Thứ sáu, ngày 14/12/2018login
  • Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Công an nhân dân (sửa đổi)Góp ý

    Cơ quan ban hành: Uỷ ban thường vụ Quốc hội

    Mô tả: Tài liệu kèm theo dự thảo Luật trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV

  • Trên cơ sở ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã chỉ đạo nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật (sau đây gọi là dự thảo Luật tiếp thu, chỉnh lý) và xin báo cáo như sau:
    1. Về vị trí của Công an nhân dân (Điều 3)
    - Một số ý kiến đề nghị quy định Công an nhân dân (CAND) làm nòng cốt trong đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật về lĩnh vực an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và chỉnh lý các quy định liên quan trong dự thảo Luật.
    Tiếp thu ý kiến ĐBQH, UBTVQH đã chỉ đạo rà soát, chỉnh lý quy định tại Điều này và các quy định có liên quan như dự thảo Luật tiếp thu, chỉnh lý.
    - Có ý kiến đề nghị bỏ cụm từ “đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật”, vì nội hàm bảo đảm trật tự, an toàn xã hội đã có nội dung này.
    UBTVQH thấy rằng, theo quy định tại khoản 2 Điều 2 thì khái niệm bảo đảm trật tự, an toàn xã hội đã bao hàm nội dung đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, để nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật là một trong những nhiệm vụ chính, nhiệm vụ cơ bản của CAND, dự thảo Luật nhắc lại cụm từ này ở các điều luật liên quan. Nội dung này cũng đã được quy định trong Hiến pháp và pháp luật có liên quan. Do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho giữ như dự thảo Luật.
        2. Về nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Công an nhân dân (Điều 4)
        Có ý kiến đề nghị bổ sung vào khoản 3 cụm từ "quốc gia, dân tộc".
        UBTVQH thấy rằng, nội hàm của cụm từ “bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” đã bao hàm nội dung bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Đồng thời, quy định như dự thảo Luật phù hợp với quy định của Hiến pháp; kế thừa quy định của Luật CAND năm 2005 và năm 2014, quá trình thực hiện ổn định, không phát sinh vướng mắc, bất cập. Do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của dự thảo Luật.
    3. Về nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân (Điều 8)
    Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định: công dân thực hiện nghĩa vụ Công an nhân dân lập được nhiều thành tích xuất sắc, khi hết thời hạn phục vụ có thể được xét tuyển sang chế độ chuyên nghiệp.
        UBTVQH thấy rằng, việc tuyển chọn vào CAND được thực hiện theo quy định tại Điều 7 của Luật này. Theo đó, tuyển chọn công dân vào CAND phải căn cứ vào nhu cầu tổ chức, nguyện vọng của công dân và các điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật. Hiện nay, Bộ Công an đã có văn bản hướng dẫn tuyển chọn công dân thực hiện nghĩa vụ tham gia CAND. Công dân hoàn thành nghĩa vụ tham gia CAND nếu có nguyện vọng sẽ được thi tuyển vào CAND, đối với trường hợp lập thành tích xuất sắc trong quá trình thực hiện nghĩa vụ được coi là một trong các điều kiện được ưu tiên tuyển chọn vào CAND. Do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của dự thảo Luật.
        4. Về chế độ phục vụ của sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân và công nhân công an (Điều 9)
    Có ý kiến đề nghị cân nhắc quy định: thôi phục vụ trong CAND phải thực hiện nghĩa vụ quân sự trong ngạch dự bị vì công an và quân sự là 2 ngành khác nhau.
    UBTVQH thấy rằng, Luật Nghĩa vụ quân sự đã quy định CAND thuộc đối tượng được miễn gọi nhập ngũ và khi thôi phục vụ trong CAND có nghĩa vụ phục vụ trong ngạch dự bị. Như vậy, quy định như dự thảo Luật là phù hợp với quyền và nghĩa vụ của công dân, thống nhất với pháp luật có liên quan. Do đó, để bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật và phù hợp với thực tiễn, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của dự thảo Luật.
    5. Về trách nhiệm của Chính phủ, Bộ, ngành trung ương đối với nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vi phạm pháp luật và xây dựng lực lượng Công an nhân dân (Điều 12)
    Có ý kiến đề nghị thay từ "giúp" bằng từ "tham mưu" để phù hợp với quy định của Luật Tổ chức Chính phủ.
    Trên cơ sở ý kiến ĐBQH, UBTVQH đã chỉ đạo chỉnh lý để bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Tổ chức Chính phủ, thống nhất trong hệ thống pháp luật như dự thảo Luật tiếp thu, chỉnh lý.
        6. Về trách nhiệm và chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp, cộng tác, hỗ trợ Công an nhân dân (Điều 14)
        Có ý kiến đề nghị quy định rõ hơn việc được bảo vệ, giữ bí mật trong quá trình tham gia, phối hợp, cộng tác, hỗ trợ CAND.
    Tiếp thu ý kiến ĐBQH, UBTVQH đã chỉ đạo rà soát, chỉnh lý như quy định của dự thảo Luật tiếp thu, chỉnh lý.
    7. Về hệ thống tổ chức của Công an nhân dân (Điều 17)
    - Một số ý kiến đề nghị cần đánh giá tác động toàn diện, có lộ trình chính quy Công an xã, bảo đảm chế độ, chính sách, bố trí nhân sự, điều kiện cơ sở vật chất, tính khả thi, hiệu quả, đồng bộ, tinh gọn đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự tại cơ sở khi chính quy Công an xã, thị trấn. Ý kiến khác đề nghị nên tổ chức thí điểm trước khi triển khai trong cả nước.
    Vấn đề này đã được UBTVQH báo cáo giải trình trước Quốc hội, theo đó xác định, việc xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy phải có lộ trình thực hiện để bảo đảm tính khả thi, hiệu quả và đồng bộ với việc thực hiện chủ trương của Đảng về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; bảo đảm nhân sự, cơ sở vật chất, điều kiện chính quy Công an xã, thị trấn. Dự thảo Luật đã giao Chính phủ quy định cụ thể việc xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy (khoản 2 Điều 17) và điều khoản chuyển tiếp (Điều 46) để bảo đảm lộ trình thực hiện và tính khả thi. Đối với lực lượng Công an xã bán chuyên trách, sẽ tiếp tục được sử dụng tham gia thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự tại cơ sở để tránh lãng phí nguồn nhân lực tại chỗ. Tuy nhiên, để bảo đảm khả thi, hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tiễn, dự thảo Luật chỉ quy định có tính nguyên tắc về việc sử dụng, chế độ, chính sách đối với lực lượng Công an xã bán chuyên trách, việc đào tạo, bố trí sử dụng cụ thể sẽ được thể hiện trong đề án và trong chương trình, kế hoạch thực hiện chính quy Công an xã.
    - Có ý kiến đề nghị không nên bố trí Công an xã chính quy tại 1.100 xã biên giới để tiết kiệm nguồn lực, tránh chồng chéo về nhiệm vụ giữa các lực lượng.
    UBTVQH thấy rằng, trong khu vực biên giới, mỗi lực lượng có chức năng, nhiệm vụ riêng theo quy định của pháp luật. Việc chính quy Công an xã, thị trấn nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Mặt khác, thực hiện quy định tại khoản 4 Điều 16 của Luật CAND hiện hành, Bộ Công an đã điều động sĩ quan, hạ sĩ quan về đảm nhiệm các chức danh Công an xã và được đánh giá hiệu quả, không phát sinh bất cập trong thực hiện. Do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của dự thảo Luật.
    - Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về việc kết thúc nhiệm vụ đối với Trưởng Công an xã và giao Chính phủ thực hiện đề án chuyển đổi Công an xã.
    - Có ý kiến đề nghị cân nhắc và làm rõ "quy định mới" về việc sử dụng và chế độ, chính sách đối với lực lượng bán chuyên trách tiếp tục tham gia hoạt động bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở thay thế Pháp lệnh Công an xã.
    Tiếp thu ý kiến ĐBQH, UBTVQH đã chỉ đạo rà soát chỉnh lý Điều 46, quy định về việc kết thúc nhiệm vụ đối với Trưởng Công an xã và tiếp tục áp dụng các chế độ, chính sách đối với các chức danh Công an xã tham gia bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở đến khi có văn bản quy phạm pháp luật của cấp có thẩm quyền thay thế.
    - Một số ý kiến nhất trí thành lập đồn, trạm công an; một số ý kiến đề nghị đánh giá tác động, sự cần thiết thành lập đồn, trạm công an, quy định rõ địa bàn, chức năng, nhiệm vụ để tránh chồng chéo với Công an xã, đồn, trạm công an và đồn biên phòng.
    Về vấn đề này, UBTVQH xin báo cáo như sau: Việc thành lập các đồn, trạm Công an và các đơn vị độc lập bố trí tại những địa bàn đặc thù (ví dụ khu công nghiệp, vùng tập trung dân cư…) được thực hiện từ khi có Luật CAND năm 2005 đến nay. Theo tổng kết, đánh giá của Bộ Công an, việc thành lập các đơn vị này nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, hoạt động hiệu quả, theo cơ chế, đặc thù của từng khu vực, địa bàn, không trùng dẫm với nhiệm vụ của Công an xã và các lực lượng khác. Việc quy định như dự thảo Luật cũng bảo đảm sự linh hoạt khi có tình huống phức tạp về an ninh, trật tự trong từng thời điểm và từng địa bàn cụ thể. Do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của dự thảo Luật.
    8. Về chỉ huy trong Công an nhân dân(Điều 19)
    Có ý kiến đề nghị việc xác định chỉ huy trong CAND nên căn cứ vào chức vụ, không căn cứ vào cấp bậc hàm; ý kiến khác đề nghị gắn chức vụ với cấp hàm, theo đó, nếu bổ nhiệm chức vụ thì có thể thăng cấp hàm trước niên hạn để thuận lợi trong thực hiện nhiệm vụ.
    UBTVQH thấy rằng, quy định về xác định chỉ huy trong CAND trên cơ sở kế thừa của Luật CAND hiện hành, quá trình thực hiện không phát sinh vướng mắc và cũng thống nhất với quy định về chỉ huy trong lực lượng vũ trang nhân dân.Trong CAND cấp bậc hàm gắn với chức vụ để chỉ huy, đồng thời, cấp bậc hàm gắn với quá trình cống hiến và chế độ tiền lương. Nếu quy định thăng cấp bậc hàm tương ứng với chức vụ được bổ nhiệm mà không theo niên hạn thì tác động đến chính sách tiền lương. Để bảo đảm cân đối thì quy định như dự thảo Luật là phù hợp. Do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của dự thảo Luật.
    9. Về hệ thống cấp bậc hàm sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân (Điều 21)
    Có ý kiến đề nghị cân nhắc sĩ quan chuyên môn kỹ thuật cấp tá có 04 bậc như sĩ quan nghiệp vụ.
    UBTVQH thấy rằng, quy định về cấp bậc hàm của sĩ quan chuyên môn kỹ thuật như dự thảo Luật là phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tính chất hoạt động của sĩ quan chuyên môn kỹ thuật; thống nhất, tương đồng với quân hàm của lực lượng quân nhân chuyên nghiệp trong Bộ Quốc phòng. Trên thực tế, việc thực hiện cấp bậc hàm đối với sĩ quan chuyên môn kỹ thuật đã được thực hiện ổn định. Do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của dự thảo Luật.
    10. Về đối tượng, điều kiện, thời hạn xét phong, thăng cấp bậc hàm sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân (Điều 22)
    Có ý kiến đề nghị việc phong cấp bậc hàm căn cứ vào chức danh trong tổ chức bộ máy; đồng thời, cần quy định rõ về tiêu chí xét phong hàm cấp tá, cấp tướng khi bố trí chức danh lãnh đạo, không quy định theo niên hạn.
    UBTVQH thấy rằng, CAND là lực lượng vũ trang nhân dân, do đó, cấp bậc hàm gắn với chức vụ, chức danh để thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhưng đồng thời, cấp bậc hàm là nguyên tắc cơ bản để xác định tiền lương. Theo đó, đối với những trường hợp được tuyển chọn vào CAND, việc xác định cấp bậc hàm căn cứ vào trình độ, quá trình công tác, nhiệm vụ được giao và bậc lương được sắp xếp để phong cấp bậc hàm là phù hợp. Việc phong, thăng cấp bậc hàm cũng phải theo niên hạn để bảo đảm công bằng, cân đối trong hệ thống cấp bậc hàm và chế độ lương trong CAND. Do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của dự thảo Luật.
    11. Về cấp bậc hàm cao nhất đối với chức vụ của sĩ quan Công an nhân dân (Điều 25)
    - Một số ý kiến nhất trí với quy định của dự thảo Luật; có ý kiến đề nghị quy định tiêu chí, số lượng Trung tướng, Thiếu tướng, vị trí cụ thể giao Chính phủ hoặc Bộ trưởng Bộ Công an quyết định.
    - Một số ý kiến đề nghị quy định cụ thể cấp bậc hàm cao nhất của từng chức vụ trong Luật.
    Tiếp thu chỉ đạo của cấp có thẩm quyền, ý kiến ĐBQH và để phù hợp với chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức, bộ máy trong CAND theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, UBTVQH đã chỉ đạo rà soát quy định số lượng vị trí từng cấp tướng; nguyên tắc, tiêu chí xác định vị trí có cấp bậc hàm cấp tướng. Đối với đơn vị đã rõ và thực hiện ổn định trên cơ sở kế thừa Luật CAND năm 2014 thì quy định cụ thể ngay trong Luật. Đối với đơn vị mới được hình thành sau khi sắp xếp lại tổ chức bộ máy thì việc xác định cấp bậc hàm cấp tướng trên cơ sở nguyên tắc, tiêu chí và giao UBTVQH quy định. Việc giao UBTVQH quy định như dự thảo Luật cũng bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, kế thừa quy định hiện hành; căn cứ số lượng, nguyên tắc, tiêu chí đã được Quốc hội xác định, UBTVQH quy định cụ thể từng vị trí có cấp bậc hàm cấp tướng để bảo đảm chặt chẽ, linh hoạt trong tổ chức thực hiện.
    - Có ý kiến nhất trí quy định số lượng cấp tướng trong CAND. Một số ý kiến đề nghị cân nhắc việc tăng số lượng cấp tướng khi đã thu gọn đầu mối, cần tính toán phù hợp với tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, cấp tướng phải gắn với quân số nhất định. Do đó, đề nghị cân nhắc số lượng vị trí có trần cấp bậc hàm Trung tướng, Thiếu tướng.
    - Một số ý kiến đề nghị xác định số lượng vị trí cấp tướng trong CAND phù hợp với mô hình tổ chức hiện tại và bảo đảm tương đồng về số lượng cấp phó có cấp bậc hàm cấp tướng trong Quân đội nhân dân.
    UBTVQH thấy rằng, mặc dù quy mô tổ chức của Bộ Công an được điều chỉnh theo hướng tinh gọn, giảm đầu mối nhằm hướng tới mục tiêu chuyên sâu, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, nhưng chức năng, nhiệm vụ và khối lượng công việc không thay đổi. Việc xác định số lượng vị trí chức vụ có cấp bậc hàm cao nhất là cấp tướng phải xuất phát từ nhu cầu chỉ đạo điều hành thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Bộ Công an. Tiếp thu ý kiến ĐBQH và nghiên cứu, kế thừa số lượng vị trí có cấp bậc hàm cấp tướng của Luật CAND hiện hành đã được cấp có thẩm quyền cho ý kiến, UBTVQH đã chỉ đạo cơ quan chuyên môn phối hợp với Ban soạn thảo, Bộ Công an rà soát vị trí có nhu cầu cấp bậc hàm cấp tướng theo mô hình tổ chức của Bộ Công an hiện nay để quy định như dự thảo Luật. Theo đó, qua rà soát thì số lượng vị trí có cấp bậc hàm cấp tướng đã giảm so với quy định hiện hành.
    Về số lượng cấp phó có cấp bậc hàm cấp tướng: Theo quy định của Luật CAND hiện hành thì có 02 đơn vị (Bộ Tư lệnh Cảnh vệ và Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động) có số lượng cấp phó có cấp bậc hàm cấp tướng không quá 04, cấp tổng cục số lượng cấp phó không quá 05. Tuy nhiên, hiện nay Bộ Công an tổ chức lại bộ máy không còn các tổng cục, các đơn vị cấp cục được sáp nhập trên cơ sở nhiều cục khác nhau mà cục trưởng các cục này đã được Luật CAND hiện hành quy định có cấp bậc hàm cao nhất là cấp tướng. Do đó, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn của việc chỉ đạo điều hành chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm sự cân đối về số lượng cấp phó của 02 Bộ Tư lệnh và một số cục hiện nay sau khi sáp nhập được giao thực hiện nhiệm vụ của nhiều cục trước đây, UBTVQH đề nghị quy định số lượng cấp phó có cấp bậc hàm Thiếu tướng của 02 Bộ Tư lệnh và 15 đơn vị cấp cục không quá 04, các đơn vị còn lại không quá 03.
    - Có ý kiến đề nghị bỏ tiêu chí xác định cấp bậc hàm Trung tướng “có chức năng, nhiệm vụ, tổ chức không thay đổi hoặc thay đổi theo hướng quy mô lớn hơn kể từ ngày 06 tháng 8 năm 2018”; một số ý kiến đề nghị cân nhắc tiêu chí để xác định cấp bậc hàm Thiếu tướng đối với Giám đốc Công an cấp tỉnh; đề nghị bổ sung một số tiêu chí cụ thể: có vị trí chiến lược, phức tạp và quan trọng về an ninh, trật tự.
    Tiếp thu ý kiến ĐBQH, UBTVQH đã chỉ đạo rà soát, nghiên cứu kỹ lưỡng nguyên tắc, tiêu chí xác định các chức vụ có cấp bậc hàm cấp tướng bảo đảm tương xứng giữa cấp bậc hàm với chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm số lượng cấp tướng trong CAND; đồng thời, chỉnh lý các nguyên tắc, tiêu chí như quy định của dự thảo Luật tiếp thu, chỉnh lý.
        12. Về biệt phái sĩ quan Công an nhân dân (Điều 29)
        - Một số ý kiến đề nghị bổ sung quy định về luân chuyển sĩ quan; chế độ chính sách, thời hạn luân chuyển, biệt phái bảo đảm công bằng.
    Về vấn đề này, UBTVQH xin báo cáo như sau: việc thực hiện chế độ, chính sách đối với sĩ quan biệt phái được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 29 của Luật này. Đối với luân chuyển sĩ quan nhằm mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có hai trường hợp: trường hợp luân chuyển trong nội bộ ngành công an được thực hiện thông qua điều động, các chế độ, chính sách được thực hiện theo quy định của Luật này; trường hợp luân chuyển ra ngoài ngành công an được thực hiện theo các quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ. Do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của dự thảo Luật.
    - Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định đối với sĩ quan sau khi hoàn thành nhiệm vụ biệt phái thì được bổ nhiệm chức vụ và hưởng chế độ, chính sách như khi biệt phái.
    Tiếp thu ý kiến ĐBQH, UBTVQH đã chỉ đạo bổ sung đoạn 2 khoản 2 Điều 29 như dự thảo Luật tiếp thu, chỉnh lý.
    13. Về hạn tuổi phục vụ của hạ sĩ quan, sĩ quan Công an nhân dân (Điều 30)
    - Có ý kiến đề nghị cân nhắc quy định tại khoản 2, giao Bộ trưởng Bộ Công an quy định hạn tuổi phục vụ cao nhất của sĩ quan giữ chức vụ, chức danh.
    Tiếp thu ý kiến ĐBQH, UBTVQH đã chỉ đạo rà soát chỉnh lý như quy định của dự thảo Luật tiếp thu, chỉnh lý.
    - Một số ý kiến đề nghị quy định thời gian kéo dài không quá 05 năm, trừ trường hợp đặc biệt có thể kéo dài hơn để phù hợp với Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; quy định rõ trong thời gian kéo dài có giữ chức vụ quản lý.
    UBTVQH thấy rằng, CAND và Quân đội nhân dân là hai ngành lao động có tính chất đặc thù, tuy nhiên, tính chất đặc thù có sự khác nhau. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hạn tuổi phục vụ cao nhất của hai lực lượng không đồng nhất. Mặt khác, quy định như dự thảo Luật là trên cơ sở kế thừa quy định hiện hành và được thực hiện ổn định, phù hợp với yêu cầu, tính chất hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của ngành công an. Do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của dự thảo Luật.
    Về ý kiến đề nghị làm rõ quy định thời gian kéo dài có giữ chức vụ quản lý, UBTVQH thấy rằng, dự thảo Luật quy định về trường hợp và nguyên tắc được kéo dài hạn tuổi phục vụ, các nội dung cụ thể về kéo dài hạn tuổi phục vụ được quy định bằng văn bản dưới luật để bảo đảm sự thống nhất và linh hoạt trong từng thời điểm. Trên thực tế, theo quy định hiện hành, các trường hợp này không được giữ chức vụ quản lý. Do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của dự thảo Luật.
        14. Về chế độ, chính sách đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân nghỉ hưu, chuyển ngành, xuất ngũ, nghỉ theo chế độ bệnh binh, hy sinh, từ trần (Điều 41)
    Có ý kiến đề nghị cân nhắc bỏ quy định nghỉ theo chế độ bệnh binh vì pháp luật hiện hành không quy định.
    UBTVQH thấy rằng, hiện nay Bộ Công an vẫn đang thực hiện việc giải quyết chế độ, chính sách đối với bệnh binh xuất ngũ; mặt khác, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng vẫn có quy định về chế độ, chính sách đối với bệnh binh.
    Trên cơ sở nghiên cứu ý kiến của ĐBQH, UBTVQH đã chỉ đạo rà soát chỉnh lý như quy định của dự thảo Luật tiếp thu, chỉnh lý.
    15. Ngoài các nội dung trên, UBTVQH đề nghị cho bỏ Điều 45 (quy định sửa đổi) tại dự thảo Luật để Chính phủ nghiên cứu, trình Quốc hội xem xét, ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan đến tổ chức, bộ máy; đồng thời đã chỉ đạo rà soát, tiếp thu ý kiến ĐBQH, chỉnh lý một số nội dung cụ thể trong dự thảo Luật để bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật và chỉnh lý kỹ thuật văn bản, sắp xếp lại các nội dung cho phù hợp.
        Trên đây là Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Công an nhân dân (sửa đổi), Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin trân trọng báo cáo Quốc hội./.
     

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com