Chủ nhật, ngày 24/02/2019login
  • Tờ trình Luật Đầu tư công (sửa đổi)Góp ý

    Cơ quan ban hành: Chính phủ

    Mô tả: Tài liệu kèm theo Dự thảo Luật Đầu tư công (sửa đổi) được đăng tải lấy ý kiến nhân dân trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (tháng 1/2019)

  • Căn cứ Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2014; thực hiện Nghị quyết số 57/2018/QH14 ngày của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2018; Chính phủ trình Quốc hội dự án Luật Đầu tư công (sửa đổi), sau đây gọi tắt là dự án Luật, theo trình tự Quốc hội xem xét, thông qua tại 2 kỳ họp như sau:
    I. VỀ TÊN DỰ ÁN LUẬT VÀ SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT
    1. Về tên dự án Luật Đầu tư công (sửa đổi)
    Chính phủ đã có Tờ trình số 127/TTr-CP ngày 12 tháng 4 năm 2018 báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công. Sau khi các cơ quan thẩm tra của Quốc hội có ý kiến về việc chưa xem xét Tờ trình số 127/TTr-CP của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản số 552/TTg-KTTH ngày 24 tháng 4 năm 2018, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương có báo cáo rà soát tổng thể những vướng mắc, khó khăn trong thực thi các quy định liên quan đến đầu tư công, giao nhiệm vụ cho cơ quan chủ trì soạn thảo tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan.
    Sau khi tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật, phạm vi, nội dung sửa đổi, bổ sung của dự thảo Luật được mở rộng hơn so với phạm vi, nội dung của dự thảo Luật kèm theo Tờ trình số 127/TTr-CP, đã tác động, sửa đổi, bổ sung tới 69/108 điều, bãi bỏ 06 điều, bổ sung 04 điều mới, dẫn tới kết cấu của dự thảo Luật (mới) thay đổi, chỉ còn 106 điều. Trên cơ sở ý kiến thẩm định của Hội đồng thẩm định dự án Luật tại báo cáo số 200/BC-BTP ngày 14 tháng 8 năm 2018, Chính phủ thống nhất trình Quốc hội xem xét, quyết định đối với dự án Luật Đầu tư công (sửa đổi), thay thế cho dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công như đã trình tại Tờ trình số 127/TTr-CP và quy định tại Nghị quyết số 57/2018/QH14 của Quốc hội.
    2. Sự cần thiết xây dựng Luật Đầu tư công (sửa đổi)
    Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 đã được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2014 tại kỳ họp thứ 7 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015. Luật Đầu tư công là luật đầu tiên kể từ trước đến nay quy định những vấn đề liên quan đến quản lý các hoạt động đầu tư công, quản lý và sử dụng vốn đầu tư công. Việc Quốc hội thông qua Luật Đầu tư công đã tạo ra hệ thống pháp luật đồng bộ để quản lý toàn bộ quá trình đầu tư công, từ chủ trương đầu tư, thẩm định nguồn vốn đối với các chương trình, dự án sử dụng vốn đầu tư công; lập, thẩm định, phê duyệt kế hoạch đầu tư, triển khai thực hiện kế hoạch; theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch đầu tư công.
    Luật Đầu tư công có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ và hoàn chỉnh để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý hoạt động đầu tư và sử dụng vốn đầu tư công; khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư theo đúng mục tiêu, định hướng của chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước; chống thất thoát, lãng phí; bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quản lý đầu tư công. Đồng thời, Luật Đầu tư công đã thể hiện và cụ thể hóa được chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước đối với công tác quản lý nhà nước về đầu tư công, đã tạo ra hệ thống pháp luật đồng bộ để quản lý toàn bộ quá trình đầu tư công.
    Triển khai thực hiện Luật Đầu tư công và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương cơ sở nhận thức rõ hơn trách nhiệm của cơ quan, đơn vị mình; quán triệt các yêu cầu tăng cường quản lý đầu tư phát triển trong toàn bộ quá trình đầu tư công, từ chủ trương đầu tư, thẩm định nguồn vốn đối với các chương trình, dự án sử dụng vốn đầu tư công, lập, thẩm định, phê duyệt kế hoạch đầu tư, triển khai thực hiện kế hoạch, theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch đầu tư công. Đồng thời, với những quy định pháp lý rõ ràng, cụ thể của Luật là một bước tiến lớn bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng nguồn lực của Nhà nước, góp phần và tạo điều kiện để đẩy mạnh công cuộc phòng chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm trong đầu tư xây dựng cơ bản.
    Sau hơn 3 năm thực hiện Luật Đầu tư công, tuy đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng trong quá trình triển khai thực hiện Luật Đầu tư công và các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn còn tồn tại một số hạn chế, vướng mắc chủ yếu sau:
    (1) Khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện. Do lần đầu tiên xây dựng, ban hành và thực hiện Luật Đầu tư công nên không tránh khỏi những hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn. Việc hình thành nhiều quy trình mới, thủ tục phức tạp, dẫn tới các cơ quan, địa phương thực hiện khó nắm vững và thực hiện thống nhất các quy định của Luật, nhiều cơ quan, địa phương vẫn còn lúng túng, triển khai thực hiện một số quy định còn chưa phù hợp, một số nội dung không đúng với các quy định của pháp luật, trái thẩm quyền, mất nhiều thời gian để hoàn thiện thủ tục do hồ sơ dự án phải thông qua nhiều cấp nhiều cơ quan từ trung ương đến địa phương, thủ tục hành chính phức tạp, phân cấp trách nhiệm chưa triệt để...
    (2) Một số quy định trong Luật Đầu tư công quá cứng nhắc, hoặc chưa đầy đủ nên dẫn tới tình trạng các quy định đã không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, điển hình là trong công tác thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn, bố trí vốn không phù hợp với các nguyên tắc, tiêu chí được cấp có thẩm quyền quy định, tồn tại nhiều bất cập trong điều chỉnh dự án, điều chỉnh kế hoạch, giao vốn nhiều lần và kéo dài thời gian giao vốn; khó theo dõi, đánh giá, kiểm tra kế hoạch, chương trình, dự án.
    (3) Tồn tại một số điểm chưa thống nhất giữa Luật Đầu tư công với các luật khác như Luật Ngân sách nhà nước, Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Quy hoạch... Điều này đã gây sự lúng túng trong việc áp dụng các quy định pháp luật, ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng công tác chuẩn bị dự án, xây dựng dự án. Trong một số trường hợp, dự án chuẩn bị đầu tư và phê duyệt quyết định chủ trương đầu tư dự án, quyết định đầu tư dự án mang tính hình thức để có điều kiện được đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm.
    Thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu của Nghị quyết số 24/2016/QH14 ngày 08 tháng 11 năm 2016 của Quốc hội Khóa XIV về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 trong đó nhấn mạnh việc cơ cấu lại đầu tư công trên cơ sở “Tổ chức thực hiện hiệu quả kế hoạch đầu tư công trung hạn gắn với kế hoạch tài chính 5 năm 2016-2020 và kế hoạch vay, trả nợ công. Hoàn thiện thể chế quản lý đầu tư công theo thông lệ quốc tế, trong đó ưu tiên đổi mới cách thức thẩm định, đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư. Thực hiện cơ cấu lại đầu tư công gắn với cơ cấu lại tài chính công, cơ cấu lại ngân sách nhà nước và nợ công”, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý hiệu quả vốn đầu tư công và tạo thuận lợi trong quá trình triển khai thực hiện, tăng cường phân cấp, phân nhiệm, khắc phục những tồn tại, hạn chế, đặc biệt là phục vụ quá trình cơ cấu lại đầu tư công giai đoạn 2016-2020, định hướng 2025, việc sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Đầu tư công là cần thiết.

    II. MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG LUẬT
    Việc ban hành Luật Đầu tư công (sửa đổi) nhằm đảm bảo các mục tiêu, quan điểm chủ yếu sau:
    1. Tiếp tục thể chế hóa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là triển khai thực hiện các nhiệm vụ cơ cấu lại nền kinh tế theo Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01 tháng 11 năm 2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XII) và Nghị quyết số 24/2016/QH14 ngày 8 tháng 11 năm 2016 của Quốc hội Khóa XIV, trong đó trọng tâm là cơ cấu lại đầu tư công.
    2. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật về đầu tư công theo hướng thống nhất, đồng bộ với các luật có liên quan khác nhằm tăng cường quản lý chặt chẽ, hiệu quả các hoạt động đầu tư công và nguồn vốn đầu tư công; tiếp tục khắc phục thêm một bước tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư theo đúng mục tiêu, định hướng của chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
    3. Tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, bất cập liên quan đến các quy định pháp luật về đầu tư công, góp phần đẩy nhanh tốc độ giải ngân vốn đầu tư công gắn với đẩy mạnh phân cấp, tăng cường trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý hoạt động đầu tư công như: phân cấp điều chỉnh dự án, phân cấp phê duyệt chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư gắn với trách nhiệm của từng cấp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý sử dụng vốn nhà nước đối với toàn bộ quá trình đầu tư. 
    4. Nâng cao tính công khai, minh bạch trong quản lý đầu tư công gắn với tăng cường theo dõi, giám sát, thanh tra, kiểm tra các hoạt động đầu tư công, sử dụng nguồn vốn đầu tư công thông qua đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đầu tư công, gắn với quá trình xây dựng Chính phủ điện tử và tiến tới Chính phủ số, góp phần tích cực vào việc chống thất thoát, lãng phí.
    5. Gắn liền với quá trình cơ cấu lại nền kinh tế nói chung và cơ cấu lại đầu tư công nói riêng theo hướng sử dụng hiệu quả nguồn lực hạn hẹp của nhà nước, tạo điều kiện khuyến khích sự sự tham gia đầu tư của khu vực tư nhân, trong và ngoài nước, thông qua các hình thức đầu tư phù hợp, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, phục vụ tăng trưởng nhanh, bền vững, gắn với nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
    III. CĂN CỨ VÀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT
    1. Căn cứ xây dựng Luật
    - Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2014;
    - Nghị quyết số 57/2018/QH14 ngày 8 tháng 6 năm 2018 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2018;
    - Nghị quyết số 109/NQ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2018 của Chính phủ và các Nghị quyết chỉ đạo điều hành của Chính phủ; văn bản số 552/TTg-KTTH ngày 24 tháng 4 năm 2018.
    2. Quá trình xây dựng Luật
    Tiếp theo Tờ trình số 127/TTr-CP ngày 12 tháng 4 năm 2018 báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản số 552/TTg-KTTH ngày 24 tháng 4 năm 2018, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương có báo cáo rà soát tổng thể những vướng mắc, khó khăn trong thực thi các quy định liên quan đến đầu tư công, giao nhiệm vụ cho cơ quan chủ trì soạn thảo tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan.
    Cơ quan chủ trì soạn thảo đã tổng hợp 597 ý kiến của 37 bộ, cơ quan trung ương và 50 địa phương, trong đó, có 329 ý kiến liên quan đến vướng mắc của Luật Đầu tư công, tổ chức nghiên cứu, tiếp thu 276 ý kiến, chiếm 83% tổng số ý kiến liên quan đến Luật Đầu tư công, tổ chức 03 hội thảo tại Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh để lắng nghe các ý kiến góp ý của các bộ, cơ quan trung ương, 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các chuyên gia trong và ngoài nước để hoàn thiện dự thảo Luật.
    Sau khi tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật; trên cơ sở ý kiến thẩm định của Hội đồng thẩm định dự án Luật tại báo cáo số 200/BC-BTP ngày 14 tháng 8 năm 2018, cơ quan chủ trì soạn thảo đã trình Chính phủ thông qua dự án Luật, trình Quốc hội xem xét, quyết định.
    IV. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ THẢO LUẬT
    1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Luật Đầu tư công (sửa đổi)
    Luật Đầu tư công (sửa đổi) quy định việc quản lý nhà nước về đầu tư công; quản lý và sử dụng vốn đầu tư công; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư công. Luật Đầu tư công sửa đổi áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động đầu tư công, quản lý và sử dụng vốn đầu tư công.
    2. Phạm vi sửa đổi, bổ sung của dự thảo Luật
    Dự thảo Luật Đầu tư công (sửa đổi) tập trung sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến 03 nhóm chính sách chủ yếu, trên cơ sở cụ thể hóa hơn những vấn đề chính sách đã nêu tại Tờ trình số 127/TTr-CP, bổ sung thêm một số nhóm chính sách trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu ý kiến đề xuất, góp ý của các bộ, ngành, địa phương, sắp sếp, tổng hợp lại các nhóm chính sách cụ thể như sau:
    (1) Nhóm chính sách về quy định chung, trong đó, dự thảo Luật đã tiếp thu các ý kiến góp ý của các cơ quan liên quan, các địa phương về thống nhất trong giải thích từ ngữ, nhất là định nghĩa về nguồn vốn đầu tư công; các quy định chung về phân loại nguồn vốn; phân loại dự án; phân loại kế hoạch đầu tư công; các cơ quan, đơn vị có liên quan đến hoạt động đầu tư công... Nội dung này mang ý nghĩa rất quan trọng, nhằm đảm bảo sự đồng bộ, phù hợp với các luật có liên quan, nhất là Luật Ngân sách nhà nước, đồng thời quyết định đến những trình tự, thủ tục kèm theo đối với từng vấn đề chung đã được sửa đổi, bổ sung.
    (2) Nhóm chính sách về quản lý dự án, trong đó, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung căn bản quy trình, trình tự, thủ tục, thẩm quyền về lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư, quyết định dự án theo hướng đẩy mạnh phân cấp, tăng cường trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan, đồng thời đẩy mạnh đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm bớt, rút gọn hoặc bãi bỏ các thủ tục không cần thiết, mất nhiều thời gian nhưng không giúp cải thiện được chất lượng công tác chuẩn bị dự án.
    (3) Nhóm chính sách về quản lý kế hoạch đầu tư công, trong đó, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung quy trình, trình tự, thủ tục về lập, thẩm định, quyết định giao kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm. Đáng chú ý là dự thảo Luật đã bổ sung phân loại và quy trình xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn 03 năm theo phương pháp cuốn chiếu, phù hợp với quy định tại Luật Ngân sách nhà nước, đảm bảo sự đồng bộ giữa kế hoạch đầu tư công và kế hoạch tài chính, ngân sách cả trung hạn và hằng năm.
    3. Những chính sách sửa đổi, bổ sung trong dự thảo Luật:
    Trên cơ sở quan điểm, mục tiêu, phạm vi, đối tượng, nhóm vấn đề chính sách được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung nêu trên, dự án Luật được xây dựng trên cơ sở cụ thể hóa 18 vấn đề chính sách đề xuất sửa đổi, bổ sung. Một số chính sách đã được đề cập tại Tờ trình số 127/TTr-CP nhưng được nghiên cứu sâu hơn, đề xuất sửa đổi, bổ sung toàn diện hơn, xuyên suốt trong các điều có liên quan của cả dự án Luật. Cụ thể như sau:
    (1) Vấn đề 1: sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến khái niệm và giải thích từ ngữ, làm căn cứ để xác định các quy trình, thủ tục, trình tự, thẩm quyền trong dự thảo Luật, như sửa đổi, bổ sung các khái niệm về dự án đầu tư công, dự án đầu tư công khẩn cấp, vốn đầu tư công, chủ trương đầu tư, nhiệm vụ quy hoạch, nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư..., trong đó, quan trọng nhất là khái niệm về vốn đầu tư công được sửa đổi theo hướng 02 nguồn vốn, trong cân đối ngân sách và ngoài cân đối ngân sách, qua đó, giảm bớt các thủ tục đối với các nguồn vốn, nhất là vốn được để lại cho đầu tư của các đơn vị sự nghiệp công lập. Ngoài ra, dự thảo Luật cũng đề xuất điều chỉnh các khái niệm về dự án đầu tư công khẩn cấp theo hướng quy định cụ thể các tình huống và trường hợp đặc thù do Chính phủ quyết định.
    (2) Vấn đề 2: liên quan đến đối tượng đầu tư công, dự thảo đề xuất bổ sung quy định liên quan đến nhiệm vụ quy hoạch để phù hợp với Luật Quy hoạch, đối tượng hỗ trợ lãi suất, phí quản lý, cấp vốn điều lệ cho các ngân hàng chính sách, hỗ trợ các đối tượng chính sách khác theo quy định nhằm đảm bảo đầy đủ các quy định pháp lý đối với một số đối tượng đã thực hiện đầu tư trong những năm qua nhưng chưa có quy định pháp luật.
    (3) Vấn đề 3: đề xuất điều chỉnh tiêu chí dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A không phân biệt tổng mức đầu tư theo hướng không quy định đối với dự án thuộc địa bàn di tích quốc gia đặc biệt, sửa đổi, bổ sung tiêu chí về mức độ “tuyệt mật” đối với dự án thuộc lĩnh vực quốc phòng an ninh.
    (4) Vấn đề 4: điều chỉnh thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án, trong đó, đề xuất phân cấp cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm A sử dụng toàn bộ vốn của địa phương; Ủy ban nhân dân các cấp quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm B, C; bổ sung quy định về thẩm quyền đối với dự án của địa phương sử dụng nguồn vốn hỗn hợp thuộc nhiều cấp ngân sách khác nhau...
    (5) Vấn đề 5: điều chỉnh quy định về điều kiện quyết định chủ trương đầu tư, trong đó, bổ sung phân loại các nhiệm vụ, chương trình, dự án không phải thực hiện quyết định chủ trương đầu tư đối với một số trường hợp như dự án khẩn cấp, dự án thuộc danh mục của chương trình đầu tư công đã được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư toàn bộ chương trình, các trường hợp đặc biệt khác theo quy định của Chính phủ...
    (6) Vấn đề 6: điều chỉnh, giảm bớt, rút gọn trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư các chương trình, dự án đầu tư công gắn với phân cấp triệt để, cấp nào quản lý dự án, cấp đó có trách nhiệm quyết định chủ trương đầu tư dự án; bổ sung quy định về trình tự, thủ tục đối với dự án đầu tư công thực hiện ở nước ngoài như các dự án của Bộ Ngoại giao, dự án tại Lào... theo hướng giao Chính phủ hướng dẫn với các trình tự, thủ tục đặc thù.
    (7) Vấn đề 7: điều chỉnh quy định về thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn theo hướng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ thực hiện nhiệm vụ này đối với các chương trình, dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tất cả các trường hợp còn lại được tích hợp từ một thủ tục riêng thành một phần trong thủ tục thẩm định hồ sơ đề xuất dự án, đồng thời, phân cấp triệt để cho các bộ, ngành, địa phương tự thực hiện thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn.
    (8) Vấn đề 8: bổ sung quy định về Điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư trong trường hợp khi điều chỉnh quyết định đầu tư dự án làm tăng quy mô, vượt tổng mức đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt tại quyết định chủ trương đầu tư ban đầu, giải quyết căn bản vấn đề vướng mắc đối với điều chỉnh dự án của các bộ, ngành, địa phương hiện nay.
    (9) Vấn đề 9: bổ sung quy định về trình tự lập, thẩm định, quyết định tổng mức đầu tư hoặc tổng dự toán đối với nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, nhiệm vụ quy hoạch làm cơ sở để bố trí vốn trong kế hoạch đầu tư trung hạn và hằng năm, tạo sự linh hoạt trong triển khai nhiệm vụ này trong cả giai đoạn 5 năm, không bó cứng trong năm đầu tiên của chu kỳ kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm.
    (10) Vấn đề 10: sửa đổi, bổ sung quy định về điều chỉnh chương trình, dự án, nhất là các dự án sau điều chỉnh có thay đổi phân loại, như từ nhóm B lên nhóm A, từ nhóm A lên quan trọng quốc gia, gắn với thẩm quyền quyết định đầu tư dự án tương ứng với từng loại dự án sau khi điều chỉnh.
    (11) Vấn đề 11: Phân loại kế hoạch đầu tư công, trong đó bổ sung quy định về kế hoạch đầu tư công trung hạn 03 năm thực hiện theo phương thức cuốn chiếu. Về cơ bản, kế hoạch đầu tư 03 năm để phục vụ công tác tham khảo, dự báo nguồn lực dự kiến thực hiện trong 02 năm tiếp theo nên không phát sinh thêm thủ tục, không mất thêm thời gian, phù hợp với Luật Ngân sách nhà nước, tạo điều kiện điều hành kế hoạch đầu tư công trung hạn một cách linh hoạt, hiệu quả, bám sát với kế hoạch tài chính, ngân sách quốc gia.
    (12) Vấn đề 12: điều chỉnh quy định liên quan đến điều kiện chương trình, dự án được bố trí vốn trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm, trong đó, giảm bớt điều kiện đối với việc bố trí vốn cho nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư và nhiệm vụ quy hoạch, tạo điều kiện chủ động, linh hoạt cho các bộ, ngành, địa phương thực hiện tốt các nhiệm vụ này.
    (13) Vấn đề 13: sửa đổi quy định về thủ tục phê duyệt và giao kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm theo hướng đẩy mạnh phân cấp, tăng cường hậu kiểm, Thủ tướng Chính phủ giao tổng mức kế hoạch đầu tư vốn cho các bộ, ngành, địa phương kèm theo nhiệm vụ và tiêu chí, nguyên tắc, các đơn vị chịu trách nhiệm phân bổ chi tiết và báo cáo lại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để theo dõi, giám sát, kiểm tra. Riêng đối với nguồn vốn được để lại cho đầu tư ngoài cân đối ngân sách của các bộ, ngành, địa phương, người đứng đầu cơ quan, chủ tịch UBND tỉnh chịu trách nhiệm toàn bộ liên quan đến kế hoạch đầu tư thuộc nguồn vốn này, định kỳ báo cáo Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để theo dõi, giám sát và báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
    (14) Vấn đề 14: sửa đổi quy định liên quan đến điều chỉnh kế hoạch đầu tư công theo hướng phân cấp, do người đứng đầu cơ quan trung ương và chủ tịch UBND tỉnh chịu trách nhiệm điều chỉnh, đảm bảo đúng quy định pháp luật, báo cáo lại Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để theo dõi, giám sát.
    (15) Vấn đề 15: về thời gian thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công, dự thảo Luật đề xuất sửa đổi theo hướng giải ngân trong 1 năm nhằm đảm bảo kỷ cương ngân sách và tăng cường đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công. Việc kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân đối với trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền quyết định theoquy định của Chính phủ.
    (16) Vấn đề 16:bổ sung quy định về xây dựng cơ sở dữ liệu về đầu tư công và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đầu tư công nhằm hướng tới phù hợp với lộ trình xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số và tăng cường tính công khai, minh bạch, hiệu quả trong quản lý đầu tư công
    (17) Vấn đề 17: bổ sung quy định liên quan tới nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực Hội đồng nhân dân các cấp được phép thực hiện các nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cùng cấp liên quan đến các hoạt động đầu tư công theo quy định của dự án Luật trong khoảng thời gian giữa các kỳ họp, báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp tại kỳ họp gần nhất.
    (18) Vấn đề 18: Điều chỉnh các quy định cho phù hợp với các luật khác có liên quan, như Luật Quy hoạch, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Xây dựng, Luật Đất đai, nhất là Luật Bảo vệ môi trường liên quan đến quy định về báo cáo đánh giá sơ bộ tác động môi trường tại giai đoạn quyết định chủ trương đầu tư...
    III. MỤC TIÊU, NỘI DUNG CỦA CHÍNH SÁCH, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CỦA DỰ THẢO LUẬT ĐẦU TƯ CÔNG (SỬA ĐỔI)
    1. Sửa đổi, bổ sung giải thích từ ngữ
    a) Mục tiêu:
    Sửa đổi, bổ sung các khái niệm, định nghĩa và từ ngữ cần phải giải thích lại cho phù hợp với thực tiễn triển khai, tạo điều kiện để thực hiện nhanh, chặt chẽ, hiệu quả và đầy đủ các trình tự, thủ tục có liên quan theo đúng quy định, tạo cơ sở về thuật ngữ và pháp lý để áp dụng trong các điều khoản của Luật, tạo sự thống nhất giữa Luật Đầu tư công (sửa đổi) với các luật có liên quan, nhất là Luật Ngân sách nhà nước.
    b) Đề xuất nội dung chính sách:
    - Bổ sung nội dụng dự kiến nguồn lực đối với các khái niệm về báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư, báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, và nguồn lực đối với khái niệm báo cáo nghiên cứu khả thi nhằm tăng tính đầy đủ và có căn cứ của các loại báo cáo trên, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quyết định chủ trương đầu tư và quyết định dự án phù hợp với nguồn vốn và khả năng cân đối vốn của các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
    - Sửa đổi thuật ngữ “bộ, ngành” thành “bộ, cơ quan trung ương” nhằm thể hiện tính bao quát của thuật ngữ, bỏ thuật ngữ ngành không đại diện cho một tổ chức cụ thể, khi tham chiếu đến thuật ngữbộ, cơ quan trung ương thì có thể hiểu được ngay đơn vị mình thuộc phạm vi điều chỉnh của thuật ngữ này, mặc dù đơn vị đó không đại diện cho một ngành cụ thể trong nền kinh tế.
    - Bãi bỏ thuật ngữ “chương trình mục tiêu” và ghép chung vào thuật ngữ có tính bao quát hơn là “chương trình đầu tư công”, theo đó, các chương trình đầu tư phải kèm theo danh mục dự án đầu tư công cụ thể. Sửa đổi này có tác động tích cực đến công tác quản lý đầu tư công hiệu quả hơn, tránh phân tán mục tiêu trong bố trí vốn đầu tư, đồng thời, tăng trách nhiệm của các cơ quan quản lý chương trình đầu tư công và các đơn vị thực hiện trong việc bố trí vốn cho các dự án thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể của chương trình, cũng như làm tăng tính chủ động, linh hoạt trong điều hành các chính sách mới, tránh bó cứng chính sách trong thời gian dài của kế hoạch đầu tư công trung hạn.
    - Sửa đổi, bổ sung định nghĩa về dự án đầu tư công theo hướng bao quát cả mục tiêu, nội dung, nguồn lực và thời gian đối với thuật ngữ dự án đầu tư công, khắc phục được tình trạng tạo vòng lặp luẩn quẩn nếu như để nguyên định nghĩa cũ “dự án đầu tư công là dự án sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư công”, trong đó không nêu được nội hàm của thuật ngữ dự án.
    - Sửa đổi, bổ sung định nghĩa về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) nhằm phân biệt rõ ràng giữa đầu tư công thuần túy với đầu tư theo đối tác công tư, phù hợp với thông lệ quốc tế về hình thức đầu tư đối tác công tư cũng như tạo điều kiện để xây dựng Luật về đầu tư theo đối tác công tư, tránh chồng chéo giữa các luật.
    - Sửa đổi, bổ sung định nghĩa về nợ đọng xây dựng cơ bản, theo đó về phạm vi khung thời gian để xác định nợ xây dựng cơ bản được nới rộng hơn, từ hằng năm thành trung hạn 03 năm và 05 năm, nhằm tạo sự chủ động, linh hoạt trong thực hiện dự án, đẩy nhanh được tiến độ hoàn thành dự án, tăng khả năng giải ngân vốn đầu tư công ngay từ giai đoạn đầu của chu kỳ kế hoạch hằng năm do đã có khối lượng thực hiện tích lũy từ năm trước, tiết kiệm chi phí về máy móc, thiết bị, nhân công nhưng vẫn kiểm soát được số vốn bố trí cho dự án phù hợp với tổng mức đầu tư dự án đã được phê duyệt và dự kiến bố trí vốn trong kế hoạch đầu tư công trung hạn.
    - Sửa đổi, bổ sung khái niệm về vốn đầu tư công, theo đó phù hợp với Luật Ngân sách nhà nước về vốn ngân sách nhà nước, bao gồm cả vốn trái phiếu Chính phủ, công trái quốc gia, vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài. Đồng thời, bổ sung các khái niệm chi tiết đối với từng nguồn vốn như vốn ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, ngân sách trung ương bổ sung có mục tiêu cho các địa phương, vốn khác của nhà nước chưa cân đối trong ngân sách nhà nước... Việc sửa đổi khái niệm vốn đầu tư công như dự thảo Luật sẽ có tác động tích cực đến việc phân loại các dự án và phân loại kế hoạch, theo đó, đơn giản hóa được các trình tự, thủ tục liên quan, đồng thời, có sự phân biệt rõ ràng về trình tự, thủ tục giữa các nguồn vốn, tránh chồng chéo, hiểu không thống nhất, cũng như tạo điều kiện để phân cấp được triệt để hơn cho các cấp trong triển khai thực hiện.
    - Bổ sung các khái niệm về chủ trương đầu tư, nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, nhiệm vụ quy hoạch nhằm bổ sung các căn cứ về thuật ngữ và pháp lý áp dụng tại các điều khoản của dự thảo Luật quy định về trình tự, thủ tục có liên quan đến các thuật ngữ nêu trên.
    c) Kiến nghị:
    Nhằm tăng tính rõ ràng hơn và bao quát, chính xác hơn đối với các thuật ngữ được sử dụng trong dự thảo Luật, tạo điều kiện để xây dựng, sửa đổi, bổ sung các điều khoản liên quan đến trình tự, thủ tục, thẩm quyền... có liên quan đến các thuật ngữ đó một cách rõ ràng, minh bạch, Chính phủ kiến nghị sửa đổi, bổ sung những nội dung trên tại Điều 4 của dự thảo Luật.
    2. Bổ sung đối tượng đầu tư công:
    a) Mục tiêu:
    Do Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 chưa quy định đối với những đối tượngphục vụ công tác lập, thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt, công bố và điều chỉnh quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch; đầu tư đền bù, tái định cư, giải phóng mặt bằng để thực hiện các công trình, dự án đầu tư công; cấp bù lãi suất tín dụng ưu đãi, phí quản lý; cấp vốn điều lệ cho các ngân hàng chính sách, quỹ và hỗ trợ các đối tượng chính sách khác việc sửa đổi, bổ sung các đối tượng đầu tư công là cần thiết, nhằm đảm bảo tính đồng bộ, tạo căn cứ pháp lý thống nhất để triển khai.
    b) Đề xuất nội dung chính sách:
    - Bổ sung đối tượng đầu tư phục vụ công tác lập, thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt, công bố và điều chỉnh quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch nhằm tạo sự thống nhất giữa Luật Đầu tư công với Luật Quy hoạch, qua đó, có cơ sở pháp lý để triển khai công tác lập, thẩm định, quyết định nhiệm vụ và dự toán nhiệm vụ quy hoạch, cũng như công tác phân bổ vốn, lập, thẩm đinh, quyết định và giao kế hoạch đầu tư công đối với nhiệm vụ quy hoạch.
    - Bổ sung đối tượng đầu tư đền bù, tái định cư, giải phóng mặt bằng để thực hiện các công trình, dự án đầu tư công, qua đó, tạo cơ sở pháp lý đối với trường hợp, cấp có thẩm quyền quyết định việcthực hiện hợp phần đền bù, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng độc lập, nhằm tạo mặt bằng sạch, góp phần đẩy nhanh triển khai các dự án đầu tư công, xây dựng các công trình công ích, của nhà nước.
    - Bổ sung đối tượng cấp bù lãi suất tín dụng ưu đãi, phí quản lý; cấp vốn điều lệ cho các ngân hàng chính sách, quỹ và hỗ trợ các đối tượng chính sách khác theo quy định của pháp luật hiện hành để tạo cơ sở pháp lý đối với hoạt động cấp bù lãi suất, phí quản lý, vốn điều lệ cho các tổ chức của nhà nước thực hiện nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền quyết định. Đồng thời, tạo thuận lợi để phục vụ cho công tác điều hành chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đối với một số chính sách đặc thù, sử dụng vốn đầu tư công.
    c) Kiến nghị:
    Nhằm đảm bảo tính đồng bộ, tạo căn cứ pháp lý thống nhất để triển khai đối với các hoạt động đầu tư có dự án hoặc không có dự án sử dụng vốn đầu tư công, Chính phủ kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến đối tượng đầu tư công như tại Điều 5 dự thảo Luật.
    3. Tiêu chí phân loại dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A không phân biệt tổng mức đầu tư.
    a) Mục tiêu:
    Nhằm quy định tiêu chí đối với loại hình dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A không phân biệt tổng mức đầu tư một cách hợp lý hơn, phù hợp với thực tiễn triển khai các hoạt động đầu tư công, cũng như tạo điều kiện để cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp cho địa phương trong việc quyết định chủ trương đầu tư.
    b) Đề xuất nội dung chính sách
    Theo quy định tại điểm a,b và c khoản 1 Điều 8 Luật Đầu tư công, thì dự án tại địa bàn có di tích quốc gia đặc biệt, dự án tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh và dự án thuộc lĩnh vực bảo vệ quốc phòng, an ninh có tính chất bảo mật quốc gia là dự án nhóm A không phân biệt tổng mức đầu tư. Thực tế đã phát sinh vướng mắc, có rất nhiều dự án đầu tư tại địa bàn có di tích quốc gia đặc biệt mặc dù có quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản, công trình hỗ trợ khu di tích... nhưng vẫn phải trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư. Đồng thời, các dự án di tích còn chịu điều chỉnh bởi Luật Di sản văn hóa, Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ môi trường và các quy định khác; do là dự án nhóm A nên phải trình các cơ quan chuyên môn thuộc các bộ, ngành để thẩm định theo quy định của các Luật này. Do đó, quy trình thủ tục thực hiện chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự án di tích không kể mức vốn, nguồn vốn (ngân sách trung ương hay ngân sách địa phương) là rất phức tạp, qua nhiều cấp quản lý, mất nhiều thời gian để chuẩn bị và thực hiện. Vì vậy, có rất nhiều địa phương đặc biệt là những địa phương có nhiều di sản thế giới, di tích quốc gia đặc biệt như Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ninh...đều đã kiến nghị sửa đổi quy định phân loại dự án tại địa bàn có di tích quốc gia đặc biệt. Đối với các dự án trên địa bàn có di tích quốc gia đặc biệt, việc sửa đổi như giải pháp nêu trên sẽ góp phần rút ngắn đáng kể thời gian chuẩn bị đầu tư, đồng thời không phải thực hiện trình tự, thủ tục trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư; tạo thuận lợi cho các địa phương, nhất là các địa phương có nhiều di tích quốc gia đặc biệt, di sản thế giới trong việc thực hiện và quản lý dự án đầu tư công có liên quan.
    Đối với dự án đầu tư tại các địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh: thực tế, rất khó xác định địa bàn đặc biệt quan trọng quốc gia vì địa bàn quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh và các địa bàn được bảo vệ bí mật, không được công bố công khai rộng rãi, dẫn đến khó phân loại dự án cho đối tượng này. Tương tự như trên, đối với các dự án thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh nếu được sửa đổi, bổ sung như giải pháp nêu trên cũng sẽ được rút ngắn thời gian chuẩn bị đầu tư, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm chi phí chuẩn bị đầu tư, nâng hiệu quả về thời gian và kinh phí...
    Khi tổ chức đánh giá quá trình thực hiện Luật Đầu tư công, một số ý kiến cho rằng tiêu chí dự án quan trọng quốc gia có tổng mức đầu tư từ 10.000 tỷ đồng trở lên là chưa hợp lý, đồng thời, kiến nghị sửa đổi tiêu chí dự án quan trọng quốc gia, nâng từ 10.000 tỷ đồng lên 35.000 tỷ đồng.
    Lý do là theo Nghị quyết số 05/1997/QH10 quy mô là 10.000 tỷ đồng, tương đương 3,2% GDP theo giá hiện hành; theo Nghị quyết số 66/2006/QH11 quy mô là 20.000 tỷ đồng, tương đương 1,9% GDP theo giá hiện hành; theo Nghị quyết số 49/2010/QH12 thì quy mô là 35.000 tỷ đồng, tương đương 1,6% GDP theo giá hiện hành. Tuy nhiên, tại thời điểm thông qua Luật Đầu tư công (năm 2014), với quy mô 10.000 tỷ đồng thì chỉ còn tương đương 0,3% GDP theo giá hiện hành. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2018 ước khoảng 5.555 nghìn tỷ đồng, tăng gấp 17,7 lần so với năm 1997 (GDP hiện hành năm 1997 là 313,623 nghìn tỷ đồng, theo số liệu của Niên giám thống kê).
    Như vậy, nếu so sánh với quy mô nền kinh tế thì tiêu chí xác định dự án quan trọng quốc gia có xu hướng ngày càng nhỏ lại, chưa phù hợp với tiến trình phát triển của nền kinh tế. Việc sửa đổi tiêu chí dự án quan trọng quốc gia lên mức 35.000 tỷ đồng sẽ đạt mức tương đương khoảng 0,6% GDP theo giá hiện hành, cao gấp 3,5 lần so với mức cũ, phù hợp với tiến trình phát triển của nền kinh tế, các dự án quan trọng quốc gia cần phải trở thành những dự án thực sự quan trọng, quy mô lớn, có tầm ảnh hưởng và sức lan tỏa phát triển mạnh trong cả nền kinh tế, đẩy nhanh tiến độ thực hiện đột phá chiến lược về kết cấu hạ tầng.
    Nhằm đảm bảo tính tương quan và đồng bộ, các dự án nhóm A, B, C cũng được đề xuất điều chỉnh tương ứng tăng lên khoảng 3,5 lần so với mức vốn được quy định hiện hành. Việc điều chỉnh này không làm ảnh hưởng đến các quy định về thẩm quyền của các cá nhân, cơ quan có liên quan đối với từng phân loại dự án.
    c) Kiến nghị:
    Qua nghiên cứu, phân tích tác động của các giải pháp nêu trên, cân nhắc giữa tác động tích cực và tác động tiêu cực, Chính phủ kiến nghị sửa đổi, bổ sung những nội dung liên quan như tại các Điều số 7, 8, 9, 10dự thảo Luật.
    4. Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án.
    a) Mục tiêu:
    Nhằm mục tiêu tăng cường cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp và tạo sự chủ động cho các cơ quan cấp dưới, cơ quan thi hành thực hiện nhiệm vụ được giao trong việc quyết định chủ trương đầu tư các chương trình, dự án đầu tư công. Thông qua đó, góp phần nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị dự án, rút ngắn thời gian quyết định chủ trương đầu tư, tiết kiệm chi phí, thời gian.
    b) Đề xuất nội dung chính sách:
    Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 54/2017/QH14 về cơ chế đặc thù cho Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó quy định Hội đồng nhân dân thành phố được quyền quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án nhóm A sử dụng toàn bộ vốn của địa phương. Đây là một quyết định đúng đắn, nhằm tạo điều kiện chủ động cho địa phương quyết định chủ trương đầu tư đối với những chương trình, dự án lớn, có tính chất lan tỏa và tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Qua công tác đánh giá quá trình thực hiện Luật Đầu tư công, nhiều địa phương, nhất là các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng... đều có kiến nghị cho phép áp dụng quy định này đối với các địa phương.
    Trong thời gian qua, việc quy định Hội đồng nhân dân các cấp quyết định chủ trương đầu tư các dự án nhóm B, dự án trọng điểm nhóm C gây nhiều khó khăn, nhất là về thời gian, phụ thuộc rất nhiều vào các kỳ họp của Hội đồng nhân dân, theo quy định là Hội đồng nhân dân các cấp họp 2 năm một lần. Điều này đã làm giảm tính kịp thời, hiệu quả của công tác quyết định chủ trương đầu tư. Trong khi đó, phần lớn các dự án đầu tư công tại các địa phương là dự án nhóm B, nên việc phải làm các thủ tục để trình Hội đồng nhân dân quyết định chủ trương đầu tư rất phức tạp và mất nhiều thời gian, ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ thực hiện dự án.
    Còn khá nhiều vướng mắc đối với thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án sử dụng nhiều nguồn vốn thuộc nhiều cấp ngân sách khác nhau, gây rất nhiều lúng túng trong triển khai thực hiện. Trong một số trường hợp, hội đồng nhân dân cấp huyện, xã không đủ năng lực để quyết định chủ trương đầu tư, chưa có quy định nào để tạo điều kiện cho hội đồng nhân dân có thể báo cáo cơ quan có thẩm quyền cấp trên, quyết định chủ trương đầu tư.
    Tại các điều 29, 30 và 31 Luật Đầu tư công quy định các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách địa phương của các cấp khác nhau (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã) có trình tự lập, thẩm định và quyết định chủ trương đầu tư khác nhau. Cụ thể:
    - Điều 29 quy định trình tự lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư các dự án nhóm B và dự án trọng điểm nhóm C của các cấp do Hội đồng nhân dân các cấp quyết định chủ trương đầu tư;
    - Điều 30 quy định dự án nhóm C sử dụng vốn ngân sách cấp tỉnh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư;
    - Điều 31 quy định dự án nhóm C sử dụng vốn ngân sách cấp huyện, cấp xã do Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã quyết định chủ trương đầu tư.
    Như vậy, đối với dự án do cấp huyện quản lý sử dụng một phần ngân sách cấp tỉnh, một phần ngân sách cấp huyện sẽ phải do cả Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (đối với dự án nhóm B và dự án trọng điểm nhóm C, theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 29) hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (đối với dự án nhóm C, theo quy định tại khoản 4 Điều 30 và khoản 1 Điều 31) quyết định chủ trương đầu tư; hoặc một dự án do cấp xã quản lý sử dụng một phần vốn ngân sách cấp tỉnh, một phần vốn ngân sách cấp huyện và một phần vốn ngân sách cấp xã sẽ phải do cả Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã (đối với dự án nhóm B và dự án trọng điểm nhóm C, theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 29) hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã (đối với dự án nhóm C, theo quy định tại khoản 4 Điều 30, khoản 1 và khoản 2 Điều 31) quyết định chủ trương đầu tư.
    Việc sửa đổi, bổ sung sẽ tạo điều kiện chủ động, linh hoạt cho các cấp dưới trong việc quyết định chủ trương đầu tư, phù hợp với mục tiêu tăng cường phân cấp cho cấp dưới thực hiện nhiệm vụ được giao, phù hợp với quy định tại Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương “Căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thể của địa phương, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
    Đồng thời, thông qua quy định thống nhất đối với các loại chương trình, dự án, ngay cả khi sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau sẽ có tác động tích cực trong cách hiểu thống nhất, đơn giản hóa thủ tục hành chính, theo hướng cấp nào quản lý dự án cấp đó quyết định chủ trương đầu tư, ủy ban nhân dân sẽ có điều kiện chủ động, linh hoạt, quyết định kịp thời chủ trương đầu tư dự án cấp bách của địa phương, thu gọn các tình huống khác nhau trong quyết định chủ trương đầu tư, loại bỏ được tình trạng 1 dự án được nhiều cấp quyết định chủ trương đầu tư và không xác định được cấp nào chịu trách nhiệm chính trong quyết định chủ trương đầu tư.
    c) Kiến nghị:
    Qua nghiên cứu, phân tích tác động của các giải pháp nêu trên, cân nhắc giữa tác động tích cực và tác động tiêu cực, Chính phủ kiến nghị sửa đổi, bổ sung các nội dung liên quan như tại Điều 17 dự thảo Luật.
    5. Điều kiện quyết định chủ trương đầu tư
    a) Mục tiêu:
    Nhằm khắc phục những bất cập trong công tác quyết định chủ trương đầu tư đối với một số dự án có tính chất đặc biệt, đồng thời, rút gọn được thủ tục hành chính, tiết kiệm thời gian, kinh phí, nâng cao chất lượng công tác quản lý các hoạt động đầu tư công và sử dụng nguồn vốn đầu tư công.
    b) Đề xuất nội dung chính sách:
    Quy định về chủ trương đầu tư đã góp phần quản lý chặt chẽ, hiệu quả hơn đối với các hoạt động đầu tư công và sử dụng nguồn vốn đầu tư công. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, do quy định quá cứng nhắc nên đã xuất hiện một số bất cập, nút thắt chưa được giải quyết, cụ thể là:
    - Vốn chuẩn bị đầu tư chính là để thực hiện các công việc cần thiết như xây dựng hồ sơ, khảo sát, thiết kế sơ bộ... để hoàn thiện hồ sơ đề xuất chủ trương đầu tư hoặc báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, sau đó để quyết định chủ trương đầu tư. Do vậy, việc áp dụng máy móc quy định phải có quyết định chủ trương đầu tư đối với dự án rồi mới bố trí vốn chuẩn bị đầu tư là bất hợp lý.
    Đây là một nút thắt cần phải được giải quyết nhằm tháo gỡ khó khăn, lúng túng cho các bộ, ngành, địa phương trước đây, khi chưa rõ liệu có phải quyết định chủ trương đầu tư dự án đầu tư công rồi mới được bố trí vốn đầu tư công để thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư. Đồng thời, giải quyết được vấn đề này sẽ tạo điều kiện cho công tác chuẩn bị đầu tư sẽ được thực hiện thường xuyên hơn, kỹ lưỡng hơn, giúp nâng cao chất lượng dự án.
    - Vốn quy hoạch là để thực hiện nhiệm vụ quy hoạch đã được quy định tại pháp luật về quy hoạch, do vậy bản thân công tác quy hoạch đã là nhiệm vụ được pháp luật quy định, mà không cần thiết phải xem xét, quyết định chủ trương đầu tư có nên hay không nên thực hiện nhiệm vụ quy hoạch. Chủ trương đầu tư đối với công tác quy hoạch có thể được coi chính là nhiệm vụ quy hoạch đã được nêu trong quy định pháp luật về quy hoạch.
    Đối với nhiệm vụ quy hoạch, việc quy định không phải quyết định chủ trương đầu tư là phù hợp với các quy định tại Luật Quy hoạch, đồng thời, khắc phục được tình trạng phải làm các thủ tục quyết định chủ trương đầu tư không cần thiết, lãng phí thời gian và lỡ cơ hội triển khai xây dựng đúng hạn các quy hoạch theo nhiệm vụ đã đề ra.
    - Các dự án khẩn cấp, dự án thuộc các chương trình như chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình đầu tư công đã được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư tổng thể chương trình kèm theo danh mục dự án cụ thể. Khi đến bước triển khai, các dự án này lại phải thực hiện thêm một bước quyết định chủ trương đầu tư nữa là không hợp lý, quyết định 2 lần là không cần thiết, giảm được đáng kể thủ tục hành chính, trình cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của từng dự án, tiết kiệm thời gian, chi phí.
    c) Kiến nghị:
    Qua nghiên cứu, phân tích tác động của các giải pháp nêu trên, cân nhắc giữa tác động tích cực và tác động tiêu cực, Chính phủ kiến nghị sửa đổi, bổ sung các nội dung liên quan như tại Điều 18 dự thảo Luật.
    6. Trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án đầu tư công
    a) Mục tiêu:
    Nhằm tiếp tục hoàn thiện các bước thuộc trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án gắn liền với phân loại dự án cũng như những thay đổi về thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư chương trình dự án đầu tư công như đã đề xuất. Đồng thời, nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch cũng như nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc quyết định chủ trương đầu tư, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm bớt các thủ tục không cần thiết hoặc không có hiệu quả.
    b) Đề xuất nội dung chính sách
    Trong trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án đầu tư công, rất nhiều các bộ, cơ quan trung ương và địa phương có ý kiến về việc xem xét, điều chỉnh lại quy trình thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách trung ương, vốn trái phiếu chính phủ, vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước. Theo đó, quy trình thẩm định tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính mang nặng tính hình thức, gây mất nhiều thời gian và kinh phí để thực hiện. Trong rất nhiều trường hợp, số vốn cân đối đã rõ ràng hoặc đã được cấp có thẩm quyền xác định nhưng vẫn phải thực hiện thủ tục thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn. Việc thay đổi thủ tục thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính sang các cơ quan tự thực hiện sẽ tháo gỡ được vấn đề bất cập và vướng mắc nhất hiện nay trong trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án đầu tư công. Đồng thời, đẩy mạnh được phân cấp và tự chịu trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, các bộ, ngành, địa phương trong việc tự thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn trong phạm vi số vốn được phân bổ, giảm đáng kể về thời gian chuẩn bị dự án cũng như tiết kiệm chi phí.
    Nghị quyết số 54/2017/QH14 về cơ chế đặc thù cho thành phố Hồ Chí Minh đã cho phép Hội đồng nhân dân thành phố được quyền quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm A sử dụng toàn bộ vốn ngân sách địa phương và trong kiến nghị tại Mục 4 phần II nêu trên cho phép Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quyền quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm A sử dụng toàn bộ vốn ngân sách địa phương. Tuy nhiên, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định về trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư đối với hình thức như đã nêu. Do vậy, tồn tại khoảng trống pháp lý nếu như không có quy định bổ sung đối với trường hợp này.Bổ sung quy định về trình tự , thủ tục quyết định chủ trương đầu tư đối với dự án nhóm A sử dụng toàn bộ vốn ngân sách địa phương, tránh khoảng trống pháp lý cũng như tạo điều kiện cho các địa phương trong triển khai thực hiệnquyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm A theo đúng tiêu chí cho phép đối với thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
    c) Kiến nghị:
    Qua nghiên cứu, phân tích tác động của các giải pháp nêu trên, cân nhắc giữa tác động tích cực và tác động tiêu cực, Chính phủ kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy trình này tại các Điều từ 22 đến 27 của dự thảo Luật.
    7. Phân cấp thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn
    a) Mục tiêu:
    Nhằm đẩy mạnh phân cấp, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan cấp dưới trong việc thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn, giảm đáng kể thủ tục hành chính, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả, tiết kiệm thời gian và kinh phí đối với công tác quyết định chủ trương đầu tư. Phân công lại nhiệm vụ của các tổ chức, cơ quan chuyên môn về kế hoạch và đầu tư tại các bộ, cơ quan trung ương và địa phương trong việc thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn sau khi đã bãi bỏ quy trình tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
    b) Đề xuất nội dung chính sách:
    Trong trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án đầu tư công, rất nhiều các bộ, cơ quan trung ương và địa phương có ý kiến về việc xem xét, điều chỉnh lại quy trình thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách trung ương, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước. Theo đó, quy trình thẩm định tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính mang nặng tính hình thức, gây mất nhiều thời gian và kinh phí để thực hiện. Trong rất nhiều trường hợp, số vốn cân đối đã rõ ràng hoặc đã được cấp có thẩm quyền xác định nhưng vẫn phải thực hiện thủ tục thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn. Nhiều bộ, cơ quan trung ương, địa phương gặp khó khăn và bất cập trong việc thực hiện trình tự này, kiến nghị xem xét, sửa đổi bổ sung hoặc bãi bỏ. Đồng thời, qua đánh giá khách quan 3 năm thực hiện Luật Đầu tư công, tuy quy trình này đã có kết quả làm hạn chế việc đầu tư dàn trải, quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư tùy tiện, nhưng đã tạo ra một bước thủ tục hành chính phức tạp, qua nhiều cấp, mất nhiều thời gian và chi phí.
    Khi thủ tục thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn đã được bãi bỏ ở cấp Trung ương, cụ thể là Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính, nhiệm vụ này sẽ được phân cấp cho các cơ quan chuyên môn về kế hoạch và đầu tư của chính các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện.Bộ, cơ quan trung ương giao cơ quan, đơn vị chuyên môn quản lý về đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn đối với dự án sử dụng vốn đầu tư công thuộc cơ quan mình quản lý trừ các dự án. Ủy ban nhân dân các cấp giao cơ quan chuyên môn về kế hoạch và đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn đối với dự án sử dụng vốn đầu tư công thuộc cấp mình quản lý trừ các dự án được quy định tại khoản 1 điều 34.
    Qua đó, đẩy mạnh được phân cấp, tăng quyền chủ động cho các cấp thực hiện, cụ thể là các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, giảm đáng kể thủ tục hành chính không cần thiết, vẫn đảm bảo duy trì thủ tục thẩm định và có tác dụng ngăn ngừa quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư dàn trải, tăng trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư.
    c) Kiến nghị:
    Qua nghiên cứu, phân tích tác động của các giải pháp nêu trên, cân nhắc giữa tác động tích cực và tác động tiêu cực, Chính phủ kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định về phân cấp nhiệm vụ thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn như tại Điều 34 của dự thảo Luật.
    8. Điều chỉnh chủ trương đầu tư:
    a) Mục tiêu:
    Nhằm bổ sung các quy định liên quan đến trình tự, thủ tục điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư, tạo cơ sở pháp lý cũng như tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh dự án khi thực tế triển khai phát sinh các tình huống, nguyên nhân khách quan làm tăng tổng mức đầu tư mà vượt quá số vốn đã được phê duyệt tại quyết định chủ trương đầu tư ban đầu.
    b) Đề xuất nội dung chính sách:
    Thực tế triển khai các hoạt động đầu tư công đã xuất hiện các tình huống khi điều chỉnh dự án làm tăng tổng mức đầu tư vượt quá số vốn tổng mức đầu tư dự kiến đã được phê duyệt tại quyết định chủ trương đầu tư của dự án. Tuy nhiên, nhiều bộ, cơ quan trung ương, địa phương rất lúng túng trong triển khai do vừa lo vi phạm quy định tại Điều 16 của Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 nhưng đồng thời không có quy định nào liên quan đến điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư, các dự án trở nên bế tắc, không thể tiếp tục triển khai được.Bổ sung thêm Điều 35 như dự thảo Luật Đầu tư công (sửa đổi) quy định trình tự, thủ tục quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư sẽ tạo căn cứ pháp lý thống nhất để triển khai thủ tục quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư chương trình, dự án để thực hiện khi điều chỉnh dự án làm tăng tổng mức đầu tư vượt quá số vốn đã được phê duyệt tại quyết định chủ trương đầu tư ban đầu của chương trình, dự án. Đồng thời, đủ cơ sở pháp lý để Chính phủ ướng dẫn thủ tục này trong Nghị định phù hợp với quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
    c) Kiến nghị:
    Qua nghiên cứu, phân tích tác động của các giải pháp nêu trên, cân nhắc giữa tác động tích cực và tác động tiêu cực, Chính phủ kiến nghị bổ sung thêm Điều 35 quy định về điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư như trong dự thảo Luậtkèm theo.
    9. Trình tự lập, thẩm định, quyết định nhiệm vụ và dự toán đối với nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư và nhiệm vụ quy hoạch.
    a) Mục tiêu:
    Hình thành quy định chặt chẽ, thống nhất về thủ tục, trình tự đối với nhiệm vụ quy hoạch và nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất để triển khai thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương trong việc chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị dự án với chất lượng tốt cũng như hoàn thành các nhiệm vụ về quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch.
    b) Đề xuất nội dung chính sách:
    Công tác chuẩn bị đầu tư trong thời gian vừa qua được quy định là một trong những nội dung của quá trình thực hiện dự án. Tuy nhiên, quy định như vậy đã tạo ra sự bất cập ở chỗ chuẩn bị đầu tư là để làm thủ tục quyết định chủ trương đầu tư và để dự án có trong danh mục dự án của kế hoạch đầu tư công trung hạn. Thế nhưng, vì chuẩn bị đầu tư là một nội dung của thực hiện dự án nên dự án phải có trong kế hoạch đầu tư trung hạn mới được bố trí vốn. Điều này đã hình thành vấn đề bất cập là “dự án phải có trong kế hoạch thì mới có tiền chuẩn bị đầu tư, nhưng khi chưa có tiền chuẩn bị đầu tư thì không thể có dự án trong kế hoạch”. Qua đánh giá khách quan quá trình thực hiện Luật Đầu tư công, việc tách riêng nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư là cần thiết, tạo điều kiện để công tác chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị dự án được cẩn thận, kỹ lưỡng, nâng cao chất lượng dự án khi thực hiện đầu tư. Kèm theo đó, cần có quy trình cụ thể đối với việc quyết định đầu tư đối với loại hình dự án này, đảm bảo sự chặt chẽ của pháp luật.
    Nhiệm vụ quy hoạch là một đối tượng đầu tư công mới, sau khi Luật Quy hoạch được ban hành, các nhiệm vụ về lập, thẩm định, quyết định, ban hành và điều chỉnh các quy hoạch trong hệ thống quy hoạch được phép sử dụng vốn đầu tư công. Do vậy cần phải có quy định về trình tự, thủ tục cụ thể, đảm bảo tính chặt chẽ về pháp lý đối với nhiệm vụ quy hoạch, tạo thuận lợi trong quá trình triển khai.Bổ sung khoản 5 Điều 41 của dự thảo Luật để có đủ căn cứ pháp lý về thủ tục, trình tự để các bộ, cơ quan trung ương và địa phương triển khai công tác quyết định đầu tư đối với các nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư và nhiệm vụ quy hoạch, làm căn cứ để xây dựng kế hoạch đầu tư công hằng năm và công tác bố trí vốn được thuận lợi, phù hợp với các quy định luật pháp.
    c) Kiến nghị:
    Qua nghiên cứu, phân tích tác động của các giải pháp nêu trên, cân nhắc giữa tác động tích cực và tác động tiêu cực, Chính phủ kiến nghị bổ sung khoản 5 Điều 41 quy định về trình tự, thủ tục quyết định nhiệm vụ và dự toán đối với nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư và nhiệm vụ quy hoạch như dự thảo Luật.
    10. Điều chỉnh chương trình, dự án
    a) Mục tiêu:
    Hoàn thiện thêm một bước các quy định về pháp lý, theo hướng chặt chẽ hơn đối với việc điều chỉnh chương trình, dự án, theo đó vừa tăng cường trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền đối với việc quyết định điều chỉnh chương trình, dự án, vừa đảm bảo quy định chặt chẽ, tránh quyết định điều chỉnh một cách tùy tiện, hạn chế thất thoát, lãng phí nguồn lực đầu tư của nhà nước.
    b) Đề xuất nội dung chính sách:
    Do quy định chưa chặt chẽ, nên nhiều chương trình, dự án sau khi điều chỉnh đã có sự thay đổi về cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư dự án (ví dụ như từ nhóm B lên nhóm A, từ nhóm A lên quan trọng quốc gia), các bộ, cơ quan trung ương và địa phương không những lúng túng trong triển khai mà còn có khả năng xảy ra tình huống lách quy định để tránh phải làm các thủ tục phức tạp hơn.
    Trong những năm gần đầy, vấn đề dự án tăng vốn, đội vốn trở thành vấn đề nổi cộm, trong đó bản chất của vấn đề chính là chưa có quy định chặt chẽ về việc điều chỉnh chương trình, dự án, dẫn tới việc điều chỉnh là khá tùy tiện, có nguy cơ làm thất thoát, lãng phí nguồn lực của nhà nước.
    Hình thành được quy định pháp lý chặt chẽ đối với việc quyết định điều chỉnh chương trình, dự án, nhất là đối với việc điều chỉnh làm thay đổi phân loại dự án, như từ nhóm B lên nhóm A, từ nhóm A lên quan trọng quốc gia..., hạn chế được tình trạng lách quy định để tránh thủ tục phức tạp hơn; góp phần hạn chế việc điều chỉnh chương trình, dự án một cách tùy tiện, không căn cứ vào khả năng cân đối vốn cũng như không đúng thẩm quyền, hạn chế tình trạng lãng phí nguồn lực của nhà nước.
    c) Kiến nghị:
    Qua nghiên cứu, phân tích tác động của các giải pháp nêu trên, cân nhắc giữa tác động tích cực và tác động tiêu cực, Chính phủ kiến nghị bổ sung khoản 5, 6 Điều 43 quy định về điều chỉnh chương trình, dự án như dự thảo Luật.
    11. Phân loại kế hoạch đầu tư công:
    a) Mục tiêu:
    Nhằm tạo sự thống nhất giữa Luật Đầu tư công và Luật Ngân sách nhà nước đối với các loại kế hoạch theo thời gian và theo nguồn vốn, theo đó tăng sự đồng bộ, thống nhất trong điều hành kế hoạch cả về kế hoạch tài chính ngân sách và kế hoạch đầu tư công, tạo sự phù hợp và ăn khớp giữa kế hoạch đầu tư công với kế hoạch tài chính ngân sách. Bên cạnh đó, việc hình thành kế hoạch đầu tư công trung hạn 03 năm sẽ góp phần làm “mềm hóa” kế hoạch đầu tư công trung hạn 05 năm, tránh bó cứng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều hành kế hoạch đầu tư công gắn với những thay đổi về tình hình kinh tế - xã hội nhưng vẫn đảm bảo gắn với mục tiêu trung và dài hạn trong phát triển kinh tế - xã hội.
    b) Đề xuất nội dung chính sách:
    Theo quy định của Luật Đầu tư công về phân loại kế hoạch đầu tư công theo thời gian, chỉ có kế hoạch đầu tư trung hạn 05 năm và kế hoạch đầu tư hằng năm. Thực tế là không thống nhất với quy định của Luật Ngân sách nhà nước là phải có thêm kế hoạch đầu tư 03 năm.
    Bên cạnh đó, kế hoạch đầu tư công trung hạn 05 năm hiện nay có tính chất khép kín, cứng nhắc và rất khó điều hành linh hoạt đáp ứng yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội cũng như không thay đổi tương ứng với những thay đổi của khả năng đáp ứng ngân sách từ kế hoạch tài chính – ngân sách 03 năm cuốn chiếu của quốc gia. Điều này dẫn tới xuất hiện những khoảng cách nhất định giữa kế hoạch đầu tư công và kế hoạch tài chính – ngân sách, mục tiêu và nhiệm vụ trong kế hoạch đầu tư công không tương ứng với khả năng cân đối vốn của kế hoạch tài chính – ngân sách, tạo sự bất cập trong công tác bố trí vốn của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương.
    Đối với phân loại kế hoạch đầu tư công theo tiêu chí nguồn vốn, thực tế triển khai thì vốn trái phiếu Chính phủ và vốn ODA đã được tính trong cân đối ngân sách nhà nước (theo Luật Ngân sách nhà nước) nhưng vẫn tồn tại kế hoạch của hai nguồn vốn này. Điều này thực tế đã xảy ra bất cập trong cả điều hành kế hoạch ngân sách cũng như điều hành kế hoạch đầu tư công, tạo ra sự bất cập, thiếu linh hoạt và không hiệu quả trong điều hành, vốn trái phiếu Chính phủ không thể điều chỉnh được cho vốn ngân sách nhà nước và ngược lại, đồng thời các dự án vô hình chung phải tách biệt nhiều nguồn vốn mà thực chất, theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước lại là thống nhất chung trong một nguồn. 
    Đề xuất sửa đổi, bổ sung phân loại kế hoạch đầu tư công theo tiêu chí về thời gian và nguồn vốn như Điều 46 của dự thảo Luật, đồng thời sửa đổi bổ sung các điều từ 47 đến 58 của dự thảo Luật liên quan đến căn cứ, nội dung, trình tự lập, thẩm định, quyết định kế hoạch đầu tư công thuộc phân loại đã đề xuất tại Điều 46 sẽ tạo được sự thống nhất cao hơnvà kế thừa lẫn nhau, giữa kế hoạch đầu tư công và Kế hoạch tài chính – ngân sách nhà nước tính theo cả 03 chu kỳ trung hạn 05 năm, trung hạn 03 năm và hằng năm. Giải quyết được vấn đề về tính thống nhất giữa các Luật, tính khả thi và hiệu quả của Kế hoạch đầu tư công trung hạn, nâng cao chất lượng chuẩn bị dự án đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn.
    Việc thực hiện theo giải pháp này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư công, chống thất thoát, lãng phí, hạn chế tình trạng tùy tiện trong điều chỉnh dự án như hiện nay. Đồng thời,tăng khả năng điều hành linh hoạt, thường xuyên của kế hoạch đầu tư công gắn liền với những thay đổi của nền kinh tế nhưng vẫn đảm bảo gắn với mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn 05 năm và hằng năm.
    c) Kiến nghị:
    Qua nghiên cứu, phân tích tác động của các giải pháp nêu trên, cân nhắc giữa tác động tích cực và tác động tiêu cực, Chính phủ kiến nghị sửa đổi bổ sung như tại các điều từ Điều 46 đến Điều 58 của dự thảo Luật về kế hoạch đầu tư công trung hạn 03 năm theo phương thức cuốn chiếu và các loại hình kế hoạch khác theo tiêu chí nguồn vốn.
    12. Điều kiện chương trình, dự án được bố trí vốn trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 05 năm và hằng năm
    a) Mục tiêu:
    Nhằm mục tiêu xây dựng quy định pháp lý đồng bộ, thống nhất và khớp giữa các kế hoạch trung hạn 05 năm, 03 năm và hằng năm đối với công tác xây dựng danh mục dự án chi tiết và công tác bố trí vốn hiệu quả, tiếp tục khắc phục tình trạng bố trí vốn phân tán, dàn trải, không đáp ứng tiến độ thực hiện của các chương trình, dự án đầu tư công. Quy định chặt chẽ về bố trí vốn kế hoạch cho từng dự án, nhất là số vốn tối thiểu phải bố trí cho năm đầu tiên của dự án khởi công mới, nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng vốn cũng như đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án.
    b) Đề xuất nội dung chính sách
    Theo quy định tại Điều 55 của Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 thì điều kiện để chương trình, dự án được bố trí vốn trong kế hoạch đầu tư công trung hạn là khá đơn giản, thiếu sự rõ ràng, nên dẫn tới sự không thống nhất trong công tác xây dựng danh mục dự án. Đồng thời, gắn với công tác chuẩn bị đầu tư, điều kiện như vậy là tạo thành vòng luẩn quẩn trong việc dự án phải có chủ trương đầu tư mới được bố trí vốn trung hạn, trong khi vốn chuẩn bị đầu tư chưa được bố trí để quyết định chủ trương đầu tư. Đây là vấn đề bất cập hiện nay.
    Việc không có quy định đối với công tác bố trí vốn cụ thể cho các chương trình, dự án khi triển khai thực hiện dẫn tới việc các bộ, cơ quan trung ương và địa phương bố trí vốn vẫn chưa được tập trung, vẫn dàn trải và phân tán, nhất là các dự án có quy mô lớn, dự án nhóm A nhưng bố trí vốn vẫn nhỏ giọt. Một phần là do hạn hẹp về nguồn lực nhưng số lượng dự án phải thực hiện lại có nhiều, mặt khác do không có quy định nên bộ, cơ quan, địa phương không bị ràng buộc trong bố trí vốn, có thể sẵn sàng bố trí vốn cho các dự án chuyển tiếp thấp để có vốn bố trí cho các dự án khởi công mới, mặc dù là rất ít, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
    Đối với kế hoạch đầu tư công trung hạn 05 năm, các chương trình, dự án phải có quyết định chủ trương đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt, qua đó, sẽ sơ bộ biết được tổng mức đầu tư được đề xuất có phù hợp với khả năng cân đối vốn của kế hoạch trung hạn 05 năm hay không. Đầy được coi là điều kiện để các dự án trong kế hoạch đầu tư công trung hạn được sẵn sàng tiến tới bước tiếp theo, quyết định đầu tư trong kế hoạch đầu tư công hằng năm.

    c) Kiến nghị:
    Qua nghiên cứu, phân tích tác động của các giải pháp nêu trên, cân nhắc giữa tác động tích cực và tác động tiêu cực, Chính phủ kiến nghị sửa đổi bổ sung như tại các Điều 53, 54 của dự thảo Luật về điều kiện để các chương trình, dự án được bố trí vốn trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 05 năm, 03 năm cuốn chiếu và hằng năm.
    13. Trình, phê duyệt và giao kế hoạch đầu tư công trung hạn 05 năm và hằng năm
    a) Mục tiêu:
    Nhằm đẩy mạnh phân cấp, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, tăng cường công tác hậu kiểm, rút ngắn các thủ tục hành chính, đổi mới phương pháp theo hướng linh hoạt, chủ động và hiệu quả, cần điều chỉnh lại phương pháp giao kế hoạch vốn đầu tư công cả đối với kế hoạch trung hạn 05 năm, 03 năm cũng như hằng năm.
    b) Đề xuất nội dung chính sách
    Theo quy định của Luật Đầu tư công cũng như các quy định tại các Nghị quyết của Quốc hội thì Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm vốn NSTW chi tiết đến danh mục và mức vốn bố trí cho từng dự án. Tuy nhiên, việc giao như vậy có một số tồn tại là, danh mục dự án và mức vốn bố trí của từng dự án đều do các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc, tiêu chí được cấp có thẩm quyền ban hành. Cấp trung ương chỉ nhận báo cáo của từng bộ, cơ quan và địa phương để rà soát, đối chiếu với các tiêu chí và giao lại danh mục đó cho chính các bộ, cơ quan và địa phương. Điều này làm phát sinh thủ tục hành chính, mất nhiều thời gian, chi phí cũng như không tăng được trách nhiệm của các bộ, cơ quan và địa phương, do có tâm lý cứ báo cáo lên trên, được thì tốt không được thì sửa.
    Bên cạnh đó, do các nguyên nhân như bộ, cơ quan, địa phương bố trí vốn cho dự án dự án chưa đủ thủ tục làm cho công tác hoàn thiện thủ tục, báo cáo đi báo cáo lại nhiều lần dẫn tới việc giao kế hoạch không được gọn, thường bị giao chậm hoặc giao làm nhiều lần, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện cũng như công tác giải ngân trong những năm vừa qua.
    Sửa đổi bổ sung như tại Điều 62, 63 của dự thảo Luật, theo hướng Thủ tướng Chính phủ giao kế hoạch tổng mức vốn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao cơ cấu vốn và thông báo lại danh mục dự án đủ điều kiện bố trí vốn trong kế hoạch, các bộ, ngành, địa phương chủ động đăng ký kế hoạch bằng danh mục dự án và mức vốn bố trí cụ thể. Đồng thời, cho phép các dự án chưa kịp hoàn thiện thủ tục thì đến 31/3 của năm kế hoạch, được phép điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với quy định pháp luật. Số vốn không đúng quy định sẽ được thu hồi, điều chuyển hoặc hủy dự toán.
    Đẩy mạnh được quá trình phân cấp, chủ động, tự chịu trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong việc bố trí vốn và xây dựng danh mục dự án, giảm sự can thiệp của trung ương, tăng tính hiệu quả do gắn với điều kiện thực tế của từng bộ, cơ quan, địa phương cũng như từng dự án nhưng vẫn đảm bảo đúng các quy định, tiêu chí, nguyên tắc được cấp có thẩm quyền đề ra.
    Chuyển mạnh từ cơ chế tiền kiểm sang cơ chế hậu kiểm, trong đó, đối với những bộ, cơ quan, địa phương bố trí vốn không đúng với quy định, một mặt được tạo cơ hội sửa chữa trước ngày 31/3 năm kế hoạch, mặt khác để giữ nghiêm kỷ cương tài chính, kỷ cương đầu tư công, sau 31/3 thì tất cả những khoản vốn không đúng quy định sẽ được thu hồi, điều chuyển hoặc hủy dự toán.
    Tăng cường tính chủ động trong thực thi kế hoạch, trong đó, các bộ, cơ quan trung ương, địa phương sẽ chủ động hơn trong điều hành kế hoạch, chủ động điều chuyển vốn từ dự án kém hiệu quả sang sự án có tiến độ giải ngân tốt mà không phải thực hiện các thủ tục hành chính phức tạp, mất nhiều thời gian, mất nhiều cơ hội trong khi vốn bị ứ đọng, không giải ngân được.
    c) Kiến nghị:
    Qua nghiên cứu, phân tích tác động của các giải pháp nêu trên, cân nhắc giữa tác động tích cực và tác động tiêu cực, Chính phủ kiến nghị sửa đổi bổ sung như tại các Điều 62, 63 của dự thảo Luật về trình tự giao kế hoạch trung hạn 05 năm, 03 năm cuốn chiếu và hằng năm.
    14. Điều chỉnh kế hoạch đầu tư công
    a) Mục tiêu:
    Nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp, tự chịu trách nhiệm đối với các bộ, cơ quan trung ương và địa phương trong việc điều chỉnh kế hoạch đầu tư công, trong khi vẫn đảm bảo thực hiện được các nhiệm vụ, mục tiêu đã đề ra và sử dụng hiệu quả nguồn vốn, tránh lãng phí vốn và cơ hội đẩy nhanh tiến độ thực hiện, tiến độ giải ngân của các dự án.
    b) Đề xuất nội dung chính sách:
    Trong nhiều năm qua cũng như trong 3 năm triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn, nhu cầu điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm là một thực tiễn khách quan và phù hợp với tình hình thực tiễn cũng như công tác điều hành, thực hiện kế hoạch của các cơ quan và các cấp.
    Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 đã quy định về thủ tục, trình tự cũng như thẩm quyền của các cấp có liên quan trong việc điều chỉnh kế hoạch đầu tư công. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc điều chỉnh kế hoạch đầu tư công hiện khá phức tạp và mất thời gian do phải triển khai nhiều thủ tục và chuyển qua nhiều cấp, bao gồm cả cấp tham mưu, tổng hợp và quyết định điều chỉnh. Do vậy đã ảnh hưởng nhất định đến chất lượng công tác kế hoạch cũng như khả năng giải ngân kế hoạch vốn đã đề ra. Mục tiêu đạt 100% kế hoạch vốn được giải ngân là một mục tiêu thách thức.
    Trong nhiều trường hợp, việc điều chỉnh kế hoạch đầu tư công xuất phát chính từ cấp thực hiện, nghĩa là từ cấp bộ, cơ quan trung ương và địa phương, và đến cấp quyết định gần như không có sự thay đổi. Do vậy, việc xem xét, phân cấp, để chủ động điều chỉnh kế hoạch và thực hiện công tác báo cáo lại để hậu kiểm là cần thiết, đẩy nhanh được tiến độ thực hiện cũng như giải ngân.
    Việc phân cấp cho người đứng đầu các bộ, cơ quan trung ương điều chỉnh kế hoạch đầu tư hằng năm vốn ngân sách trung ương, vốn vay, vốn khác của nhà nước chưa cân đối trong ngân sách nhà nước trong nội bộ các ngành, lĩnh vực, chương trình thuộc quản lý của cơ quan mình nhưng không vượt quá tổng mức vốn theo ngành, lĩnh vực, chương trình đã được cấp có thẩm quyền giao kế hoạch;Ủy ban nhân dân cấp tỉnh điều chỉnh kế hoạch đầu tư hằng năm vốn ngân sách trung ương hỗ trợ có mục tiêu trong nội bộ các ngành, lĩnh vực, chương trình thuộc quản lý của cấp mình nhưng không vượt quá tổng mức vốn theo ngành, lĩnh vực, chương trình đã được cấp có thẩm quyền giao kế hoạch; Sau đó, chỉ cần gửi báo cáo cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để thẩm tra đối với vốn ngân sách trung ương hỗ trợ có mục tiêu và giao hoặc thông báo kế hoạch đầu tư điều chỉnh cho các đơn vị sau khi có ý kiến thẩm tra của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính là cần thiết.
    Giảm đáng kể thủ tục hành chính phức tạp đối với việc các bộ, cơ quan trung ương và địa phương phải tổng hợp, báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, báo cáo Thủ tướng Chính phủ để điều chỉnh kế hoạch. Tăng cường tính chủ động, tính linh hoạt, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan cấp dưới, đồng thời đẩy mạnh cơ chế hậu kiểm, phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội rất nhanh và đa dạng.
    c) Kiến nghị:
    Qua nghiên cứu, phân tích tác động của các giải pháp nêu trên, cân nhắc giữa tác động tích cực và tác động tiêu cực, Chính phủ kiến nghị sửa đổi bổ sung như tại Điều 71 của dự thảo Luật về điều chỉnh kế hoạch đầu tư công.
    15. Thời gian thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công
    a) Mục tiêu:
    Nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính và thúc đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn đầu tư công, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như đóng góp vào quá trình tăng trưởng kinh tế trong năm kế hoạch.
    b) Đề xuất nội dung chính sách
    Điểm b khoản 1 Điều 76 Luật Đầu tư công quy định “Thời gian giải ngân vốn kế hoạch đầu tư công hằng năm được kéo dài sang năm sau”. Quy định này tạo ra tâm lý các chủ đầu tư không tập trung triển khai thực hiện kế hoạch ngay trong năm, ảnh hưởng đến việc giải ngân vốn đầu tư.
    Đồng thời, điểm b khoản 2 Điều 76 Luật Đầu tư công quy định “Phần vốn nước ngoài trong kế hoạch đầu tư công hằng năm được phép giải ngân theo tiến độ thực hiện và tiến độ cấp vốn của nhà tài trợ nước ngoài”; quy định cho phép giải ngân vốn nước ngoài theo tiến độ dự án chưa phù hợp với Hiến pháp và Luật ngân sách nhà nước 2015 “Các khoản thu, chi ngân sách nhà nước phải được dự toán và do luật định”.Phù hợp với Luật Ngân sách nhà nước về niên độ ngân sách, tạo điều kiện thuận lợi trong việc kiểm soát chi cũng như quyết toán ngân sách hằng năm. Đối với vốn ODA là phù hợp với quy định của Hiến pháp và Luật Ngân sách nhà nước. Đồng thời, tăng cường được kỷ cương, kỷ luật ngân sách, khắc phục được tâm lý không tập trung thực hiện, giúp đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công.
    c) Kiến nghị:
    Qua nghiên cứu, phân tích tác động của các giải pháp nêu trên, cân nhắc giữa tác động tích cực và tác động tiêu cực, Chính phủ kiến nghị sửa đổi bổ sung tại Điều 72 của dự thảo Luậtvề thời gian thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công.
    16. Xây dựng cơ sở dữ liệu về đầu tư công và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đầu tư công.
    a) Mục tiêu:
    Nhằm gắn kết các hoạt động quản lý đầu tư công với quá trình xây dựng Chính phủ điện tử và nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra mạnh mẽ. Quản lý bằng hệ thống công nghệ thông tin là một giải pháp tiến bộ và cần phải được pháp điển hóa một cách chính thức cũng đáp ứng được yêu cầu thực tế ngày càng phức tạp và diễn ra nhanh chóng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát đầu tư công.
    b) Đề xuất nội dung chính sách
    Từ trước năm 2018, toàn bộ công tác tổng hợp, giao và quản lý kế hoạch đầu tư công đều được làm thủ công, công nghệ thông tin chỉ giúp cải thiện tốc độ làm việc của các cá nhân có liên quan nhưng không giúp quản lý có hệ thống cơ sở dữ liệu, mà chủ yếu là quản lý bằng hồ sơ giấy nên gặp rất nhiều khó khăn trong công tác tra soát, theo dõi, giám sát cũng như điều chỉnh dự án, điều chỉnh kế hoạch.Bắt đầu từ năm 2018, tuy đã ứng dụng một phần công nghệ thông tin trong việc tổng hợp, giao và quản lý kế hoạch đầu tư công nhưng vẫn còn ở mức độ hạn chế và thực tế là chưa có quy định pháp lý đối với nội dung này.
    Việc hình thành cơ sở dữ liệu về đầu tư công và hệ thống quản lý để theo dõi, đánh giá sẽ giảm nhẹ thủ tục hành chính cho công tác báo cáo, đánh giá dự án hiện nay, việc triển khai hệ thống quản lý, theo dõi, đánh giá về đầu tư công áp dụng cơ sở dữ liệu mạng sẽ thuận lợi về kỹ thuật, giảm thời gian, công sức về nhân lực thực hiện các biểu mẫu báo cáo; phục vụ công tác cập nhật, cung cấp số liệu, báo cáo theo yêu cầu của Quốc hội, Chính phủ; Hệ thống cơ sở dữ liệu cập nhật và công khai sẽ làm tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động đầu tư công, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư công; tận dụng Hệ thống mạng máy tính, nhân lực sẵn có về tin học của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương.
    c) Kiến nghị:
    Qua nghiên cứu, phân tích tác động của các giải pháp nêu trên, cân nhắc giữa tác động tích cực và tác động tiêu cực, Chính phủ kiến nghị sửa đổi bổ sung như tại Điều 102 của dự thảo Luật về xây dựng cơ sở dữ liệu về đầu tư công.
    17. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực Hội đồng nhân dân
    a) Mục tiêu:
    Nhằm tháo gỡ khó khăn cho các địa phương khi trình Hội đồng nhân dân quyết định chủ trương đầu tư các chương trình, dự án trong khi Hội đồng nhân dân họp 2 lần 1 năm, đồng thời, cụ thể hóa bằng quy định pháp luật về việc ủy quyền, tránh tình trạng quy định tại Nghị định không phù hợp hoặc vượt luật.
    b) Đề xuất nội dung chính sách
    Việc Hội đồng nhân dân họp 2 kỳ 1 năm đã gây nhiều khó khăn trong việc quyết định kịp thời chủ trương đầu tư chương trình, dự án cấp bách, nhất là các dự án cần bổ sung ngay vào kế hoạch để thực hiện nhằm khắc phục hậu quả thiên tai hoặc tận dụng cơ hội kinh tế, xã hội.
    Mặc dù Nghị định số 136/2015/NĐ-CP của Chính phủ về hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Đầu tư công đã quy định Hội đồng nhân dân các cấp có thể ủy quyền cho Thường trực hội đồng nhân dân. Tuy nhiên, theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì việc quy định tại cấp Nghị định là không phù hợp và vượt luật. Do vậy quy định bổ sung điều khoản này vào Luật Đầu tư công là cần thiết.
    Để chính thức pháp điển hóa quy định tại luật, phù hợp với quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương, nhằm tạo điều kiện cho các địa phương có thể chủ động về mặt thời gian trong việc trình cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư các chương trình, dự án một cách kịp thời, tận dụng được thời gian và cơ hội trong đầu tư phát triển, dự thảo Luật đề xuất quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực Hội đồng nhân dân các cấp được phép thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến đầu tư công của Hội đồng nhân dân cùng cấp giữa các kỳ họp, báo cáo lại tại kỳ họp gần nhất là cần thiết và hợp lý.
    c) Kiến nghị:
    Qua nghiên cứu, phân tích tác động của các giải pháp nêu trên, cân nhắc giữa tác động tích cực và tác động tiêu cực, Chính phủ kiến nghị bổ sung như tại Điều 88 của dự thảo Luậtvề nhiệm vụ, quyền hạn củaThường trực hội đồng nhân dân các cấp.
    18. Điều chỉnh các thuật ngữ cho phù hợp với các thuật ngữ, quy định tại các luật khác có liên quan, như Luật Quy hoạch, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường...
    a) Mục tiêu:
    Điều chỉnh các thuật ngữ cho phù hợp với các luật có liên quan đến Luật Đầu tư công, đồng thời tạo điều kiện để các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thống nhất về cách hiểu, về thuật ngữ trong quá trình thực hiện.
    b) Đề xuất nội dung chính sách
    Các thuật ngữ liên quan đến quy hoạch đã được Quốc hội thông qua Luật số 28/2018/QH14, trong đó điều chỉnh các thuật ngữ phù hợp với Luật Quy hoạch. Do vậy, việc sửa đổi, bổ sung cho khớp với Luật trên là cần thiết.
    Ngoài ra còn một số thuật ngữ như phương án tổng thể về đền bù, giải phóng mặt bằng không được sử dụng trong Luật Đất đai cũng cần phải được điều chỉnh cho phù hợp, tạo sự thống nhất giữa Luật Đầu tư công với các Luật liên quan, giải quyết được những khó khăn, lúng túng trong khâu triển khai thực hiện.
    Liên quan đến xử lý vướng mắc tại điểm a, khoản 2 Điều 25 Luật Bảo vệ môi trường về thời điểm phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, Chính phủ đề nghị sửa ngay lại Luật này theo hướng áp dụng quy định tại Luật Đầu tư công (sửa đổi), tại giai đoạn quyết định chủ trương đầu tư chỉ cần đánh giá sơ bộ tác động môi trường; báo cáo đánh giá tác động môi trường được lập tại giai đoạn quyết định đầu tư dự án; đồng thời giao Chính phủ hướng dẫn nội dung đánh giá sơ bộ tác động về môi trường. Dự thảo Luật đã đề xuất sửa đổi, bổ sung điểm o khoản 2 Điều 31 (dự thảo Luật).
    5. Kiến nghị:
    Qua nghiên cứu, phân tích tác động của các giải pháp nêu trên, cân nhắc giữa tác động tích cực và tác động tiêu cực, Chính phủ kiến nghị sửa đổi bổ sung như tại các điều có liên quan và sửa đổi, bổ sung điểm g, o khoản 2 Điều 31, khoản 7, 10 Điều 32 của dự thảo Luật về báo cáo đánh giá sơ bộ tác động môi trường.
    IV. CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN DỰ ÁN LUẬT
    Từ những nội dung của dự án Luật nêu trên, để triển khai tốt Luật này cần phải:
    1. Có sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng từ Trung ương xuống cơ sở, các cấp chính quyền; sự phối kết hợp chặt chẽ của các cơ quan, đoàn thể.
    2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn, giải thích quy định của Luật nhằm nâng cao ý thức của tổ chức, cá nhân; tăng sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân.
    3. Cần có sự phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành có liên quan trong xây dựng các văn bản hướng dẫn trong quá trình thực hiện.
    V. DỰ KIẾN NGUỒN LỰC, ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM CHO VIỆC THI HÀNH LUẬT
    1. Dự kiến nguồn lực
    Các sửa đổi, bổ sung của Luật Đầu tư công theo Dự thảo này chủ yếu chỉ giới hạn ở việc cải cách thủ tục và khắc phục các điểm còn tồn taị của Luật Đầu tư công hiện hành, do vậy sẽ không phát sinh nhiều các chi phí liên quan đến tuyên truyền, triển khai quy định của Luật hoặc làm tăng vốn đầu tư công trong giai đoạn sau. Dự kiến nguồn lực để thi hành Luật như sau:
    - Từ nguồn ngân sách trung ương.
    - Từ các nguồn kinh phí hợp pháp khác (nếu có).
    2. Điều kiện bảo đảm cho việc thi hành Luật
    Điều kiện bảo đảm cho việc thi hành Luật bao gồm các nội dung được xác định như sau:
    - Ban hành văn bản quy định chi tiết và chỉ đạo, đôn đốc thi hành: Các cơ quan có thẩm quyền ban hành kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật phù hợp với quy định của pháp luật khác có liên quan.
    - Tuyên truyền, phổ biến Luật: Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ thực hiện phổ biến, giáo dục Luật và các quy định liên quan; Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng nội dung thông tin, tuyên truyền phổ biến những yêu cầu, nội dung và các quy định của Luật kịp thời đến các cơ quan, tổ chức và người dân, giúp hiểu biết, nắm bắt pháp luật kịp thời để thực hiện.
    - Bảo đảm nguồn lực thực hiện: Được bố trí nguồn kinh phí để thực hiện các quy định trong Luật, ngoài nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, huy động nguồn lực từ cơ quan, đơn vị và địa phương, hỗ trợ của các tổ chức xã hội, tổ chức quốc tế hoặc lồng ghép vào các chương trình, dự án khác để có nguồn kinh phí bảo đảm cho việc thực hiện Luật.
    - Kiểm tra, thanh tra, giám sát tình hình thực hiện:Thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát tình hình thi hành Luật và các văn bản pháp quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật.
    Trên đây là Tờ trình Luật Đầu tư công (sửa đổi), Chính phủ kính trình Quốc hội xem xét và cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV (tháng 10 năm 2018)./.
     

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com