Chủ nhật, ngày 24/02/2019login
  • Tờ trình Chính phủ về dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi)Góp ý

    Cơ quan ban hành: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

    Mô tả:  (Dự thảo Tờ trình lần hai đăng tại Cổng thông tin điện tử Chính phủ để lấy ý kiến người dân từ ngày 21/4 đến 21/6/2017)

  • TỜ TRÌNH CHÍNH PHỦ
    Về dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi)

    Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ
    Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, thực hiện Quyết định số 1840/QĐ-TTg ngày 23/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và thời hạn thời hạn trình các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết được bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2017, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xin trình Thủ tướng Chính phủ dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi) như sau:
    I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH BỘ LUẬT LAO ĐỘNG (SỬA ĐỔI)
    Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành ngày 23 tháng 6 năm 1994, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1995, đã qua bốn lần sửa đổi bổ sung vào các năm 2002, 2006, 2007 và 2012; trong đó lần sửa đổi năm 2012 là lần sửa đổi toàn diện. Trong hệ thống pháp luật lao động của nước ta, sau Hiến pháp, Bộ luật Lao động giữ vị trí rất quan trọng điều chỉnh một lĩnh vực rộng lớn các quan hệ lao động có tính kinh tế - xã hội sâu rộng, tác động tất cả các thành phần kinh tế, mọi doanh nghiệp, các tổ chức, cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ và người lao động; đã tạo lập các chuẩn mực pháp lý cho các chủ thể tham gia thị trường lao động, đưa ra các quy tắc ứng xử cho các chủ thể trong tuyển dụng và sử dụng lao động và thiết lập các hành lang pháp lý quan trọng cho việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa.
    Tuy nhiên, sau nhiều năm áp dụng thực thi trên thực tế, việc sửa đổi Hiến pháp năm 2013 và các luật có liên quan, trước đòi hỏi của hội nhập thương mại quốc tế và phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong những năm gần đây, đã xuất hiện các yêu cầu đòi hỏi Bộ luật Lao động cần phải được tiếp tục hoàn thiện:
    - Quá trình áp dụng Bộ luật Lao động đã xuất hiện nhiều vướng mắc, bất cập từ thực tiễn hơn 3 năm thi hành.
    Tổng kết 3 năm thi hành, nhiều doanh nghiệp, người lao động, tổ chức đại diện người sử dụng và công đoàn đã phản ánh nhiều vướng mắc, bất cập xuất phát từ không chỉ từ việc thực hiện các văn bản hướng dẫn chi tiết Bộ luật Lao động mà còn xuất phát từ việc áp dụng nội dung của các điều luật trong Bộ luật Lao động, cụ thể trên một số nội dung về: hợp đồng lao động, tiền lương, thời giờ làm việc, kỷ luật lao động, lao động nữ, lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể, giải quyết tranh chấp lao động và đình công… Các vướng mắc, bất cập đó đòi hỏi nội dung một số điều trong các Chương của Bộ luật Lao động cần được sửa đổi, bổ sung để đảm bảo sự thực thi hiệu quả trong thực tế áp dụng.
    - Thể chế hóa quy định của Hiến pháp sửa đổi năm 2013 và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
    Quá trình soạn thảo Bộ luật Lao động 2012 (từ năm 2008 - 5/2012), dù dự thảo Bộ luật đã cố gắng tiếp thu cơ bản tinh thần của dự thảo Hiến pháp nhưng sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành, nội dung của Bộ luật Lao động vẫn chưa thể chế hóa được các nội dung của Hiến pháp liên quan đến quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Do vậy, Bộ luật Lao động cần được tiếp tục sửa đổi để bổ sung các chế định mới nhằm thể chế hoá Hiến pháp năm 2013 về quyền con người trong trong lĩnh vực lao động, quan hệ lao động và thị trường lao động.
    Bên cạnh đó, trong những năm gần đây Quốc hội đã ban hành nhiều Luật mới làm ảnh hưởng tới nội dung của Bộ luật Lao động như: Bộ luật Hình sự năm 2015 , Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2015 , Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các Luật chuyên ngành tách ra từ nội dung của Bộ luật Lao động (như: Luật Việc làm năm 2013, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Luật an toàn - vệ sinh lao động năm 2015). Do đó, Bộ luật Lao động cần tiếp tục được sửa đổi nhằm đảm bảo sự thống nhất, sự phù hợp với nội dung của các Luật mới ban hành gần đây.
    - Nội luật hóa các tiêu chuẩn lao động quốc tế phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội để thực hiện tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
    Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình đổi mới ở trong nước trong thời gian qua đặt ra yêu cầu "nội luật hóa theo lộ trình phù hợp những điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trước hết là luật pháp về thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, lao động - công đoàn" .
    Trong lĩnh vực lao động, các cam kết trong khuôn khổ Liên hợp quốc, nghĩa vụ là thành viên của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới yêu cầu Việt Nam có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động của người lao động. So sánh, đối chiếu Bộ luật Lao động 2012 với các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản quy định trong các công ước của ILO thì vẫn còn một số nội dung chưa tương thích, chủ yếu tập trung vào các nội dung về quyền tự do liên kết và thúc đẩy thương lượng tập thể. Do vậy, cần tiếp tục sửa đổi bổ sung Bộ luật Lao động để bảo đảm sự phù hợp với các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và thể chế chính trị của Việt Nam.
    II. MỤC ĐÍCH, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG DỰ ÁN BỘ LUẬT LAO ĐỘNG (SỬA ĐỔI)
    1. Mục đích
    Mục tiêu của dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi) gồm:
    - Sửa đổi, bổ sung tất cả các điều khoản mà tổng kết thi hành gặp vướng mắc, bất cập cũng như các vấn đề mới phát sinh từ thực tế mà luật chưa điều chỉnh.
    - Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 về các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân trong lĩnh vực lao động, quan hệ lao động và thị trường lao động.
    - Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.
    - Tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; nâng cao vai trò, vị thế của tổ chức đại diện của người lao động trong quan hệ lao động.
    - Đáp ứng các yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
    2. Quan điểm chỉ đạo
    Bộ luật Lao động (sửa đổi) được xây dựng dựa trên các quan điểm chỉ đạo sau đây:
    - Thứ nhất, thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy thị trường lao động phát triển; kiến tạo khung pháp luật về lao động nhằm phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để nâng cao năng lực cạnh tranh lao động quốc gia.
    - Thứ hai, Bảo đảm quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân trong lĩnh vực lao động theo tinh thần Hiến pháp 2013; hoàn thiện khung pháp luật về lao động hỗ trợ doanh nghiệp thuận lợi hơn trong quá trình tuyển dụng, sử dụng lao động để doanh nghiệp phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh.
    - Thứ ba, tiếp thu, nội luật hóa các tiêu chuẩn lao động quốc tế, đặc biệt là các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản phù hợp với mức độ phát triển kinh tế - xã hội và thể chế chính trị của đất nước, phục vụ quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 5/11/2016 của Hội nghị lần thứ 4, Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII.
    - Thứ tư, xây dựng các nền tảng pháp lý nhằm cải cách bộ máy quản lý nhà nước về lao động, quan hệ lao động theo hướng xây dựng và phát triển thị trường lao động; giảm thiểu các tranh chấp lao động và hỗ trợ xây dựng quan hệ lao động hài hòa tại doanh nghiệp.
    - Thứ năm, bảo đảm tính khả thi khi áp dụng trên thực tiễn và sự đồng bộ của hệ thống pháp luật về lao động.
    III. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG DỰ ÁN BỘ LUẬT LAO ĐỘNG (SỬA ĐỔI)
    1. Tổng kết, đánh giá 3 năm thi hành Bộ luật lao động
    Từ tháng 5/2016, Bộ đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép chủ động nghiên cứu, đánh giá tổng kết Bộ luật Lao động 2012.
    Được sự đồng ý cho phép của Thủ tướng Chính phủ, Bộ LĐTBXH đã có công văn đề nghị các Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước tiến hành đánh giá, tổng kết 3 năm thi hành Bộ luật Lao động. Đến nay, Bộ đã nhận được Báo cáo tổng kết 3 năm thi hành Bộ luật Lao động của 53 Sở LĐTBXH, 20 Ban quản lý, 13 Tập đoàn, tổng công ty, hiệp hội và 10 Bộ, ngành. Ngoài ra, Bộ đã tiến hành tổ chức 04 Hội nghị đánh giá tổng kết 3 năm Bộ luật Lao động: 2 Hội nghị tại Đà Nẵng và tại Hà Nội cho các đối tượng là cán bộ Sở LĐTBXH, Liên đoàn lao động, Ban quản lý khu công nghiệp các tỉnh Miền Trung và Miền Nam; và 02 Hội nghị tại thành phố Hồ Chí Minh và tại Hà Nội cho các đối tượng là doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp.
    Trên cơ sở ý kiến tổng kết của các Bộ, ngành, địa phương, Bộ đã hoàn thiện dự thảo Báo cáo tổng kết 3 năm thi hành Bộ luật lao động. Báo cáo tổng kết 3 năm thi hành Bộ luật Lao động cũng đã được đăng trên website của Bộ để lấy ý kiến nhân dân.
    2. Thành lập và hoạt động của Ban soạn thảo, Tổ biên tập
    Bộ đã thành lập Ban soạn thảo, Tổ biên tập theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015: Quyết định số 1514/QĐ-LĐTBXH ngày 02/11/2016 và Quyết định số 1516/QĐ-LĐTBXH ngày 02/11/2016 . Sau khi thành lập, Tổ biên tập đã họp nhiều lần để thảo luận và trực tiếp soạn thảo thảo các nội dung trong dự thảo; Ban soạn thảo đã họp để thảo luận, cho ý kiến chỉ đạo về các nội dung lớn của dự thảo.
    Quá trình soạn thảo, Ban soạn thảo cũng đã thảo luận và báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc thay đổi tên gọi, thời hạn trình Quốc hội và các nội dung của dự án Bộ luật .
    3. Chuẩn bị các tài liệu trong hồ sơ dự án Luật
    Đã chuẩn bị các tài liệu trong bộ Hồ sơ dự án Luật trình Chính phủ gồm: Báo cáo tổng kết 03 năm thi hành Bộ luật lao động, Báo cáo đánh giá tác động, Báo cáo rà soát Bộ luật lao động với Hiến pháp và các luật hiện hành, Tờ trình Chính phủ, Dự thảo Luật, Báo cáo lồng ghép giới và một số tài liệu tham khảo.
    4. Về việc lấy ý kiến góp ý trong quá trình soạn thảo
    - Ngày 08/12/2016, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã có Công văn gửi các Bộ, ngành, đoàn thể và địa phương xin ý kiến tham gia vào dự thảo Luật.
    - Từ tháng 8/2016 đến tháng 1/2016, Bộ đã chủ trì phối hợp với Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Phòng Thương mại công nghiệp Việt Nam, Bảo hiểm xã hội Việt Nam tổ chức các Hội nghị tại phía Bắc và phía Nam để lấy ý kiến góp ý dự thảo của các Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Liên đoàn lao động, Ban quản lý khu công nghiệp, cơ quan bảo hiểm xã hội, hiệp hội doanh nghiệp, doanh nghiệp và các chuyên gia.
    - Đăng website để lấy ý kiến nhân dân, đối tượng tác động: dự thảo Luật đã được đăng website 2 lần, cụ thể:
    Lần 1: Ngày 22/11/2016, dự thảo Luật và dự thảo Tờ trình Chính phủ về dự án Luật đã được đăng lên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Cổng thông tin điện tử Quốc hội và Cổng thông tin điện tử Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để lấy ý kiến rộng rãi các đối tượng bị tác động.
    Sau 2 tháng lấy ý kiến, dự thảo đã nhận được 110 lượt văn bản góp ý của các Bộ, ngành, địa phương, hiệp hội doanh nghiệp và khoảng 2000 ý kiến góp ý trên website của Bộ. Qua tổng hợp ý kiến, dư luận quan tâm nhiều các nội dung về: hợp đồng lao động, tiền lương, làm thêm giờ, tuổi nghỉ hưu, đối thoại, thương lượng tập thể, giải quyết tranh chấp và đình công.
    Lần 2: Sau khi tiếp thu ý kiến góp ý sau khi đăng dự thảo lên website lần 1, dự thảo tiếp tục được đăng website lần 2 từ cuối tháng 3/2017.
    IV. BỐ CỤC, NỘI DUNG CỦA DỰ THẢO LUẬT
    1. Bố cục
    Dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi có sự thay đổi về bố cục, kết cấu so với hiện hành như sau:
    - Dự thảo có 18 chương, 231 điều (hiện hành là 17 chương, 242 điều). Có sự thay đổi về số Chương, Điều là do:
    Chương V cũ (Đối thoại tại nơi làm việc, Thương lượng tập thể và Thỏa ước lao động tập thể) được tách thành 2 Chương mới là Chương Đối thoại tại nơi làm việc và Chương Thương lượng tập thể, Thỏa ước lao động tập thể;
    Rà soát, chỉnh sửa và lược bỏ các Điều có nội dung đã được quy định bởi các luật khác tại: Chương Việc làm để đảm bảo tính thống nhất, phù hợp với Luật Việc làm; Chương Học nghề, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề để đảm bảo tính thống nhất, phù hợp với Luật Giáo dục Nghề nghiệp; Chương An toàn lao động - Vệ sinh lao động để đảm bảo tính thống nhất, phù hợp với Luật An toàn, vệ sinh lao động; Chương Giải quyết tranh chấp lao động để đảm bảo tính thống nhất, phù hợp với Bộ luật Tố tụng Dân sự; Chương Hợp đồng lao động và các Chương khác để đảm bảo tính thống nhất, phù hợp với Luật Doanh nghiệp, Bộ luật dân sự.
    Bổ sung một số Điều mới về tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp tại Chương XII; việc tham gia thương lượng tập thể, đối thoại tại nơi làm việc trong bối cảnh có thêm tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.
    - Trật tự các Chương trong dự thảo được sắp xếp lại so hiện hành: Chương Đối thoại tại nơi làm việc (Chương XIII) và Chương Thương lượng tập thể, Thỏa ước lao động tập thể (Chương XIV) được sắp xếp thứ tự sau Chương XII (Tổ chức đại diện của người lao động) để liền mạch, logic với các quyền nghĩa vụ của tổ chức đại diện của người lao động tại doanh nghiệp trong thúc đẩy thương lượng tập thể và giải quyết tranh chấp lao động trong quan hệ lao động.
    - Bố cục của Bộ luật Lao động (sửa đổi) như sau:
    Chương I: Những quy định chung;
    Chương II. Việc làm;
    Chương III. Hợp đồng lao động;
    Chương IV. Học nghề, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề;
    Chương V. Tiền lương;
    Chương VI. Thời giờ làm việc – Thời giờ nghỉ ngơi;
    Chương VII. Kỷ luật lao động – Trách nhiệm vật chất;
    Chương VIII. An toàn lao động, vệ sinh lao động;
    Chương IX. Những quy định riêng đối với lao động nữ;
    Chương X. Những quy định riêng đối với lao động chưa thành niên và một số loại lao động khác;
    Chương XI. Bảo hiểm xã hội;
    Chương XII. Tổ chức đại diện của người lao động;
    Chương XIII. Đối thoại tại nơi làm việc;
    Chương XIV. Thương lượng tập thể, Thỏa ước lao động tập thể;
    Chương XV. Giải quyết tranh chấp lao động;
    Chương XVI. Quản lý nhà nước về lao động;
    Chương XVII. Thanh tra lao động, xử phạt vi phạm pháp luật về lao động;
    Chương XVIII. Điều khoản thi hành.
    2. Nội dung cơ bản
    2.1. Nhóm nội dung liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung những bất cập từ thực tiễn áp dụng Bộ luật Lao động và tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp trong tuyển dụng, quản lý và sử dụng lao động
    Dự thảo tập trung vào việc sửa đổi, bổ sung các chủ đề lớn sau: Hợp đồng lao động (sửa đổi, bổ sung các quy định về loại hợp đồng lao động, cho phép ký kết nhiều lần hợp đồng lao động xác định thời hạn với lao động cao tuổi và lao động nước ngoài, sửa đổi các quy định về chấm dứt hợp đồng lao động, sửa đổi quy định về phụ lục hợp đồng, thử việc, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, cho thuê lại lao động: thời hạn, danh mục công việc, tiền ký quỹ..); Kỷ luật lao động – Trách nhiệm vật chất (sửa đổi, bổ sung các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động, nội quy lao động...); Lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (sửa đổi, bổ sung các quy định về công việc người nước ngoài được vào làm việc, điều kiện của người nước ngoài vào làm việc..); Tiền lương (sửa đổi, bổ sung các quy định về cơ cấu tiền lương, tiêu chí và các yếu tố xác định mức lương tối thiểu, thành phần hội đồng tiền lương quốc gia, định mức lao động, trả lương làm thêm giờ, lương làm việc ban đêm..); Thời giờ làm việc – Thời giờ nghỉ ngơi (dự thảo đang thể hiện 2 phương án về tăng giờ làm thêm của người lao động; 2 phương án về làm thêm giờ trong những trường hợp đột xuất; 2 phương án về nghỉ trong giờ làm việc; vấn đề nghỉ phép năm); Tuổi nghỉ hưu (dự thảo đang thể hiện 2 phương án về tuổi nghỉ hưu); Các tiêu chuẩn, điều kiện lao động khác (lao động cưỡng bức; phân biệt đối xử; lao động chưa thành niên; lao động cao tuổi; lao động nữ; lao động đặc thù khác).
    2.2. Nhóm nội dung liên quan đến việc thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các Luật khác.
    Dự thảo đã sửa đổi, bổ sung các quy định tại: các Chương Việc làm để đảm bảo tính thống nhất, phù hợp với Luật Việc làm; Chương Học nghề, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề để đảm bảo tính thống nhất, phù hợp với Luật Giáo dục Nghề nghiệp; Chương An toàn lao động - Vệ sinh lao động để đảm bảo tính thống nhất, phù hợp với Luật An toàn, vệ sinh lao động; Chương Giải quyết tranh chấp lao động để đảm bảo tính thống nhất, phù hợp với Bộ luật Tố tụng Dân sự; Chương Hợp đồng lao động và các Chương khác để đảm bảo tính thống nhất, phù hợp với Luật Doanh nghiệp, Bộ luật dân sự.
    2.3. Nhóm nội dung liên quan đến nội luật hóa các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
    Dự thảo tập trung vào việc sửa đổi, bổ sung các chủ đề lớn sau: Tổ chức đại diện của người lao động (điều kiện thành lập, đăng ký hoạt động nghiệp đoàn, các hành vi nghiêm cấm và các điều kiện, phương tiện cho hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp); Đối thoại tại nơi làm việc (quy định có hệ thống về các hình thức, cơ chế đối thoại tại nơi làm việc; quy định về Ban hợp tác hai bên tại nơi làm việc để thực hiện các hình thức đối thoại trong bối cảnh có nhiều tổ chức đại diện tại cơ sở); Thương lượng tập thể và Thỏa ước lao động tập thể (điều kiện để tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp có quyền thương lượng tập thể; quy trình thương lượng tập thể nhằm bảo đảm thuận lợi hơn cho thương lượng tập thể và gắn kết quá trình thương lượng tập thể với quá trình giải quyết tranh chấp lao động; hoàn thiện các quy định về thương lượng tập thể ở cấp ngoài doanh nghiệp); Giải quyết tranh chấp lao động (sửa đổi các quy định liên quan đến thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động bằng hòa giải và trọng tài lao động, chủ thể lãnh đạo và tổ chức đình công, phạm vi đình công, trình tự thủ tục đình công); Quản lý nhà nước về lao động (thanh tra lao động; cơ quan quản lý nhà nước về lao động và quan hệ lao động).

    V. NHỮNG VẤN ĐỀ XIN Ý KIẾN
    Quá trình soạn thảo đa số các ý kiến đồng thuận với các phương án đã thể hiện trong dự thảo. Hiện còn các vấn đề sau đây có ý kiến khác nhau sau đây xin ý kiến:
    1. Về việc mở rộng khung thỏa thuận về thời giờ làm thêm của người lao động và người sử dụng lao động
    Bộ luật Lao động hiện hành quy định việc làm thêm giờ do các bên thỏa thuận nhưng số giờ làm thêm tối đa của người lao động là không quá 30 giờ/tháng và không quá 200 giờ trong 01 năm, trường hợp đặc biệt không quá 300 giờ.
    Thực hiện quy định này kể từ năm 1995 đến nay, đã có rất nhiều ý kiến của doanh nghiệp đề nghị cần tăng thời giờ làm thêm tối đa. Hàng năm tại các diễn đàn doanh nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp đều đề xuất tăng thời giờ làm thêm tối đa của người lao động lên 500 giờ/năm để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nâng cao thu nhập cho người lao động và tăng tính cạnh tranh của thị trường lao động Việt Nam so với các quốc gia trong khu vực. Qua theo dõi, khảo sát ở các địa phương thì một bộ phận không nhỏ người lao động cũng mong muốn được nới rộng khung thỏa thuận làm thêm giờ để tạo điều kiện cho họ làm thêm để nâng cao thu nhập. Ngoài ra, các doanh nghiệp còn đề xuất bỏ giới hạn làm thêm giờ theo tháng (hiện hành là không quá 30 giờ/tháng) vì việc quy định làm thêm giờ theo tháng sẽ cứng nhắc, không linh hoạt, chưa phù hợp với thực tế chu kỳ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp (đặc biệt là các doanh nghiệp phụ thuộc vào đơn hàng xuất khẩu, phụ thuộc vào mùa vụ kinh doanh như: gia công hàng hóa xuất khẩu, chế biến thủy hải sản xuất khẩu).
    Tuy nhiên, ý kiến khác đề xuất không tăng số giờ làm thêm tối đa.
    Sau khi nghiên cứu, so sánh với các quốc gia khu vực thì số giờ làm thêm tối đa của người lao động Việt Nam hiện ở mức thấp (Trung Quốc: 36 giờ/tháng, Indonexia: 56 giờ/tháng, Singapore: 72 giờ/tháng; Thailand: 36 giờ/tuần; Malaysia: 104 giờ/tháng; Lào: 45 giờ/tháng; Campuchia và Philippines: Không khống chế) nên cơ quan soạn thảo đề xuất mở rộng khung thỏa thuận về làm thêm giờ của người lao động và người sử dụng lao động theo hướng tăng số giờ làm thêm tối đa của người lao động trong 01 năm lên mức 400 giờ để hài hòa lợi ích của doanh nghiệp, người lao động và tăng tính cạnh tranh của thị trường lao động Việt Nam so với các quốc gia trong khu vực, đồng thời bỏ quy định giới hạn làm thêm giờ theo tháng và khống chế số giờ làm thêm theo ngày.
    Do đó, Điều 82 của dự thảo Bộ luật đang quy định: Bảo đảm số giờ làm thêm và số giờ làm việc tiêu chuẩn của người lao động không quá 12 giờ trong 01 ngày và tổng số giờ làm thêm của người lao động trong 01 năm không vượt quá 400 giờ.
    2. Về Tuổi nghỉ hưu
    Điều 187 của Bộ luật Lao động quy định tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện bình thường là 60 đối với nam và 55 đối với nữ.
    Thời gian qua, vấn đề tăng tuổi nghỉ hưu luôn được dư luận quan tâm và đã từng được đặt ra nhiều lần trong quá trình soạn thảo Luật Bình đẳng giới năm 2007, Bộ luật Lao động năm 2012 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014. Lần sửa đổi Bộ luật Lao động này, tiếp tục có nhiều ý kiến đề nghị tăng tuổi nghỉ hưu. Các lý do chính cho đề xuất tăng tuổi nghỉ hưu là:
    (1) Đây là một giải pháp nhằm bảo đảm cân đối Quỹ hưu trí và tử tuất trong dài hạn.
    Nếu tiếp tục giữ nguyên các quy định hiện nay về mức đóng - mức hưởng, thời gian đóng - thời gian hưởng thì Quỹ hưu trí và tử tuất sẽ mất cân đối trong dài hạn trong khi đối với một quỹ hưu trí thì tính bền vững tài chính của quỹ và tính đầy đủ trong mức hưởng của đối tượng là rất quan trọng. Theo tính toán của Tổ chức lao động quốc tế thì từ năm 2023, quỹ hưu trí và tử tuất sẽ rơi vào trạng thái thu trong năm không đủ bù chi trong năm, bắt đầu trích từ phần quỹ kết dư để chi trả; từ năm 2034, phần quỹ kết dư được chi trả hết dẫn đến Nhà nước phải bố trí ngân sách để bù đắp .
    Muốn bảo đảm bền vững tài chính của Quỹ, nếu không tăng tuổi nghỉ hưu, thì có hai cách: nâng mức đóng của người lao động và doanh nghiệp hoặc giảm mức hưởng lương hưu của người lao động. Nâng mức đóng là khó vì tăng gánh nặng tài chính của người lao động và làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Giảm mức hưởng cũng dẫn đến khó đảm bảo cuộc sống của người hưởng lương hưu.
    Vì vậy, phương án được tính đến là đề xuất nâng tuổi nghỉ hưu để cân bằng giữa thời gian đóng, mức đóng và thời gian hưởng, mức hưởng.
    (2) Tuổi thọ trung bình của dân số cả nước năm 2016 là 73,4 năm, trong đó nam là 70,8 năm, nữ là 76,1 năm ; trong khi, tuổi hưu trung bình của nam là 54,2 tuổi (Luật quy định là 60 tuổi) và nữ là 52,6 tuổi (Luật quy định là 55 tuổi). Có nghĩa là, thời gian hưởng lương hưu còn rất dài (trung bình là của nam là 16,6 năm; nữ là 23,5 năm). Thực tiễn, nhiều người nghỉ hưu vẫn tiếp tục tham gia lao động, có nhu cầu làm việc thêm, và họ vẫn có đủ sức khỏe tham gia lao động tiếp. Vì vậy, việc nâng tuổi nghỉ hưu là có thể thực hiện được.
    (3) Dân số nước ta đang chuyển từ thời kỳ dân số trẻ sang giai đoạn già hóa dân số , trong tương lai thì lực lượng lao động trẻ sẽ thiếu hụt. Việc nâng tuổi nghỉ hưu cũng là chuẩn bị cho tương lai sau này của lực lượng lao động, góp phần tận dụng được nguồn nhân lực cao tuổi nhưng có trình độ, kinh nghiệm trong bối cảnh sức khỏe người lao động càng cải thiện.
    (4) Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới đã và đang điều chỉnh tăng tuổi hưu để ứng phó với xu hướng già hóa dân số và thiếu hụt lao động, có nước lên tới 67 tuổi.
    Tuy nhiên nhiều ý kiến khác lại cho rằng không nên tăng tuổi nghỉ hưu vì các lý do sau đây:
    (1) Nhiều người lao động không muốn kéo dài thời gian làm việc mà mong muốn được nghỉ hưu ở độ tuổi hiện hành để hưởng lương hưu hàng tháng, sau đó, nếu làm việc thêm thì họ có 2 khoản thu nhập. Việc nâng tuổi nghỉ hưu, nghĩa là kéo dài thời gian làm việc để hưởng lương hưu sẽ làm giảm quyền lợi của người lao động (mất đi khoản lương hưu).
    (2) Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên nước ta trong những năm vừa qua luôn cao hơn khoảng 3 lần so với tỷ lệ thất nghiệp chung toàn quốc. Cơ cấu dân số của nước ta hiện đang trong thời kỳ "cơ cấu dân số vàng" và thời kỳ này còn kéo dài trên 1 thập kỷ nữa. Mô hình kinh tế của Việt nam đang chuyển đổi từ mô hình thâm dụng lao động, phát triển theo chiều rộng sang mô hình phát triển theo chiều sâu. Tất cả những yếu tố trên làm cho vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động trẻ vẫn là một trong những áp lực lớn trong những năm tới đây;
    (3) Việc kéo dài tuổi nghỉ hưu là không phù hợp với người lao động làm việc trong các ngành nghề lao động chân tay. Thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho thấy tuổi nghỉ hưu bình quân của nước ta là 54,17, tuy nhiên có những ngành nghề nặng nhọc, độc hại nguy hiểm thì tuổi nghỉ hưu bình quân chỉ khoảng 43 (công nhân cạo mủ cao su, làm đường, dệt may, da giầy…);
    (4) Kéo dài tuổi nghỉ hưu ảnh hưởng đến chính sách cán bộ hành chính nhà nước, công tác quy hoạch;
    (5) Nhiều người dân cho rằng kéo dài tuổi nghỉ hưu chỉ có lợi đối với cán bộ, công chức khu vực hành chính, đây là biểu hiện của "tham quyền cố vị".
    Do còn nhiều ý kiến khác nhau nên dự thảo Bộ luật hiện đang thể hiện 2 Phương án tại Điều 148 để xin ý kiến:
    Phương án 1 (hiện hành): Tuổi nghỉ hưu của người lao động bình thường làm việc trong điều kiện lao động bình thường là: nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi.
    Phương án 2 (tăng tuổi nghỉ hưu kể từ 01/1/2021 và theo lộ trình):
    Tuổi nghỉ hưu của người lao động bình thường làm việc trong điều kiện lao động bình thường là nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi. Từ 01/01/2021 cứ mỗi năm tăng thêm 06 tháng cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi.
    3. Vấn đề tổ chức đại diện của người lao động tại doanh nghiệp
    Trong quá trình soạn thảo, có hai loại ý kiến về quyền của người lao động trong việc thành lập tổ chức đại diện trong doanh nghiệp nằm ngoài hệ thống Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
    - Ý kiến thứ nhất cho rằng, Bộ luật lao động sửa đổi lần này cần bổ sung các quy định về quyền của người lao động trong việc thành lập tổ chức đại diện tại doanh nghiệp nằm ngoài hệ thống Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam. Nội dung này thực chất là nội dung sửa đổi chính, quan trọng nhất của việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động lần này.
    - Ý kiến thứ hai cho rằng, cần cân nhắc thêm và chưa nên quy định về quyền của người lao động trong việc thành lập tổ chức đại diện tại doanh nghiệp nằm ngoài hệ thống Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam tại thời điểm này.
    Dự thảo Bộ luật Lao động đang quy định về quyền thành lập tổ chức đại diện của người lao động theo loại ý kiến thứ nhất. Một số lý do và yêu cầu của việc sửa đổi, bổ sung theo hướng này như sau:
    (1) Bộ luật phải thể chế hóa quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 06-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 4, Ban chấp hành TW Đảng Khóa XII, cụ thể là phải: “Ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật về phân công trách nhiệm quản lý nhà nước để đổi mới, tăng cường quản lý có hiệu quả sự ra đời và hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh ổn định, thành công. Bảo đảm sự ra đời, hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp phù hợp với quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, kiện toàn các công cụ, biện pháp quản lý nhằm tạo điều kiện để tổ chức này hoạt động thuận lợi, lành mạnh theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với các nguyên tắc của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), đồng thời giữ vững ổn định chính trị - xã hội” .
    (2) Việc sửa đổi phải bảo đảm phù hợp với Hiến Pháp 2013, theo đó, tổ chức đại diện của người lao động không thuộc hệ thống Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam không có vị thế và chức năng chính trị-xã hội mà chỉ đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong phạm vi quan hệ lao động.
    Việc quy định về đại diện của người lao động không thuộc hệ thống Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam không phải là nội dung mới ở nước ta. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2006 đã quy định cho phép đại diện được tập thể người lao động cử có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công .
    Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) đang được thể hiện theo hướng quy định mang tính nguyên tắc những nội dung về quyền thành lập, đăng ký và phạm vi hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại Chương XII (từ Điều 149 đến Điều 157); các nội dung cụ thể khác sẽ được quy định trong văn bản dưới luật để đảm bảo sự linh hoạt, phù hợp với thực tiễn và nhu cầu quản lý nhà nước. Đồng thời, dự thảo Bộ luật quy định tên gọi của tổ chức mới của người lao động là “nghiệp đoàn”. Nghiệp đoàn lao động sẽ là tổ chức đại diện của người lao động đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không có vị thế và chức năng chính trị - xã hội và chỉ hoạt động trong phạm vi quan hệ lao động tại doanh nghiệp (Điều 149 Dự thảo).
    4. Về quy định hòa giải là thủ tục bắt buộc đầu tiên đối với mọi tranh chấp lao động tập thể
    Bộ luật Lao động hiện hành quy định hòa giải là thủ tục bắt buộc đầu tiên đối với mọi tranh chấp lao động tập thể, bao gồm: tranh chấp lao động tập thể về quyền và tranh chấp lao động tập thể về lợi ích. Trong quá trình soạn thảo, có 2 loại ý kiến khác nhau về vấn đề này:
    - Ý kiến thứ nhất cho rằng, Bộ luật lao động từ năm 1995 đến nay (đã qua 4 lần sửa đổi) luôn duy trì nguyên tắc hòa giải là thủ tục bắt buộc đầu tiên đối với mọi tranh chấp lao động tập thể. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành trong suốt hơn 20 năm qua cho thấy hầu như chưa có vụ tranh chấp lao động tập thể nào được chính thức đưa ra giải quyết thông qua hòa giải như quy định của Bộ luật Lao động. Việc chưa có bất cứ cuộc đình công nào tuân thủ trình tự thủ tục về giải quyết tranh chấp trong Bộ luật Lao động là minh chứng thực tế cho thấy quy định hòa giải là thủ tục bắt buộc như là “con đường độc đạo” đối với mọi tranh chấp lao động tập thể là không phù hợp với thực tiễn.
    Xuất phát từ thực tiễn trên, các ý kiến này cho rằng, không nhất thiết phải quy định hòa giải là thủ tục bắt buộc đối với mọi tranh chấp lao động tập thể. Đặc biệt là đối với tranh chấp lao động tập thể về quyền (là tranh chấp thường có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng của người sử dụng lao động) thì không nên quy định hòa giải là thủ tục bắt buộc đầu tiên mà nên cho phép các bên có quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp mà họ cho là tin cậy, phù hợp nhất đối với vụ tranh chấp của mình để giải quyết, cụ thể là:
    - Khi phát sinh tranh chấp lao động tập thể về quyền, các bên có quyền quyết định lựa chọn vụ việc của mình sẽ được giải quyết thông qua hòa giải hoặc trọng tài hoặc xét xử.
    - Khi phát sinh tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, các bên tranh chấp có quyền quyết định lựa chọn việc giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải hoặc trọng tài. Tổ chức đại diện của người lao động có thể tiến hành thủ tục lấy ý kiến và thông báo trước đề đình công.
    - Ý kiến thứ hai cho rằng, cũng tương tự như đối với các tranh chấp dân sự, Bộ luật Lao động (sửa đổi) cần giữ nguyên như hiện hành, thống nhất quy định nguyên tắc mọi tranh chấp lao động đều phải bắt buộc được giải quyết thông qua hòa giải trước khi các bên tranh chấp có thể tìm kiếm các phương thức giải quyết tranh chấp khác như trọng tài, tòa án.
    Do còn ý kiến khác nhau, nên dự thảo Bộ luật đang thể hiện hai phương án về nội dung này tại Điều 202 và Điều 207.
    Trên đây là Tờ trình về dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi), Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xin kính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định./.
    (Xin gửi kèm theo: (1) Dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi; (2) Báo cáo đánh giá tác động; (3) Bản đánh giá thủ tục hành chính; (4) Báo cáo lồng ghép vấn đề bình đẳng giới; (5) Bản tổng hợp giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý; bản chụp ý kiến góp ý các bộ, ngành, địa phương; (6) Báo cáo tổng kết 03 năm thi hành Bộ luật Lao động).

    Nơi nhận:
    - Như trên;
    - Các Phó Thủ tướng (để báo cáo);
    - Các thành viên Chính phủ;
    - Văn phòng Chính phủ; Bộ TP;
    - Lưu VT, Vụ PC. BỘ TRƯỞNG


    Đào Ngọc Dung

     
THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com