họp toàn thể của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội (Đều 87), nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách của Hội đồng, Ủy ban (Điều 85). Do đó, đề nghị nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 85 và Điều 87 về vấn đề này.
    2. Kiến nghị, đề xuất
    Trên cơ sở kết quả rà soát nêu trên, Văn phòng Quốc hội kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội một số nội dung như sau:
    Thứ nhất, cho ý kiến về phạm vi sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Quốc hội. Văn phòng Quốc hội đề nghị chỉ sửa đổi, bổ sung những vấn đề đã rõ, đã chín, những vấn đề thực sự cần thiết nhằm cụ thể hóa các chỉ đạo, kết luận của Trung ương liên quan đến tổ chức, hoạt động của Quốc hội; đối với những vấn đề còn tranh luận, có ý kiến khác nhau thì tiếp tục nghiên cứu, tổng kết để sửa đổi, bổ sung vào thời gian thích hợp. 
    Thứ hai, đôn đốc các cơ quan, tổ chức được phân công chuẩn bị các Đề án có liên quan khẩn trương triển khai thực hiện, báo cáo cấp có thẩm quyền phê duyệt để có cơ sở nghiên cứu, tiếp thu, sửa đổi các nội dung liên quan của Luật Tổ chức Quốc hội.
    Thứ ba, chỉ đạo việc xây dựng hồ sơ đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (bao gồm việc lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức hữu quan; đăng tải Báo cáo tổng kết, Báo cáo đánh giá tác động trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội; gửi xin ý kiến của Chính phủ; gửi Ủy ban Pháp luật để thẩm tra và bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019).
    Thứ tư, quyết định thành lập Ban soạn thảo dự án Luật sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Quốc hội để giúp Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổng kết, soạn thảo dự án Luật trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
     *
    *        *
    Trên đây là Báo cáo kết quả rà soát và kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội, Văn phòng Quốc hội trân trọng báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. 
     

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com