Chủ nhật, ngày 30/04/2017login
không hiểu từ ngữ

Không hiểu từ đánh tháo là như thế nào

Nguyễn Quốc Thanh - góp ý cho: điều 387 20/04/2017 1:30Ý kiến hay: 2Góp ý

Cần khẩn trương đưa Bộ luật Hình sự 2015 vào cuộc sống

Không có nước nào trên thế giới luật có hiệu lực lại phát hiện hàng loạt lỗi như Việt Nam, luật không theo kịp cuộc sống.

Ý kiến hayVăn MinhGóp ý21/04/2017

Cần hình sự việc cố tình áp dụng sai Luật đất đai sang Luật quy hoạch đô thị để thu hồi đất trái pháp luật

Cần hình sự việc cố tình áp dụng sai Luật đất đai sang Luật quy hoạch đô thị để thu hồi đất trái pháp luật. Nhiều địa phương lợi dụng việc thiếu hiểu biết của người dân doanh nghiệp để lập lờ thu hồi đất như trên. Căn cứ thu hồi đất là quy hoạch sử dụng đất chứ không phải quy hoạch đô thị. Đây là nguyên nhân chính gây nên oan sai xưa nay.

Dân Oan09/04/2017 10:18Ý kiến hayGóp ý

Không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân dự

Sửa đổi Bộ luật Hình sự: Liệu còn vấn đề quan hệ dân sự trong Bộ luật Hình sự. Trên tinh thần của Chính phủ về không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự. Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2015 đang được thực hiện biên soạn, lấy ý kiến. Người viết bài này xin được nêu một vấn đề có liên quan. Tại một số Điều của Bộ luật như: Điều 220. Tội vi phạm qui định của Nhà nước về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng; Điều 222. Tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng; Điều 224. Tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng… có một nội dung tương tự nhau. Đó là việc mà gọi là gây hậu quả, được thực hiện bởi một giao kết hợp đồng, chẳng hạn giữa Chủ đầu tư và đơn vị Tư vấn. Ví dụ, liên quan đến nội dung tại Điều 222 nêu trên, Chủ đầu tư A thuê một đơn vị Tư vấn đấu thầu B (gọi tắt là Tư vấn B). Để làm công tác lựa chọn nhà thầu thực hiện một gói thầu (công việc cụ thể), như: Thiết kế bản vẽ thi công và dự toán của một công trình. Giá gói thầu hay chi phí dự kiến để nhà thầu thực hiện gói thầu là: 1.000.000.000 đồng (gói tắt: 01 tỷ đồng) – tương đương với mức thiệt hại tại khoản 3 Điều 222. Các nhà thầu tham gia đấu thầu có rất nhiều như C, D, E, F… Tư vấn đấu thầu B là đơn vị đại diện cho Chủ đầu tư lựa chọn nhà thầu tốt (một cách hợp lý) để thực hiện gói thầu trên. Theo pháp luật liên quan, chí phí thuê tư vấn đấu thầu hay giá trị hợp đồng mà Tư vấn B được nhận để thực hiện, tính tối đa theo đúng quy định, có thể là: 09 triệu đồng. Sau khi đấu thầu, lựa chọn được nhà thầu đáp ứng thực hiện gói thầu nêu trên (chẳng hạn là Nhà thầu C). Nhà thầu C là nhà thầu có năng lực, kinh nghiệm, có đội ngũ nhân viên có chứng chỉ hành nghề … đầy đủ để thực hiện công việc. Nhà thầu C sau quá trình thực hiện đã hoàn thành công việc. Sản phẩm được bàn giao cho Chủ đầu tư A. Sau khi đưa vào thi công xong, công trình được nghiệm thu, bàn giao, sử dụng. Nhà thầu C được thanh toán hợp đồng giá trị là 1 tỷ đồng như nêu trên. Tuy nhiên, vì lý do như khách quan hoặc chủ quan, công trình không thể sử dụng được ở một yếu tố quan trọng nào đó (như điều kiện địa chất thay đổi mà không thể lường trước, cơ chế chính sách thay đổi). Xét về thiệt hại, Chủ đầu tư A có thiệt hại về nhiều mặt. Như vậy, Nhà thầu C đã gây thiệt hại cho Chủ đầu tư A. Như vậy, xét liên quan của Tư vấn đấu thầu B với giá trị hợp đồng của Nhà thầu C đảm nhận là 01 tỷ đồng có thể goi là tội phạm không? Xin lưu ý, các bên Chủ đầu tư A và Tư vấn đấu thầu B đều tuân thủ các quy định pháp luật. Nhà thầu C là nhà thầu tốt nhất được lựa chọn. Nếu có nói, thì do nguyên nhân khách quan và chủ quan mà Nhà thầu C đã không làm trọn vẹn công việc được giao. Nếu như dẫn chiếu, theo khoản 3 Điều 222 Bộ luật Hình sự: “3. Phạm tội gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm”. Tư vấn B liệu có rơi vào trường hợp gây thiệt hại giá trị 1 tỷ đồng, dẫn tới bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hay không? Ở đây còn có bất hợp lý, việc giao kết hợp đồng là giữa 02 tổ chức, một tổ chức gây thiệt hại thì không thể bắt tổ chức đó bị phạt ngồi tù được. Với hợp đồng của Tư vấn đấu thầu B có giá trị 09 triệu đồng, về lý và tình, liệu có trách nhiệm đến mức khung phạt như câu hỏi nêu trên không [!?]. Mặt khác, trong pháp luật chuyên ngành, việc phạt hợp đồng tối đa với nhà thầu là 12% giá trị hợp đồng, ở đây tương đương 1,08 triệu đồng. Vậy so sánh giữa 1,08 triệu đồng và phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, thực sự đây là chênh lệch không thể so sánh. Nhìn ở khía cạnh khác, quan hệ giữa Chủ đầu tư A và Tư vấn đâu thầu C là quan hệ dân sự, giao kết dựa trên khả năng và nhu cầu của hai bên, hoàn toàn đúng pháp luật. Việc xảy ra thiệt hại cho bên nào thì cần được xử lý theo pháp luật về dân sự, trong một số Luật (như Luật Đấu thầu) được Quốc hội ban hành, cũng quy định việc này được xét xử tại Tòa án dân sự. Ngoài ra, vấn đề này còn chịu điều chỉnh của pháp luật về xử phạt hành chính. Việc hình sự hóa các vấn đề tương tự như trên, có thể dẫn tới khép những người lao động vào khung hình sự - là không thỏa đáng với những gì họ đã làm, hay được hưởng. Mặt khác, theo các chuyên gia trong các chuyên ngành, các đơn vị tư vấn bị ràng buộc và chịu sự điều chỉnh của các pháp luật chuyên ngành. Đặt biệt là điều kiện để được ký hợp đồng và việc phạt hợp đồng. Công việc tư vấn không thành công, không phải trực tiếp do bên đối tác, bởi họ đã làm đúng pháp luật, nhưng do lỗi khách quan chẳng hạn. Việc đưa vào khung phạt hình sự như tại Điều 222 lấy ví dụ ở trên sẽ dẫn tới những suy diễn không hợp lý và không công bằng. Đề nghị xem xét lại các điều khoản tương tự trong Bộ luật Hình sự, theo đúng mục tiêu soạn thảo của Bộ luật, có đánh giá tác động, có đối chiếu đến các quy định của pháp luật liên quan. Đảm bảo một trật tự xã hội, nhưng đồng thời đảm bảo phát triển kinh tế theo đúng quy luật.

Vũ Nguyên - góp ý cho: tóm tắt dự thảo 06/04/2017 1:41Ý kiến hayGóp ý

Góp ý

Nên giữ như quy định năm 1999 để tránh mâu thuẫn kỹ thuật do quy định bao quát khoản 1 chỉ căn cứ vào tính chất, mức độ nhưng các điểm lại mở rộng thêm căn cứ khung hình phạt. Điều này dẫn đến việc áp dụng đối với pháp nhân sẽ căn cứ tính chất, mức độ nào vì quy định chung tại khoản 1 đã bao hàm cả khung hình phạt tù.

Quách Tiên Phong - góp ý cho: điều 9 19/10/2016 1:17Ý kiến hayGóp ý

Về khoản 3 Điều 29 Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự

Tại Khoản 3, Điều 29, Bộ luật hình sự mới 2015 có quy định người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe... và được người bị hại hoặc người đại diện của bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Đây là điều khoản mới thể hiện tính nhân đạo khoan hồng của nhà nước ta đối với những người phạm tội mà do vô ý. Tuy nhiên, điều khoản này khi áp dụng vào thực tế sẽ dẫn đến hầu hết tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ sẽ được cơ quan tố tụng vận dụng cho miễn trách nhiệm hình sự. Bởi lẽ đa số hậu quả các vụ tai nạn giao thông là chết một người. Trong trường hợp bình thường nếu có lỗi người gây tai nạn sẽ bị áp dụng theo khoản 1 Điều 260, có khung hình phạt từ 01 đến 5 năm. Việc quy định miễn trách nhiệm hình sự như vậy là chưa phù hợp với tình hình tai nạn giao thông diễn ra nghiêm trọng hiện nay, ảnh hưởng đến tính giáo dục, phòng ngừa tội phạm. Theo quan điểm cá nhân, cần loại trừ việc miễn trách nhiệm hình sự đối với tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp làm chết từ 1 người trở lên.

Hoàng Phương Thảo - góp ý cho: điều 29 07/10/2016 5:41Ý kiến hay: 2Góp ý

Về chế định chuẩn bị phạm tội đối với tội cố ý gây thương tích

Về chế định chuẩn bị phạm tội: Việc quy định chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự là hoàn toàn phù hợp với tinh thần hiến pháp 2013 về bảo vệ quyền con người. Đối với những khách thể quan trọng đó pháp luật hình sự cần phải bảo vệ nghiêm ngặt. Tuy nhiên theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 14 về hành vi chuẩn bị phạm tội đối với tội Cố ý gây thương tích thực tế rất khó để áp dụng. Bởi lẽ, theo quy định này, người chuẩn bị phạm tội Cố ý gây thương tích thuộc khoản 3 và 4 mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Khoản 3, 4 điều kiện cần phải có là hậu quả thương tích từ 31-60%. Trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội: tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội thì bị phát hiện ngăn chặn. Hậu quả sẽ không bao giờ xảy ra. Do vậy để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chuẩn bị phạm tội Cố ý gây thương tích trên thực tế là hoàn toàn không thể thực hiện được. Hơn nữa nếu chỉ quy định khoản 3,4 mà không quy định chuẩn bị phạm tội trong các trường hợp quy định tại khoản 5, 6 sẽ dẫn đến bỏ lọt hành vi tội phạm có tính chất mức độ nghiêm trọng hơn. Theo quan điểm cá nhân, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chuẩn bị phạm tội là rất cần thiết. Tuy nhiên để áp dụng được vào thực tiễn thì nên truy cứu các hành vi có tính nguy hiểm cao như dùng hung khí, vũ khí, axit; xâm phạm đến đạo đức xã hội như: đối với ông bà cha, mẹ; đối với người thi hành công vụ; gây thương tích thuê... Do vậy cần sửa đổi đoạn 2 của điểm b khoản 2 Điều 14 thành: "2.... b)..;Điều 134, các điểm a, b, e, g, h, k, h, l,n, o khoản 1( tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác).

Hoàng Phương Thảo - góp ý cho: tóm tắt dự thảo 05/10/2016 11:46Ý kiến hay: 4Góp ý

THƯ VIỆN QUỐC HỘI - VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
Địa chỉ: 22 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội     Điện thoại: 080.46019     Fax: 080. 48278  
Email:
thuvienquochoi@qh.gov.vn | thuvienquochoi@gmail.com