Thứ sáu, ngày 14/12/2018login
  • Tiếp thu, giải trình ý kiến của các cơ quan, tổ chức về dự thảo đề nghị xây dựng dự án LuậtGóp ý

    Cơ quan ban hành: Văn phòng Quốc hội

    Mô tả: Tài liệu kèm theo dự thảo Đề cương xin ý kiến góp ý

  • Kính gửi: Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
    Thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Văn phòng Quốc hội đã tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức có liên quan về dự thảo đề nghị xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội. Về cơ bản, các cơ quan, tổ chức đều tán thành với sự cần thiết ban hành Luật và đánh giá cao quá trình chuẩn bị hồ sơ đề nghị của Văn phòng Quốc hội. Các ý kiến đều cho rằng, hồ sơ được chuẩn bị nghiêm túc, chất lượng theo đúng quy định của pháp luật, đồng thời cũng góp ý thêm về nhiều nội dung cụ thể về tờ trình và các chính sách của dự án Luật.
    Văn phòng Quốc hội xin báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội việc giải trình, tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức có liên quan về dự thảo đề nghị xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội như sau:
    1. Về Đoàn đại biểu Quốc hội 
    - Đa số ý kiến tán thành với đề nghị sửa đổi quy định về Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội trong Luật Tổ chức Quốc hội để thực hiện chủ trương hợp nhất 3 Văn phòng của Đảng. Tuy nhiên, nhiều ý kiến đề nghị quy định theo hướng Đoàn đại biểu Quốc hội có bộ phận tham mưu, giúp việc mà không quy định cụ thể tên gọi của bộ phận này, giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về nội dung này.
    Tiếp thu ý kiến của nêu trên, Văn phòng Quốc hội đã chỉnh lý lại nội dung này theo hướng quy định khái quát Đoàn đại biểu Quốc hội có bộ phận tham mưu, giúp việc theo quy định của pháp luật. Quy định như vậy để phù hợp với chủ trương hợp nhất Văn phòng Hội đồng nhân dân, Văn phòng Ủy ban nhân dân và Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội theo Nghị quyết số 18-NQ/TW; đồng thời, vẫn bảo đảm hoạt động của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương luôn có bộ phận phục vụ, tham mưu, giúp việc.
    - Có ý kiến tán thành với dự kiến sửa đổi quy định Trưởng đoàn, Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội có thể là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách. Tuy nhiên, nhiều ý kiến đề nghị giữ lại quy định này như Luật Tổ chức Quốc hội hiện hành. 
    Văn phòng Quốc hội thấy rằng, việc quy định Trưởng đoàn hoặc Phó Trưởng đoàn là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách góp phần bảo đảm hoạt động của các Đoàn đại biểu Quốc hội có hiệu quả, nâng cao vị thế của Đoàn đại biểu Quốc hội trong mối quan hệ với các cơ quan khác ở địa phương. Do vậy, tiếp thu ý kiến nêu trên, Văn phòng Quốc hội đã bỏ đề nghị sửa đổi quy định về Trưởng đoàn hoặc Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội.
    - Về kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, một số ý kiến tán thành với quy định kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội do ngân sách địa phương bảo đảm. Tuy nhiên, nhiều ý kiến ở các Đoàn đại biểu Quốc hội đề nghị cần cân nhắc việc giao địa phương bảo đảm kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội.
    Văn phòng Quốc hội thấy rằng, kinh phí hoạt động của các Đoàn đại biểu Quốc hội hiện nay do ngân sách trung ương bảo đảm theo quy định tại khoản 3 Điều 54 và khoản 1 Điều 101 của Luật Tổ chức Quốc hội. Để thực hiện chủ trương hợp nhất các Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội (thuộc Văn phòng Quốc hội), Văn phòng Hội đồng nhân dân và Văn phòng Ủy ban nhân dân thành một Văn phòng chung thì phải nghiên cứu vấn đề về kinh phí hoạt động cho cơ quan này. Tại Nghị quyết số 580/2018/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã quy định kinh phí của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân do ngân sách địa phương bảo đảm. Vì vậy, nếu quy định kinh phí của bộ phận giúp việc cho Đoàn do ngân sách địa phương bảo đảm nhưng lại quy định kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội do ngân sách trung ương bảo đảm thì rất phức tạp trong công tác thanh, quyết toán. Đây là vấn đề chuyên môn, do đó, trước mắt, Văn phòng Quốc hội vẫn đề nghị quy định kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội do ngân sách địa phương bảo đảm (tương tự như Nghị quyết số 580/2018/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội); đồng thời sẽ tiếp tục nghiên cứu, tham khảo thêm ý kiến của các cơ quan chuyên môn và các Đoàn đại biểu Quốc hội để có phương án sửa đổi quy định này một cách hợp lý.
    2. Về Ủy ban Thường vụ Quốc hội
    - Có ý kiến đề nghị cân nhắc việc bổ sung quy định lấy ý kiến thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội bằng văn bản.
    Văn phòng Quốc hội thấy rằng, theo quy định tại khoản 1 Điều 60 của Luật Tổ chức Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận và quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đồng thời, quy định lấy ý kiến thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội bằng văn bản đã được quy định cụ thể tại Điều 3 của Quy chế hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Do vậy, Văn phòng Quốc hội xin không bổ sung nội dung này trong dự án Luật.
    - Có ý kiến đề nghị không sửa đổi quy định về thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong viêc trưng cầu ý dân.
    Qua rà soát, Văn phòng Quốc hội thấy rằng, do Luật Tổ chức Quốc hội được ban hành trước Luật Trưng cầu ý dân nên một số nhiệm vụ của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trưng cầu ý dân được quy định khá cụ thể. Do đó, để bảo đảm tính thống nhất và tránh trùng lặp, Văn phòng Quốc hội đề nghị sửa đổi, bổ sung Điều 59 theo hướng quy định khái quát thẩm quyền, trách nhiệm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong việc trưng cầu ý dân để bảo đảm thống nhất với quy định của luật chuyên ngành.
    - Có ý kiến đề nghị cụ thể hóa nội dung giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh.
    Văn phòng Quốc hội thấy rằng, quy định về thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong việc ban hành pháp lệnh đã được quy định cụ thể trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Do vậy, không cần thiết phải cụ thể hóa nội dung này trong Luật Tổ chức Quốc hội để tránh trùng lặp.
    - Có ý kiến đề nghị bổ sung trách nhiệm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong việc đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội.
    Văn phòng Quốc hội thấy rằng, vấn đề này thuộc công tác quản lý cán bộ. Hiện tại, Luật Tổ chức Quốc hội đã giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo dõi, hướng dẫn hoạt động của đại biểu Quốc hội, tạo cơ sở pháp lý để Ủy ban Thường vụ Quốc hội đánh giá, xem xét, quyết định điều động, luân chuyển đại biểu Quốc hội khi có yêu cầu. Do đó, không cần thiết bổ sung vào Luật quy định về trách nhiệm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong việc đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội.
    - Có ý kiến đề nghị rà soát, tập trung thống nhất các quy định liên quan đến thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong việc quyết định biên chế của các cơ quan như Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán nhà nước.
    Văn phòng Quốc hội thấy rằng, thẩm quyền nêu trên của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã được quy định trong các luật liên quan như Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Kiểm toán nhà nước. Do đó, để tránh lặp lại thì không cần thiết quy định lại những vấn đề nêu trên trong Luật Tổ chức Quốc hội.
    3. Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội
    - Có ý kiến cho rằng, Nghị quyết số 18-NQ/TW đề ra nhiệm vụ: “Quy định số lượng với tỷ lệ hợp lý giữa lãnh đạo, Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội theo hướng giảm số lượng cấp phó và Ủy viên Thường trực”. Do đó, đề nghị Luật Tổ chức Quốc hội phải quy định cụ thể tỷ lệ này trong Hội đồng Dân tộc và từng Ủy ban của Quốc hội. Ý kiến khác đề nghị giữ nguyên quy định của Luật Tổ chức Quốc hội hiện hành.
    Văn phòng Quốc hội thấy rằng, Điều 67 của Luật Tổ chức Quốc hội chỉ quy định cơ cấu tổ chức của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội mà không quy định cụ thể số lượng cấp phó và tỷ lệ lãnh đạo, Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội. Để thực hiện Nghị quyết của Trung ương, Đảng đoàn Quốc hội đã giao Ban Công tác đại biểu chủ trì nghiên cứu, xây dựng Đề án số lượng lãnh đạo cấp phó tối đa và tỷ lệ hợp lý giữa lãnh đạo và Ủy viên Thường trực, Ủy viên Chuyên trách của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội để báo cáo Đảng đoàn Quốc hội quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền hoặc trình Bộ Chính trị cho ý kiến, làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Quốc hội (Kế hoạch 735-KH/ĐĐQH14 ngày 18/01/2018 của Đảng đoàn Quốc hội). Do đó, căn cứ vào kết quả nghiên cứu của Đề án này, sẽ xem xét đề xuất các nội dung sửa đổi, bổ sung tương ứng trong Luật Tổ chức Quốc hội nếu thấy cần thiết.
    - Một số ý kiến đề nghị không cần sửa đổi quy định về thành lập tiểu ban (khoản 4 Điều 67 Luật hiện hành) vì cho rằng, quy định như Luật hiện hành là hợp lý, đủ cơ sở pháp lý cho việc thành lập hoặc không thành lập tiểu ban của Hội đồng, Ủy ban.
    Văn phòng Quốc hội thấy rằng, việc thành lập tiểu ban để nghiên cứu, chuẩn bị các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội được quy định tại khoản 4 Điều 67 của Luật Tổ chức Quốc hội. Tuy nhiên, đối với mỗi Ủy ban khác nhau sẽ có cách thức tổ chức công việc để nghiên cứu, chuẩn bị các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của mình theo mô hình các tiểu ban (Ủy ban Tài chính, Ngân sách, Ủy ban về các vấn đề Xã hội,…) hay các nhóm nghiên cứu (Ủy ban Pháp luật,…). Thực tiễn đã cho thấy, việc tổ chức công việc của các Ủy ban trong thời gian qua dưới hình thức tiểu ban hay nhóm nghiên cứu không vướng quy định của Luật Tổ chức Quốc hội. Do vậy, tiếp thu ý kiến của đại biểu, Văn phòng Quốc hội đề xuất giữ quy định về vấn đề này như trong Luật Tổ chức Quốc hội hiện hành.
    - Có ý kiến đề nghị cân nhắc tính khả thi của quy định tỷ lệ thành viên tham dự phiên họp toàn thể của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội. Ý kiến khác tán thành với đề xuất sửa đổi nội dung này trong dự thảo Đề cương.
    Văn phòng Quốc hội thấy rằng, Điều 87 của Luật Tổ chức Quốc hội quy định thành viên của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm tham dự phiên họp toàn thể của Hội đồng, Ủy ban nhưng lại chưa có quy định về tỷ lệ thành viên Hội đồng, Ủy ban phải tham dự phiên họp toàn thể của Hội đồng, Ủy ban. Do vậy, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, bảo đảm việc chuẩn hóa hoạt động của các cơ quan của Quốc hội, tạo điều kiện cho các thành viên có điều kiện tham gia đóng góp ý kiến vào các nội dung xem xét, cho ý kiến tại các phiên họp của các cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội đã đưa nội dung quy định cụ thể tỷ lệ thành viên tham dự phiên họp toàn thể của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và tỷ lệ thành viên biểu quyết tán thành các báo cáo, quyết định của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội vào đề nghị xây dựng luật.
    - Có ý kiến đề nghị nghiên cứu quy định về trách nhiệm của đại biểu Quốc hội là thành viên Hội đồng, Ủy ban trong việc phải tham gia đầy đủ hoạt động của Hội đồng, Ủy ban; bổ sung chế tài đối với thành viên không tham dự phiên họp toàn thể của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội mà không có lý do chính đáng.
    Văn phòng Quốc hội thấy rằng những ý kiến nêu trên là xác đáng, góp phần tăng cường trách nhiệm của các đại biểu Quốc hội là thành viên Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội. Tuy nhiên, việc tham dự hoạt động của Hội đồng, Ủy ban thuộc phạm vi điều chỉnh của các Quy chế của mỗi cơ quan. Do đó, Văn phòng Quốc hội xin ghi nhận ý kiến nêu trên để kiến nghị Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội bổ sung nội dung này vào trong Quy chế hoạt động của mỗi cơ quan. 
    4. Về đại biểu Quốc hội
    - Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách và cơ cấu đại biểu Quốc hội để thực hiện nhiệm vụ: “tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách theo mục tiêu đã đề ra; nghiên cứu việc giảm hợp lý số lượng đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm công tác ở các cơ quan hành pháp” mà Nghị quyết số 18-NQ/TW đã đề ra. Đề nghị quy định theo hướng: trừ Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Nghệ An và tỉnh Thanh Hóa, mỗi Đoàn đại biểu Quốc hội có 02 đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách, trong đó có 01 đại biểu chuyên trách là Trưởng hoặc Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội.
    Văn phòng Quốc hội thấy rằng, để thực hiện nhiệm vụ này thì trong thời gian tới, các cơ quan nghiên cứu, xây dựng Đề án bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV phải xác định cụ thể tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách cũng như cơ cấu của đại biểu Quốc hội, tránh trường hợp có quá nhiều đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm công tác ở cơ quan hành pháp, hành chính (không chỉ khi bầu mà trong cả nhiệm kỳ do có việc điều động, chuyển công tác sang cơ quan này). 
    Về tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách, tại khoản 2 Điều 23 của Luật Tổ chức Quốc hội quy định: “số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ít nhất là 35% tổng số đại biểu Quốc hội”. Luật Tổ chức Quốc hội chỉ quy định mức tối thiểu mà không quy định mức tối đa, do đó, tùy vào điều kiện, tình hình cụ thể, trong các Đề án bầu cử đại biểu Quốc hội có thể xác định hợp lý tỷ lệ này theo hướng cao hơn mà không vướng quy định của Luật Tổ chức Quốc hội.
    Vì vậy, Văn phòng Quốc hội thấy rằng, những nội dung liên quan đến tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách và cơ cấu đại biểu Quốc hội sẽ được giải quyết thông qua các Đề án bầu cử đại biểu Quốc hội trong từng nhiệm kỳ mà không nhất thiết phải sửa đổi Luật Tổ chức Quốc hội. 
    - Một số ý kiến đề nghị cần rà soát lại các quy định về tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội để có những sửa đổi, bổ sung cho chặt chẽ, phù hợp hơn. Chẳng hạn, cần nghiên cứu, bổ sung tiêu chuẩn về quốc tịch đối với đại biểu Quốc hội để tránh xảy ra những vi phạm trong quá trình bầu cử đại biểu Quốc hội như nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV vừa qua. Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội có một quốc tịch Việt Nam.
    Văn phòng Quốc hội thấy rằng, nguyên tắc công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam đã được ghi nhận trong Luật Quốc tịch nên tất cả công dân Việt Nam, dù là đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân hay bất kỳ cán bộ, công chức, viên chức nào khác cũng phải tuân theo quy định này. Vì vậy, không nhất thiết phải quy định tiêu chuẩn về quốc tịch trong Luật Tổ chức Quốc hội nhưng sẽ tiếp tục nghiên cứu, rà soát, tổng kết về tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội để đề xuất việc sửa đổi, bổ sung nếu cần thiết.
    - Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về chế độ, chính sách cho đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách.
    Văn phòng Quốc hội thấy rằng, các chế độ, chính sách cho đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách đã được quy định tại Điều 41 và Điều 42 của Luật Tổ chức Quốc hội và cụ thể hóa tại Nghị quyết số 353/2017/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định bổ sung một số chế độ và điều kiện bảo đảm hoạt động của đại biểu Quốc hội. Do vậy, Văn phòng Quốc hội sẽ tiếp tục rà soát để kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung Nghị quyết này trong trường hợp cần thiết.  
    5. Về bộ máy giúp việc Quốc hội
    - Có ý kiến cho rằng, Nghị quyết số 18-NQ/TW đề ra nhiệm vụ “sắp xếp, cơ cấu lại tổ chức bên trong của Văn phòng Quốc hội theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Vì vậy, đề nghị tiếp tục rà soát, nghiên cứu để có những sửa đổi, bổ sung nội dung này trong Luật Tổ chức Quốc hội.
    - Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể trong Luật về các cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội; xác định 02 cơ quan này là cơ quan thuộc Quốc hội hoặc tương đương với Văn phòng Quốc hội.
    Văn phòng Quốc hội nhận thấy, để thực hiện Nghị quyết của Trung ương, trong thời gian qua, Đảng đoàn Quốc hội đã ban hành kế hoạch, giao các cơ quan, đơn vị tham mưu, nghiên cứu, rà soát các vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của bộ máy giúp việc Quốc hội theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Văn phòng Quốc hội đã lập Ban soạn thảo Đề án sắp xếp cơ cấu tổ chức bên trong của Văn phòng Quốc hội và Viện Nghiên cứu lập pháp. Kết quả nghiên cứu của Đề án này sẽ phục vụ cho việc sửa đổi, bổ sung các văn bản liên quan như các nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Quốc hội, Ban Công tác đại biểu, Ban Dân nguyện, Viện Nghiên cứu lập pháp, Ban Thư ký,… Trong trường hợp cần thiết, căn cứ vào kết quả nghiên cứu của Đề án sẽ đề xuất sửa đổi, bổ sung những quy định liên quan trong Luật Tổ chức Quốc hội.
    6. Về thời điểm trình Quốc hội
    Có ý kiến đề nghị trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Quốc hội khi đã có tổng kết thí điểm việc hợp nhất 3 Văn phòng, có thể trình trong kỳ họp thứ 9 (tháng 5/2020).
    Văn phòng Quốc hội thấy rằng, để bảo đảm thực hiện Kế hoạch của Bộ Chính trị thì dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội cần được trình Quốc  hội xem xét, thông qua trong năm 2019. Tuy nhiên, qua rà soát thấy rằng, các nội dung đề xuất sửa đổi trong dự án Luật có liên quan đến mô hình tổ chức bộ máy giúp việc Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương, việc cơ cấu, sắp xếp lại bộ máy giúp việc của Quốc hội nói chung, việc tổ chức, nâng cao hiệu quả của bộ phận Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực các Ủy ban của Quốc hội. Đây là các nội dung đang được thực hiện thí điểm hoặc Đảng đoàn Quốc hội đang giao các cơ quan nghiên cứu, xây dựng đề án để báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định. Một số nội dung chỉ có thể hoàn thành hoặc có kết quả sơ kết, tổng kết vào cuối năm 2019. Mặt khác, những nội dung sửa đổi, bổ sung trong Luật này là để tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XV (2021 - 2026). Vì vậy, đặt vấn đề thông qua Luật này trong năm 2019 sẽ gặp nhiều khó khăn, chưa có đủ độ chín, khó bảo đảm đồng bộ với việc sửa đổi, bổ sung các luật khác về tổ chức bộ máy nhà nước.
    Do còn có ý kiến khác nhau nên Văn phòng Quốc hội kính trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
    *
    *        *
    Trên đây là Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến của các cơ quan, tổ chức về dự thảo đề nghị xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội, Văn phòng Quốc hội trân trọng báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
     

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com