Thứ tư, ngày 12/12/2018login
  • Báo cáo tóm tắt Thẩm tra Dự án Luật Giáo dục (sửa đổi)Góp ý

    Cơ quan ban hành: Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên & Nhi đồng

    Mô tả:  Tài liệu trình tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội  khóa XIV.

  • Thực hiện nhiệm vụ chủ trì thẩm tra Dự án Luật Giáo dục (sửa đổi), Ủy ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội (VHGDTNTN&NĐ) đã làm việc với Ban soạn thảo; tổ chức hội nghị, tọa đàm lấy ý kiến chuyên gia và đối tượng chịu tác động của Luật về nội dung sửa đổi của Dự án Luật. 
    Trên cơ sở tiếp thu ý kiến thẩm tra sơ bộ của Ủy ban VHGDTNTN&NĐ (Uỷ ban) và ý kiến của đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ 5, ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại các Phiên họp thứ 26, 27, Chính phủ đã hoàn thiện hồ sơ Dự án Luật Giáo dục (sửa đổi) để trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 6.
    Ngày 26/9/2018, Ủy ban tổ chức Phiên họp toàn thể để thẩm tra Dự án Luật đã được chỉnh lý. Sau đây là ý kiến thẩm tra của Ủy ban:
    I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 
    1. Về phạm vi, quan điểm sửa đổi Luật
    Ủy ban tán thành việc mở rộng phạm vi sửa đổi và quan điểm xây dựng Luật Giáo dục (sửa đổi) được nêu trong Báo cáo của Chính phủ. Ủy ban cho rằng nội dung sửa đổi đã cơ bản thể chế hóa các quan điểm, định hướng của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; đổi mới hệ thống tổ chức quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập; hoàn thiện môi trường pháp lý về giáo dục, phù hợp với Hiến pháp 2013. Việc sửa đổi toàn diện Luật Giáo dục nhằm tạo cơ sở pháp lý để nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng nguồn nhân lực, tăng tính dân chủ, tự chủ của các cơ sở giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.
    2. Về hồ sơ Dự án Luật
    Ủy ban nhận thấy hồ sơ Dự án Luật Giáo dục (sửa đổi) đã được Chính phủ chuẩn bị đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến.
    Tuy nhiên, để làm rõ hơn căn cứ của việc đề xuất các chính sách mới và sửa đổi các điều khoản của Dự án Luật, đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục đánh giá tác động, xác định rõ cơ sở lý luận và thực tiễn để xem xét thấu đáo những vấn đề do thực tiễn đặt ra, thể hiện được định hướng phát triển lâu dài và bền vững cho giáo dục Việt Nam; tổ chức lấy ý kiến rộng rãi trong Nhân dân về Dự thảo Luật theo kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp thứ 26; tổng hợp, làm căn cứ sửa đổi các quy định của Luật bảo đảm hợp lý, có tính khả thi cao.
    3. Về kết cấu, bố cục Dự thảo Luật
    Đa số thành viên Ủy ban cơ bản tán thành với kết cấu Dự thảo Luật do Chính phủ trình và cho rằng, Dự thảo Luật Giáo dục (sửa đổi) lần này đã bảo đảm yêu cầu vừa sửa đổi toàn diện, vừa kế thừa cấu trúc của Luật Giáo dục hiện hành. Với 10 Chương, 121 điều, trong đó sửa đổi, bổ sung 75 điều, Dự thảo Luật đã được sắp xếp các chương, mục, điều, khoản khá phù hợp. 
    Để bảo đảm chất lượng dự án Luật, Ủy ban đề nghị Ban soạn thảo cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện cấu trúc, bố cục Dự thảo Luật theo hướng súc tích, mạch lạc, rõ ràng hơn. Một số ý kiến đề nghị Ban soạn thảo cần tiếp tục nghiên cứu quy định về triết lý giáo dục; bổ sung quy định cụ thể về cơ chế, chính sách nhằm huy động có hiệu quả các nguồn lực xã hội cho giáo dục, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật có liên quan. 
    Ngoài ra, Ủy ban đề nghị Ban soạn thảo trong quá trình xây dựng Luật cần quan tâm các lĩnh vực, đối tượng chưa có luật điều chỉnh chi tiết như giáo dục mầm non (GDMN), giáo dục phổ thông (GDPT), giáo dục thường xuyên (GDTX), nhà giáo,… tạo tiền đề cho việc xây dựng các luật chuyên ngành khi có điều kiện.
    II. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ THẢO LUẬT
    1. Về hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở, liên thông
    Ủy ban cơ bản đồng tình với quy định của Dự thảo Luật về tính chất mở, liên thông của hệ thống giáo dục quốc dân; bổ sung quy định về việc sử dụng kết quả học tập mà người học đã đạt được để liên thông giữa các cấp học, các trình độ khác cùng ngành nghề hoặc khi người học muốn chuyển ngành nghề, chuyển hình thức và trình độ đào tạo khác. Quy định này nhằm thúc đẩy việc phân luồng, định hướng nghề nghiệp, góp phần tạo điều kiện bình đẳng trong cơ hội tiếp cận giáo dục, đào tạo để phát triển năng lực bản thân.
    Đối với GDTX, Ủy ban tán thành với cơ cấu điều, mục quy định về GDTX. Tuy nhiên, đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, làm rõ khái niệm, phương thức tổ chức; quy định các chính sách để GDTX phát triển đúng hướng, nhằm thúc đẩy cơ hội bình đẳng cho mọi người và góp phần xây dựng xã hội học tập. Đồng thời làm rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý, bảo đảm chất lượng các cơ sở GDTX, tránh đầu tư nguồn lực lãng phí, dàn trải, hiệu quả đầu tư thấp.
    2. Về các loại hình cơ sở giáo dục (Điều 45)
    Ủy ban cho rằng, việc xác định rõ các loại hình cơ sở giáo dục và chủ thể thành lập nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân như quy định trong Dự thảo Luật có ý nghĩa quan trọng trong việc quy hoạch, phát triển cơ sở giáo dục. Do vậy, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, xác định các loại hình cơ sở giáo dục đang tồn tại hoặc sẽ hình thành, phát triển, tham khảo kinh nghiệm quốc tế để xây dựng khung chính sách về hệ thống cơ sở giáo dục phù hợp. Quy định cụ thể về trách nhiệm của Nhà nước trong việc thành lập, vận hành và phát triển các cơ sở giáo dục công lập; hỗ trợ để các cơ sở giáo dục dân lập, tư thục phát triển minh bạch, hiệu quả và thống nhất với các quy định trong các đạo luật chuyên ngành có liên quan.
    Ủy ban đề nghị làm rõ trong Luật về mô hình trường phổ thông có nhiều cấp học; về khái niệm, sự khác biệt trong cơ chế tài chính giữa cơ sở giáo dục tư thục với cơ sở giáo dục tư thục không vì lợi nhuận; vấn đề sở hữu đối với phần tài sản hình thành trong quá trình tích lũy, tái đầu tư, đặc biệt là phần tài sản chung hợp nhất không chia của các cơ sở giáo dục tư thục không vì lợi nhuận và chính sách ưu tiên cho loại hình này. Ngoài ra, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, bổ sung quy định điều chỉnh quá trình chuyển đổi mô hình cơ sở GDMN, GDPT từ công lập ra ngoài công lập ở những địa phương có khả năng xã hội hoá cao.
    3. Về chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông (Điều 30)
    Ủy ban cơ bản đồng tình với việc luật hóa các quy định trong Nghị quyết 88 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa (SGK) GDPT. Tuy nhiên, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, quy định cơ chế tài chính để bảo đảm công bằng trong việc biên soạn và sử dụng SGK, trách nhiệm nhà nước trong đảm bảo cung cấp sách giáo khoa cho vùng dân tộc thiểu số; quy định cụ thể về việc các tổ chức, cá nhân biên soạn SGK; về Hội đồng và quy trình thẩm định, bảo đảm công bằng trong thẩm định, phê duyệt SGK.
    4. Về quy định liên quan đến người học
    a) Về phổ cập giáo dục (Điều 13)
    Ủy ban cơ bản nhất trí với Ban soạn thảo trong việc cụ thể hoá Hiến pháp 2013 về phổ cập giáo dục. Tuy nhiên, đề nghị Ban soạn thảo cần quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước, trách nhiệm pháp lý của gia đình, người giám hộ trong việc tạo điều kiện cho người học được học tập đạt trình độ phổ cập giáo dục bắt buộc; bổ sung quy định về trách nhiệm của chính quyền địa phương đối với phổ cập giáo dục và đối với phổ cập giáo dục bắt buộc.
    b) Về chính sách không thu học phí đối với trẻ em mầm non 5 tuổi, học sinh trung học cơ sở (THCS) công lập; hỗ trợ đóng học phí đối với trẻ em, học sinh diện phổ cập tại cơ sở giáo dục dân lập, tư thục (Điều 97)
    Ủy ban tán thành với việc bổ sung chính sách không thu học phí đối với học sinh diện phổ cập như trong Dự thảo Luật và ủng hộ việc giao Chính phủ quy định lộ trình thực hiện chính sách không thu học phí đối với học sinh THCS trường công lập và hỗ trợ đóng học phí đối với học sinh THCS trường tư thục; trước mắt ưu tiên triển khai thực hiện chính sách này ở vùng miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Tuy nhiên, cần quy định trong Dự thảo Luật điều khoản chuyển tiếp về thời điểm thực hiện, cũng như các chính sách phát triển xã hội hóa tương ứng. 
    Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục nghiên cứu quy định Chính phủ có lộ trình mở rộng đối tượng, không thu học phí đối với trẻ em dưới 5 tuổi khi cân đối được nguồn lực.
    c) Về chính sách tín dụng sư phạm (Điều 83)
    Ủy ban cơ bản tán thành với Dự thảo Luật về chính sách tín dụng dành cho học sinh, sinh viên sư phạm và bổ sung quy định về việc hoàn trả đối với những trường hợp người học không có nhu cầu sử dụng tín dụng sư phạm nhưng ra trường vẫn làm trong ngành giáo dục. Tuy nhiên, để thu hút sinh viên giỏi vào ngành sư phạm và đảm bảo đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn tới, đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, quy định rõ việc quy hoạch mạng lưới các trường sư phạm, chương trình đào tạo, quy mô đào tạo gắn với điều kiện bảo đảm chất lượng; dự báo nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực; tạo điều kiện cho sinh viên sư phạm ra trường có cơ hội tìm được việc làm. 
    Có ý kiến đề nghị giữ lại quy định miễn học phí cho học sinh, sinh viên sư phạm và chế độ phân công công tác theo kết quả đầu ra để thể hiện chính sách ưu tiên, quy hoạch của Nhà nước trong việc đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo.
    d) Về giáo dục hòa nhập (Điều 14)
    Ủy ban tán thành việc bổ sung quy định chung về giáo dục hòa nhập, bổ sung quy định trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập và sửa đổi về đầu tư cho cơ sở giáo dục ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đồng thời đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định cụ thể về các điều kiện bảo đảm giáo dục hòa nhập trong Dự thảo Luật để thực hiện quyền của người học.
    5. Về quy định liên quan đến nhà giáo
    a) Về chính sách nâng chuẩn trình độ được đào tạo đối với giáo viên mầm non từ trung cấp sư phạm lên cao đẳng sư phạm (Điều 72)
    Đa số thành viên Ủy ban cơ bản tán thành với quy định nâng chuẩn trình độ được đào tạo đối với giáo viên mầm non từ trung cấp sư phạm lên cao đẳng sư phạm. Tuy nhiên, đề nghị Ban soạn thảo giải trình rõ về tiêu chí chuẩn hóa đội ngũ; về phương thức đào tạo nâng chuẩn, các nguồn lực thực hiện chính sách để bảo đảm tính khả thi; đánh giá tác động của chính sách đối với các trường trung cấp sư phạm và số giáo sinh sư phạm đang theo học hệ trung cấp khi chính sách này được thực hiện.
    Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc, làm rõ sự cần thiết của việc nâng chuẩn trình độ cao đẳng đối với giáo viên mầm non, trong khi tình trạng thiếu giáo viên mầm non chưa được khắc phục, điều kiện bảo đảm chất lượng GDMN chưa đạt yêu cầu, giáo viên mầm non ở nhóm trẻ dưới 5 tuổi chủ yếu làm nhiệm vụ nuôi nhiều hơn dạy.
    b) Về chính sách lương đối với nhà giáo (Điều 76)
    Chủ trương chính sách tiền lương phải tương xứng với đặc thù nghề, với vị trí, vai trò của nhà giáo là quan điểm nhất quán trong các nghị quyết của Đảng. Tuy nhiên, việc thể chế hoá quan điểm trên trong hệ thống luật pháp còn bất cập, đặc biệt từ sau việc sửa đổi Luật Giáo dục vào các năm 2005, 2009. 
    Về nội dung này, đa số ý kiến đồng tình với quy định về lương nhà giáo tại Điều 76 của Dự thảo Luật và cho rằng, quy định này đã phù hợp với Nghị quyết số 27 của TW về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng Nghị quyết 27 quy định chính sách lương chung cho các ngành, lĩnh vực, chưa tính đến đặc thù riêng của nghề giáo. 
    Ủy ban đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, quy định cụ thể trong dự thảo Luật về chính sách lương bảo đảm tương xứng với đặc thù nghề nghiệp, vị trí, vai trò của nhà giáo; về trách nhiệm quàn lý nhà nước của các Bộ chức năng trong xây dựng chính sách tiền lương và quản lý biên chế.
    6. Quản lý nhà nước về giáo dục (Chương VIII)
    Ủy ban cơ bản đồng ý với những sửa đổi trong quy định nội dung quản lý nhà nước về giáo dục và cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục như trong Điều 102, 103 Dự thảo Luật. Tuy nhiên, đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi một cách tổng thể về quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, bổ sung cho phù hợp; quy định rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phối hợp quản lý giáo dục và đổi mới quản lý giáo dục; đẩy mạnh phân cấp, nâng cao tính dân chủ, tự chủ và trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục; phân định rõ trách nhiệm giữa công tác quản lý nhà nước với quản trị cơ sở giáo dục.
    7. Về quản trị của cơ sở giáo dục
    Ủy ban cơ bản tán thành với việc điều chỉnh, bổ sung, làm rõ cơ cấu, tổ chức quản trị đối với các loại hình nhà trường bao gồm Hội đồng trường và Hiệu trưởng; thống nhất tên gọi Hội đồng trường đối với tất cả loại hình trường, Hội đồng Đại học đối với các Đại học; bổ sung các quy định để làm rõ quyền tự chủ của cơ sở giáo dục công lập về chuyên môn, tổ chức, nhân sự và tài chính, tài sản. Đồng thời làm rõ cơ chế quan hệ, quản lý hành chánh giữa Hội đồng trường và Hiệu trưởng. 
    Trách nhiệm giải trình là một nội dung quan trọng của tự chủ đối với cơ sở giáo dục đào tạo, dự thảo Luật đã quy định về nội dung này. Tuy nhiên, để đảm bảo tính khả thi của quy định này, Uỷ ban đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục xem xét, rà soát và làm rõ phạm vi, quy trình, nội dung, chủ thể và đối tượng giải trình một cách cụ thể trong Dự thảo Luật. 
    Ngoài ra, có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc và làm rõ sự cần thiết của việc hình thành Hội đồng trường ở cơ sở GDMN. 
    8. Về đầu tư, tài chính trong giáo dục
    Ủy ban tán thành quy định trong Luật đầu tư từ ngân sách nhà nước cho giáo dục, bảo đảm tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước và xác định trách nhiệm của Chính phủ trong việc báo cáo Quốc hội hàng năm về việc quản lý và sử dụng kinh phí này. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, xác định và phân loại các nguồn kinh phí đầu tư cho giáo dục, từ đó có các chính sách tài chính phù hợp với từng cấp học, trình độ đào tạo và từng loại đầu tư. Nghiên cứu chính sách, quy định trách nhiệm cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương và cơ sở giáo dục, đào tạo trong việc phân bổ, quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước trong giáo dục và đào tạo một cách hiệu quả nhất.
    Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu chính sách khuyến khích các cá nhân, tập thể và quy định trách nhiệm của doanh nghiệp trong đóng góp kinh phí cho giáo dục đào tạo. Quy định nguyên tắc cho phép các cơ sở giáo dục đào tạo hình thành các quỹ phát triển ngoài ngân sách phù hợp với luật pháp.  
    III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁC CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
    1. Về việc thí điểm, thực nghiệm trong lĩnh vực giáo dục (Điều 103)
    Ủy ban tán thành việc bổ sung quy định Chính phủ báo cáo các dự án thí điểm và trình Quốc hội quyết định trước khi áp dụng đại trà đối với chính sách mới trong giáo dục đã được thí điểm thành công. 
    Để khắc phục những tồn tại, vướng mắc trong triển khai thí điểm, đề nghị Ban soạn thảo bổ sung quy định về nội dung, quy trình xây dựng, thẩm định và phê duyệt của một đề án thí điểm, thực nghiệm trong lĩnh vực giáo dục. 
    2. Về thi tốt nghiệp trung học phổ thông và cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông (Điều 32)
    Đa số ý kiến Ủy ban cho rằng, việc tổ chức kỳ thi để cấp bằng tốt nghiệp THPT là cần thiết để điều chỉnh việc dạy học và đánh giá kết quả của quá trình GDPT; cung cấp dữ liệu quốc gia cho việc nghiên cứu, xây dựng, điều chỉnh chính sách giáo dục cũng như tuyển sinh đại học. Ủy ban đồng ý quy định về thi và cấp bằng tốt nghiệp THPT như trong Dự thảo Luật và đề nghị giao Chính phủ quy định cụ thể trong các văn bản dưới Luật. 
    Về quy định nhà trường cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình GDPT theo yêu cầu của học sinh, Ủy ban cơ bản đồng ý và cho rằng đây là điều kiện cần để tăng cường thúc đẩy phân luồng, liên thông. Tuy nhiên, đề nghị Ban soạn thảo  nghiên cứu, quy định cụ thể trong Luật cơ chế liên thông giữa các cấp, hệ đào tạo; quy định quy trình bảo đảm việc học sinh sau tốt nghiệp trung cấp nghề có thể tiếp tục học các trình độ cao hơn một cách thuận lợi khi họ có nguyện vọng.
    3. Về mô hình trường công lập cung cấp dịch vụ giáo dục chất lượng cao 
    Trong thực tế, mô hình trường công lập cung cấp dịch vụ giáo dục chất lượng cao đang tồn tại và phát triển ở nhiều địa phương, nhất là các thành phố lớn; hoạt động theo các quy chế đặc thù riêng, các văn bản dưới Luật.
    Ủy ban cho rằng, nhà nước có trách nhiệm ưu tiên tập trung chăm lo giáo dục đại trà một cách chuẩn mực, từng bước phổ cập giáo dục; trong đó quan tâm giáo dục vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và bồi dưỡng tài năng, quan tâm bảo đảm quyền học tập cho người học thuộc nhóm thiệt thòi, yếu thế.
    Mô hình giáo dục chất lượng cao nên khuyến khích phát triển tại các cơ sở giáo dục dân lập, tư thục nhằm huy động sự chia sẻ, sự tham gia của cộng đồng, của xã hội, đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người học. Trên quan điểm đó, đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, quy định về mô hình này. 
    4. Về chính sách ưu tiên phát triển nhân tài
    Hiến pháp 2013 đã quy định về bồi dưỡng, ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài và coi đây là tiền đề quan trọng để ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước. Tuy nhiên, Ủy ban cho rằng quy định về chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhân tài chưa được thể hiện một cách đầy đủ trong Dự thảo Luật. Đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, quy định rõ hơn.   
    Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu giáo dục phổ thông có sự thay đổi theo hướng phát triển toàn diện, coi trọng phát triển năng lực cá nhân để phát huy sức sáng tạo của người học. Theo đó, Ủy ban đề nghị Ban soạn thảo cần nghiên cứu, quy định chính sách phù hợp đối với hệ thống trường chuyên tại các tỉnh, thành phố; có ý kiến đề nghị cân nhắc chuyển tên gọi trường chuyên là trường năng khiếu nhằm thể hiện năng lực đặc thù trong khoa học như với các lĩnh vực năng khiếu khác: thể thao, nghệ thuật,…
    5. Về việc quy định chi tiết, bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật và kỹ thuật văn bản 
    Ngoài các kiến nghị cụ thể nêu trên, Ủy ban đề nghị Ban soạn thảo rà soát kỹ lưỡng nội dung các vấn đề dự kiến sẽ quy định chi tiết ở các văn bản dưới Luật, nghiên cứu để đưa ngay vào Luật các nguyên tắc, làm căn cứ hướng dẫn thi hành; tiếp tục hoàn thiện dự thảo các văn bản hướng dẫn, bảo đảm đầy đủ và kịp thời. Đề nghị Ban soạn thảo rà soát các quy định đối với các lĩnh vực đã có luật chuyên ngành, như Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học trong quá trình sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảm tính hoàn chỉnh, thống nhất của Dự thảo Luật, nghiên cứu những vấn đề phát sinh trong thực tiễn mà Luật chưa quy định, như thi tuyển vào THPT.
    Mặt khác, để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, Ủy ban đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục hoàn thiện về kỹ thuật văn bản, rà soát các quy định của pháp luật có liên quan để tránh mâu thuẫn, chồng chéo với quy định nêu trong Dự thảo Luật.
    Ủy ban đề xuất một số nội dung đề nghị các vị đại biểu Quốc hội tập trung thảo luận như sau:
    1. Về chính sách, trách nhiệm nhà nước đối với phổ cập giáo dục bắt buộc và phổ cập giáo dục (Điều 97)
    2. Về chính sách nâng chuẩn trình độ được đào tạo đối với giáo viên mầm non từ trung cấp sư phạm lên cao đẳng sư phạm (Điều 83)
    3. Về chính sách lương đối với nhà giáo (Điều 76)
    4. Về đầu tư, tài chính và xã hội hóa giáo dục (Chương VII)
    5. Về mô hình trường công lập cung cấp dịch vụ giáo dục chất lượng cao.
    Trên đây là Báo cáo thẩm tra (tóm tắt) của Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội đối với Dự án Luật Giáo dục (sửa đổi). Xin kính trình Quốc hội.
THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com